Tường Duy
Không chỉ thu hút bạn đọc trên trang giấy, Chế Lan Viên còn thể hiện sức hấp dẫn đặc biệt của mình trong các buổi trò chuyện, tranh luận học thuật. Và về mặt này, ông quả là rất có lợi thế so với một số nhà văn, nhà thơ cùng thời.
Như Xuân Diệu phải nhận xét: "Tranh luận với Chế Lan Viên rất khó. Rõ ràng mình có lý mà cuối cùng lại hóa ra đuối lý với Chế Lan Viên", chính tài hùng biện đã là một trong những yếu tố khiến Chế Lan Viên được xếp vào danh sách những nhà thơ thông minh nhất Việt Nam từ trước tới nay”.
Nhân dịp kỷ niệm 90 năm ngày sinh Chế Lan Viên, ngày 19 tháng 11 vừa qua, tại hội trường số 9 Nguyễn Đình Chiểu, Hà Nội, Hội Nhà văn Việt Nam đã trang trọng tổ chức Hội thảo khoa học "Thân thế và sự nghiệp nhà thơ Chế Lan Viên".
Sinh thời, nhà thơ Chế Lan Viên từng là đại biểu Quốc hội 4 khóa liền (các khóa IV, V, VI, VII).
Và trong một kỳ họp Quốc hội, ông đã đọc tham luận "tự kiểm điểm" việc các nhà văn còn rụt rè không dám phê phán cái xấu, cái thoái hóa trong xã hội, đến độ "cho đến nay, chưa có đến hai cán bộ cấp huyện xấu được phê phán ra trò trong văn xuôi Việt Nam". Ông mong các đại biểu Quốc hội hãy "vỗ tay hoan nghênh các văn nghệ sĩ làm phận sự chuyên chính với cái xấu, không chịu hữu khuynh với cái xấu bằng tác phẩm của mình".
Bài tham luận của Chế Lan Viên đã được mọi người cổ vũ nhiệt liệt. Đặc biệt, rất nhiều đại biểu đã chia sẻ với nỗi niềm của nhà thơ khi ông cho rằng: "Có lúc, có nơi, có bạn đã nhầm cái chổi với cái rác, cho là cái chổi làm ra cái rác nữa". Có thể nói, vào thời điểm ấy (1974), tại một diễn đàn lớn, cách đặt vấn đề của Chế Lan Viên trở nên thuyết phục, thu hút mọi người không chỉ ở thái độ quyết liệt trước cái xấu của nhà thơ mà còn ở cách lập luận thông minh, cách nói hùng biện, đầy sức thuyết phục của ông.
Nhà thơ Nam Trân từng nhận xét: "Chế Lan Viên như một ông trạng khi đi sứ". Quả thực, với vốn tri thức uyên bác của mình, Chế Lan Viên đã chinh phục được nhiều bậc anh tài trên thế giới, trong đó có những người nổi tiếng là khó tính. Nhà văn Bùi Hiển từng kể, năm 1978, cùng Chế Lan Viên sang dự một cuộc tọa đàm về văn hóa ở Nam Tư, ông đã chứng kiến cảnh Chế Lan Viên ngồi cả buổi bên ấm trà say sưa tranh luận với một nhà văn Nam Tư quanh vấn đề thời sự nóng hổi về "chủ nghĩa cộng sản châu Âu".
Và trong buổi tọa đàm, Chế Lan Viên đã làm cử tọa phải thán phục bởi bài phát biểu bằng tiếng Pháp của mình, trong đó có những đoạn thật mạnh mẽ: "Có những kẻ bô bô rằng thiên hạ đại loạn, và hễ loạn càng lớn, thơ càng hay. Một loạt thơ kiểu ấy cố nhiên không cứu được thế giới và không cứu được cả thi sĩ...
Trong tâm hồn phức tạp của thi nhân, yếu tố phê bình đại diện cho tập thể, cho tiếng nói của bên ngoài, của lịch sử, tiếng nói ấy dội vang vào tâm hồn tác giả nhiều khi khép kín bịt bùng. Nếu lẫn với tiếng nói ấy lại có cả nhiều tạp âm chợ búa thì cũng chả có gì lạ cả. Nhà thơ cần có lỗ tai tinh tường mà phân biệt lấy thôi".
Từ câu chuyện trên, tôi lại nhớ tới lần Chế Lan Viên cùng đoàn cán bộ Việt Nam sang Brussels (Bỉ) năm 1979. Khi cả đoàn vừa chân ướt chân ráo tới nơi thì hay tin cách đấy chưa đầy 1km, đoàn của một nhạc sĩ người Việt đang biểu diễn, với những bài hát có nội dung công kích, thóa mạ dân tộc. Các cán bộ trong đoàn ta vừa bực tức, vừa lo ngại.
Song Chế Lan Viên đã bình tĩnh nhắn sang: "Mọi người đều tùy thích có thể yêu thương hay nguyền rủa trong đời. Nhưng Tổ quốc - Mẹ của chúng ta đang ốm. Hàng triệu trái bom của đế quốc, Mẹ đã vượt qua, nhưng một cái ho của chúng ta cũng làm hại đến sức khỏe, sinh mệnh của Mẹ".
Lời nhắn của Chế Lan Viên đã có tác dụng. Một số thành viên phái đoàn "bên kia" lấy làm hổ thẹn, phải giảm bớt sự công kích ngông cuồng. Còn các thành viên trong đoàn ta thì tấm tắc bình phẩm với nhau: "Chế Lan Viên quả như một chính khách, đi đâu cũng luôn tìm cách giữ thể diện cho nước nhà".
Không chỉ thể hiện sự quyết liệt trong những vấn đề thuộc phạm vi ứng xử, Chế Lan Viên còn đặc biệt không khoan nhượng với những trường hợp mà ông xem là lệch lạc về quan điểm chính trị cũng như học thuật. Nhà thơ, dịch giả Đào Xuân Quý từng cho hay:
Tại một hội nghị dành cho các nhà văn đảng viên tổ chức ở hội trường Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam (nay là Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, 51 Trần Hưng Đạo, Hà Nội) hồi trung tuần tháng 6/1979, trong khi hầu hết các đại biểu tán thành bản đề dẫn thì có một đại biểu tỏ thái độ bất ưng. Nhưng khi vị này "vừa mới hé ra một vài luận điệu xuyên tạc muốn chống lại đã bị Chế Lan Viên đập ngay tại chỗ, và đã được hội nghị hoàn toàn tán thưởng".
Năm 1985, trả lời phỏng vấn của Giáo sư văn học người Đức Gunter Giesenfeld về mối quan tâm lớn nhất của nhà thơ hiện nay là gì, Chế Lan Viên đã xuất sắc thỏa mãn được sự trông đợi của công chúng khi cho rằng: "Thơ tình, thơ về hoa, về cuộc đời bình thường rất cần thiết. Cần núi cao của chủ nghĩa anh hùng nhưng cần các đồng bằng của đời sống hàng ngày".
Tại một hội nghị bàn tròn về thơ ở Liên Xô (cũ), khi có hai phái nêu ý kiến khác nhau về đường lối văn nghệ của Đảng ta (với dụng ý khen - chê), Chế Lan Viên đã có cách lập luận rất giàu hình tượng và gây được ấn tượng từ cả hai phía.
Ông cho biết: "Chúng tôi sống ở một đất nước mà cái gì cũng phải tính toán, chỉ có mỗi người ba sào đất mà lại thiên tai, hạn hán... Viện trợ quốc tế đâu cho mình, đâu cho bạn, đâu là của hôm nay, đâu là của ngày mai? Ở đây nói năng cũng phải tính, cười cũng phải tính. Thơ không tính toán nhưng rồi cũng phải tính toán. Trong thơ có 4 vấn đề: cơ bản, cần thiết, có ích, dễ chịu..." và "Đảng chúng tôi lo cho viên đạn bắn đúng kẻ thù nhưng cũng lo cho người yêu hôn không nhầm người yêu. Nếu ở nhà hôn nhầm thì ngoài mặt trận nó cũng bắn nhầm".
Cũng trong cuộc bàn tròn này, dù cho biết ông yêu thơ Pháp với những Aragon, Guillevic song Chế Lan Viên cũng chê trách "thơ Pháp buồn", các nhà thơ Pháp "tả hoàng hôn thì tài nhưng tả buổi bình minh thì không bằng đứa trẻ kêu mẹ ơi mặt trời mọc" .
Gần đây, đọc tập ghi chép "Chế Lan Viên - người trồng hoa trên đá" (NXB Văn học, 2010) của GS Hà Minh Đức, tôi bắt gặp câu chuyện kể lại cuộc tranh luận khá căng thẳng về thơ ca giữa Chế Lan Viên và Xuân Diệu xung quanh việc xét trao giải thưởng văn học 15 năm: 1956 - 1972.
Nhân bàn về thơ Xuân Diệu, Chế Lan Viên có những nhận xét rất nghiêm khắc: "Anh Xuân Diệu có mấy ưu điểm: Đề tài nhiều mặt, kết hợp được trữ tình và trào phúng. Xuân Diệu có con mắt của nhà tiểu thuyết nên bài thơ có cái xác cụ thể, có cái hay của văn xuôi hỗ trợ, lửa phải có củi. Có khi Xuân Diệu chết vì củi của mình. Trong thơ hiện thực phải phục vụ cho trữ tình".
Chưa dừng ở đó, Chế Lan Viên còn cho rằng, về khả năng khái quát, Xuân Diệu "vẫn thua Huy Cận" và thơ Xuân Diệu "nặng tả cảnh", "không thiên về chiều dọc mà tỏa ngang nên chất tán nhiều". Cũng theo Chế Lan Viên, bài "Ngói mới" có ý hay, nhưng "nếu cứ thế thì thêm hàng trăm câu cũng không khác".
Mặc dù Xuân Diệu là người có khả năng lý luận không phải không sắc bén, song trước những nhận xét trên của Chế Lan Viên, ông cũng tỏ ra lúng túng, đành phải buông một câu: "Có một thực tế là trong văn chương không dễ chấp nhận nhau. Lên cao ở điểm này không sực được lên cao ở cao điểm kia... Lev Tolstoy không sực được Shakespeare".
Phải nói, đây là cách lập luận có phần... núng thế. Thì Xuân Diệu chẳng đã "than phiền" với Hà Minh Đức: "Bây giờ cậu ấy ghê quá, chứ trước kia hồi còn trẻ khi xuất bản Điêu tàn xử sự khiêm tốn". Cũng theo Xuân Diệu: "Tranh luận với Chế Lan Viên rất khó. Rõ ràng mình có lý mà cuối cùng lại hóa ra đuối lý với Chế Lan Viên".
Nhà văn Anh Đức cũng rất nể phục tài ứng đối của nhà thơ đàn anh. Trong bài hồi ức về Chế Lan Viên, ông viết: "Tài ứng đối của Chế Lan Viên thể hiện rất rõ trong các cuộc họp. Anh nói có lý lẽ, có hình ảnh, giàu sức thuyết phục. Có lần tôi nói vui với anh: Nếu ở thời vua chúa, thì thể nào anh cũng phải đi sứ. Anh Chế Lan Viên nói: Đối đáp với vua quan có khi lại không khó bằng đối đáp với số đông, mình không đoán trước được lý lẽ của đại chúng".
___________________________________________
Thứ Hai, 10 tháng 1, 2011
Thứ Sáu, 7 tháng 1, 2011
Hành trình xoá bỏ ẩn dụ* như một lối tìm đến ngôn ngữ thi ca mở
KHÁNH PHƯƠNG
Thơ Haiku Nhật Bản thế kỷ XVII không dùng lối nói bóng gió, không tìm kiếm những nét tương đồng giữa “thế giới bên trong” của con người và hiện thực “bên ngoài” để tạo ra cầu nối giữa con người với thế giới, con người với con người. Haiku dùng những biểu tượng hàm súc ứ đầy thông tin và cảm giác để khắc họa con người trong nhất thể với thế giới. Đường thi cũng rất ít xuất hiện trường hợp dùng lối nói ẩn dụ, mà bộc lộ trực tiếp ý tưởng và ưa thích liên tưởng mà không cần viện tới cái tương đồng.
Trong khi đó, lối tư duy ẩn dụ tràn ngập trong sáng tác văn chương khắp Đông và Tây phương suốt thời kỳ Trung- Cận đại, từ Kinh thi… (được xem là sáng tác dân gian?) cho đến Phaust (J. W. Von Goethe) vĩ đại hay Thần Ca… (Danté Alighieri) đều ít nhiều vay mượn cái nhìn ước lệ từ những giá trị khuôn mẫu, hoặc của tôn giáo linh ảo, hoặc của tri thức phong kiến.
Hành trình thoát khỏi những giới định về nhận thức của thi ca, để trở về với thế giới vô hạn những bí mật của tâm trí con người cũng như sự kiến tạo một ngoại cảnh, một thực tại không hề bị ngăn cản bởi những ranh giới vật chất sẵn có, cũng đồng thời là con đường tìm đến ngôn ngữ thi ca hiện đại và đương đại.
Từ lối sáng tác siêu thực, tượng trưng cho đến sự “ly khai” của ngôn ngữ hậu - hiện đại, lối viết huyền ảo hay tân - cổ điển, tất cả là những vũ khí của nhà thơ đương thời để chống lại sự sáo mòn, hạn hẹp, chống lại cách thức ước lệ biến toàn thể thế giới thành một hình ảnh ẩn dụ lớn.
Với các nhà thơ Việt, từ thế hệ sau tiền chiến đến thế hệ sau này đã có những nỗ lực đột biến về ngôn ngữ thi ca hiện đại và đương đại. Tất cả là một hành trình vô cùng khó nhọc đau thương nhưng đầy niềm vui sáng tạo để thoát khỏi những ảo tưởng hạn hẹp của cá nhân, của thời cuộc, đi tới chân trời khám phá.
Theo dấu chân những người trước tiên làm mới ngôn ngữ thi ca bắt đầu từ thời kỳ sau tiền chiến, Khánh Phương muốn tìm lại những biến đổi về thi pháp và cố gắng chỉ ra ảnh hưởng của những biến đổi ấy trong dòng chảy thơ ca tiếng Việt nói chung. Sông Hương giới thiệu cùng bạn đọc loạt bài phê bình tiểu luận về những nhà thơ có đóng góp quan trọng trong hành trình xóa bỏ ẩn dụ trong tư duy thi ca Việt thế kỷ XX. Khởi đầu là cái nhìn từ hiện tượng thơ Lưu Quang Vũ.
TỪ HIỆN TƯỢNG LƯU QUANG VŨ
Lưu Quang Vũ là trường hợp đặc biệt, khi những chuyển dịch trong sáng tạo ngôn ngữ thơ của ông đến từ biến chuyển tự nhiên của tâm thức, chứ ít có liên quan trực tiếp đến những ảnh hưởng từ sách vở**. Tiếp sau thế hệ vàng, Trần Dần, Quang Dũng, Hữu Loan, Hoàng Cầm, Đặng Đình Hưng, Văn Cao… với những cách tân âm thầm, nhẫn nại xói mòn thứ cảm thức chiếu lệ và kiểu ngôn từ sáo rỗng, áp đặt cùng thời, Lưu Quang Vũ là nhà thơ duy nhất của miền Bắc tự tìm đến những phạm vi hiện thực khác biệt sâu sắc của thơ ca, làm phát lộ những đường biên mới mẻ trong con người sáng tạo, và bước đầu khơi mở một dòng ngôn ngữ vừa mang tính siêu thực - tượng trưng, vừa tiềm ẩn những lối phá vỡ kiểu trữ tình truyền thống, đạt tới lối biểu tượng hiện đại và đương đại.
Xét trên toàn bộ văn bản thơ, mật độ dùng lại những ẩn dụ truyền thống của Lưu Quang Vũ khá nhiều, liên tục và rộng khắp. Tuy nhiên, ngay cả trong những lối dùng ẩn dụ này, cũng đã hình thành một trường giao tiếp ngôn từ đặc biệt, mà chúng ta sẽ trở lại ý tưởng này sau đây. Những biến chuyển quan trọng nhất của ngôn ngữ thơ Lưu Quang Vũ tập trung ở thời kỳ sáng tác 1970 - 1975, và đó là phạm vi khảo sát căn bản của bài viết này.
*
Bi kịch của Lưu Quang Vũ, trên góc độ con người lịch sử, là bi kịch của lý tưởng làm người bị bội phản và xúc phạm. Tuy nhiên, điều chúng ta quan tâm hơn là con người sáng tạo của ông, chi phối mọi nhân cách khác. Lưu Quang Vũ viết thơ xuất phát từ tư duy lý tưởng hóa, nhưng không có gì liên quan đến những hình mẫu áp đặt duy lý. Lý tưởng hoá của ông gần gụi với bản năng tôn giáo, xuất phát từ nhu cầu nội tại, là sự hòa nhập trong sáng của kính ngưỡng và ham muốn, vừa kiếm tìm vừa chiếm hữu, vừa từ bỏ vừa khao khát.
Đêm tối đen chiều hoang buồn tủi/ người đàn bà ấy đến bên tôi/ mắt mênh mông lặng lẽ ngón tay gầy/ giọt mưa lạnh chảy dài trên má/ ngọn đèn vàng ô kính vỡ/ con ngựa gầy phiêu bạt thảo nguyên xa/ Tôi lớn lên trong ngọn gió nhà ga/ ngọn gió dữ của rừng già khắc nghiệt/ bao giấc mộng gió đuổi về dĩ vãng/ chỉ thổi bùng nỗi nhớ về em/ bao lưỡi lê đỏ sẫm máu hoàng hôn/ tường gạch đổ bao tờ lịch nát/ tôi bôi xóa rất nhiều thề ước đẹp/ riêng với em tôi chẳng phản bao giờ/ Người đàn bà chơ vơ/ đi vòng quanh chiếc đĩa hát khổng lồ/ trong bản nhạc đợi chờ của Grich/ gương mặt đẹp chập chờn sau lọ mực/ khi âm thầm tôi viết những dòng thơ…
Điều dễ hiểu là lý tưởng làm người của Lưu Quang Vũ xuất phát từ sự lý tưởng hoá sáng tạo này, trở thành một phần sống động, không thể thiếu, trở lại lay động và thôi thúc con người sáng tạo. “Đạo đức” với Lưu Quang Vũ là sự thuần khiết của lý tưởng, là dâng hiến, nó là vấn đề của tâm hồn chứ không liên quan đến giáo lý. Chính vì thế, chưa bao giờ ông thoả hiệp*** và cũng chưa bao giờ có tiếng nói đạo đức chung với môi trường bên ngoài.
Thơ Lưu Quang Vũ tráng lệ bởi thẩm mỹ lý tưởng:
Những ban mai xanh biếc tiếng đàn bầu
Nhưng điều quan trọng nhất là không còn một dấu vết nào của thế giới luận lý, của lối hình dung mang tính luận lý. Dòng thơ trữ tình Việt truyền thống vốn là một kiểu biến tướng qua lại giữa cảm xúc và logic luận lý, nên chưa bao giờ đi được tới những lãnh địa xa xôi của tâm thức, chưa vỡ vạc những dòng chảy hình ảnh lạ lùng, cảm hứng luôn bị bó hẹp trong những mô thức trữ tình đã mòn mỏi, xơ xác, kể cả với những tên tuổi Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên thời kỳ Thơ Mới****.
Chỉ riêng đặc điểm kể trên đã đủ để xếp Lưu Quang Vũ là một trong những nhà cách tân hiện đại và đương đại sớm nhất của thơ miền Bắc.
Dòng thơ miền Bắc đương thời, tiếp nối truyền thống “thi dĩ ngôn chí” cổ văn, thừa kế rất ít những biến chuyển tư duy của Thơ Mới, coi lãnh vực đạo đức xã hội và quan hệ giữa con người là nội dung hiện thực cơ bản*****. Trong khi đó Lưu Quang Vũ, bằng tâm hồn nhạy cảm mãnh liệt đã tạo ra một thế giới thơ gây chấn động, với xáo trộn, dằn vặt, âu lo, run rẩy, sợ hãi, khao khát, mặc dầu chưa tới mức cuồng nộ, nhưng là sự vượt thoát khỏi trạng thái cân bằng tâm lý và cảm xúc thông thường.
Chính sự dao động khỏi cái ổn định mà nhận thức thông thường bị khép vào, bị buộc thừa nhận như kiểu bản thể phổ biến trong trật tự trì trệ; hé lộ cái nhìn về phần bất an, nghịch dị, nổi loạn và phóng túng trong bản chất thiên phú của con người, mà thơ Lưu Quang Vũ trở nên hấp dẫn, quyến rũ với người đọc tại nhiều thời điểm.
Ham muốn thuần khiết, sự đổ vỡ của con người đạo đức, nỗi đau đớn âm thầm là những động lực chính yếu mạnh mẽ nhất thúc đẩy Lưu Quang Vũ xóa bỏ cái thực tại vật chất, cái gọi là “hiện tại” với số đông, phiêu dạt và hành hương tới những ranh giới của tiềm thức và vô thức, hút lấy cái vô biên kỳ diệu của những biểu tượng nguyên khối, và trở về trong lối biểu đạt thơ mới mẻ.
Cũng chính nỗi dằn vặt thường xuyên của một tâm hồn chỉ được nương nhờ vào sự mênh mông và khao khát, tự ý thức của riêng nó, đã dẫn ông tới những cửa ngõ vô biên.
Tâm hồn anh dằn vặt cuộc đời anh/ Thắp một ngọn đèn hồng như ánh lửa
Cho đến thời điểm hiện tại, ít có nhà thơ Việt nào, dù đạt tới những đổi mới đáng nể về ngôn ngữ, thi pháp, có được một trực cảm mãnh liệt, phá huỷ, và nội tâm huyền ảo như Lưu Quang Vũ.
*
Cho đến thời đại Thơ Mới, những yếu tố siêu thực - tượng trưng đã xuất hiện khá rõ nét trong tư duy thơ của Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Vũ Hoàng Chương… nhưng chưa đảo lộn được nền móng ngôn ngữ cổ điển. Tương quan trung tâm của con người trong phối cảnh với thế giới khách thể, nhất là với các hình ảnh thiên nhiên, cho phép tạo ra những ẩn dụ tương đồng,một chiều, như “lệ liễu”, “nét thu”, “áo mơ phai”, “màu quan tái”, “bến nước, con đò”, “vầng trăng sẻ nửa”, “gió mây”, “bóng chim tăm cá”, “bầu rượu túi thơ”, “dặm trường”, “sóng lòng”, “hoa tường liễu ngõ”, “đài gương dấu bèo”, “con cá lá rau”… Lối ẩn dụ tương đồng này trói chặt cảm thức thi ca trong khuôn mẫu tương tác “tức cảnh sinh tình” và “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, thế giới khách thể mãi mãi là đối tượng tham chiếu một cách buồn tẻ với nội tâm con người, trong những vui buồn kiểu cảm thán, là hệ quả trực tiếp của sự kiện vật thể trong đời sống (ví dụ, đói nghèo hay chiến tranh, hay bất mãn với văn minh vật chất…).
Lặn sâu vào những giấc mơ của tiềm thức, hay tìm đến mối tương hợp của các cảm giác, làm hiển hiện thế giới trước hết ở những hình ảnh giấc mơ hay cảm giác dịch chuyển, là một cách xóa bỏ ẩn dụ đơn nhất, xóa bỏ mốitương quan đối ảnh chán ngấy giữa con người và thế giới bên ngoài, đồng thời làm hiện hình một thế giới mà hình bóng, cảm giác từ “cái bên ngoài” đang chuyển hóa thành “cái bên trong”, thành nội tâm sâu, cao, rộng thăm thẳm của con người. Tư duy siêu thực - tượng trưng làm nhòe những vùng đơn nghĩa của ngôn từ và hình ảnh, tạo ra những trường nghĩa, trường biểu cảm mạnh mẽ, lay động.
Khách thể hóa, hay thơ khách thể, cực đoan và ở cấp độ cao nhất, xóa bỏ ẩn dụ đơn nghĩa. Không còn dấu vết của đối ảnh hay sự chuyển hóa giữa “bên ngoài” - “ bên trong”, mà cái khách quan không kịp lý giải, không qua “nhận thức”, tràn vào xâm lấn chủ thể; chủ thể trữ tình theo cách gọi quen thuộc, biến thành cái liên - chủ thể, bao gồm nhiều thực tại, nhiều mối tương tác mà kinh nghiệm cá thể cũng như hoạt động tinh thần đơn lẻ của một con người (cảm xúc, trực giác, lý tính) không thể thâu tóm, định hình và trao cho các thực tại ấy một bản sắc đơn nhất. Thơ khách quan triệt để xóa bỏ “con đường vòng” ẩn dụ, đẩy ngôn ngữ thơ trở về hình thái biểu tượng ban đầu vốn tràn đầy của nó, nén chặt trong nội hàm các cấp độ thông tin khác nhau.
Thơ Lưu Quang Vũ xuất hiện cả hai yếu tố siêu thực - tượng trưng và khách thể hóa một cách dễ nhận biết, đậm đặc.
… Những ban mai xanh biếc tiếng đàn bầu
Bà hiền hậu têm trầu bên chõng nước
Em đi gặt trên cánh đồng cổ tích
Lúa bàng hoàng chín rực cả triền sông…
Hay:
Chúng ta ăn một quả dưa vàng
vào lúc mười hai giờ trưa mùa hạ nắng
nở bàng hoàng hoa tím khắp đường đi…
…Em tới làm gì có phải đúng em không
Cảng đã thêm những con tàu mới những manh buồm
con còng gió đã về với biển
hàng dương xanh lóa mắt
chiếc dù mở đến mênh mông
màu da nâu lấp loáng không trung
vầng trán bàng hoàng xa thẳm…
Dòng chảy tâm thức khái hoạt xô vỡ hoàn toàn những đập chắn của trật tự vật lý và quan sát lý tính, từ không gian, sự vật, màu sắc, đường nét, hương vị, để câu thơ trở thành cảm giác và giấc mơ thuần túy. Sự đảo lộn cảm giác về không gian là một trong những yếu tố quan trọng để sắp đặt kiểu ngôn ngữ siêu thực - tượng trưng cũng như ngôn ngữ biểu tượng trong thơ Lưu Quang Vũ. Không còn cảm giác của con người đứng trên mặt đất nhìn không gian cao hơn đang mở ra, mà là con người hiện hữu ở những độ cao khác nhau, thu hết mênh mông từ nhiều chiều
Sao em chẳng cùng anh ra cửa biển
Mùa thu cao mây trắng xóa mênh mông
Những hình dung từ, trạng từ thông thường, trong không gian thơ Lưu Quang Vũ trở thành những kết hợp đa hướng, miêu tả đồng thời tâm thức và cảm giác “ngoại giới”, mà quan trọng hơn là tạo thành một trường - cảm giác trung gian, ở đó cái “bên ngoài” và “ bên trong” cùng chia sẻ, cùng trở thành kiểu chủ thể đa dạng thức.
Cảm giác không gian của Lưu Quang Vũ, ngoại trừ với những bài thơ “phóng sự”, “ghi vội” năm 1972, và một vài trường hợp đặc biệt, cũng hạn chế tối đa miêu tả âm thanh, tiếng động, những bài còn lại gần như hoàn toàn triệt tiêu mô tả tiếng động bên ngoài cũng như cảm giác về tiếng động đó. Chỉ tồn tại âm nhạc của nội tâm vừa xô đẩy dồn nén, vừa mênh mông, mỗi lúc thêm trùng điệp, tỏa ra vô tận nhờ sự cắt đứt với âm thanh bên ngoài. Nhịp thơ Lưu Quang Vũ chưa hoàn toàn thoát khỏi vần điệu, nhưng một phần nhờ vần điệu, lại bao hàm cung cách tự do vô tận, nén chặt nội tâm, một thứ âm nhạc vô biên, “nhạc trắng” (như cách nói của A. Baricco).
Gắn liền với yếu tố không gian, lối xây dựng hình ảnh trong thơ Lưu Quang Vũ mang những đột biến về tư duy, mà phía sau nó chính là sự bí ẩn của dòng biểu tượng mà chúng ta đang quan tâm.
Sự chiếm lĩnh của những yếu tố khách thể “bất tri” vào dòng tâm thức diễn ra trên nhiều cấp độ. Yếu tố tự sự, như một cách phá vỡ dòng trữ tình cảm thán quen thuộc của thơ Việt, tràn vào thơ Lưu Quang Vũ không phải như một thực hành cố ý, mà giống như trạng thái “quá tải” của tâm thức
Nửa đêm tới thành phố lạ gặp mưa
những vòm cây cao và tối
chúng ta đã gặp nhau chúng ta đã tới đây
tất cả điều này có vẻ gì không thực
đến bây giờ anh vẫn còn kinh ngạc
Em
con tàu về cảng mưa đêm
ngã tư ngô đồng rụng lá
con sông mờ thân cầu đổ
dãy nhà hoang ống khói âm thầm
Hay:
Anh lên xứ Đoài xưa/ Ba Vì mây trắng/ nhớ mặt em gầy sau lá mưa/ Lênh đênh bến nước Trung Hà/ những chị buôn chè ngủ hè phố cũ/ con bò gầy đói cỏ/ đi trên đồng mê man/ Những pho tượng gỗ chùa Phùng/ thiêm thiếpdưới tầng lá mục/ còm cõi bà già chợ huyện/ khóc thời con gái thuốc lào say/ ông tiến sĩ giấy ngồi chắp tay/ ham rượu nên vua bỏ/ hia rách áo hồng ủ rũ/ Em mua về cho anh khuôn tượng dân gian/ anh treo lên tường/ nhìn mà thương em/ thắp một tuần nhang/ lau lại bức sơn dầu lấm bụi/ cô Kiều đàn nguyệt tặng chàng Kim/ Người họa sĩ nay giả điên/ mặc áo mưa đi lang thang/ giấy vụn lông chim dính đầy tóc bạc/ Tranh đẹp chẳng ai mua/ căn gác xép gió lùa/ họa sĩ già nằm dưới pho tượng cổ/ nghe trong đầu sóng vỗ/tiếng trẻ con thì thào/ bàng hoàng thức dậy/ ôm phích nước hát nghêu ngao/ “người đẹp trong tranh chẳng có đâu/ mong gì kỳ ngộ”/ Em đừng thương anh nữa/ anh đi lủi thủi trên đường/ đánh mất lòng tin/ tìm về bếp lửa/ xem trẻ mục đồng múa trong tượng gỗ/ những đôi vợ chồng cởi áo cho nhau/ Bài thơ không đề/ chép trên giấy bản/ em cần gì giếng lạnh/ tâm hồn anh cô quạnh dưới lòng sâu/ Ngẩng lên biền biệt mây cao/ cuộc đời thăm thẳm/ tình anh như cỏ lau/ tìm nhau trên đất vắng/ nơi ấy em về mưa sẽ tạnh/ hoa cúc vàng nở trên cánh tay
Câu thơ được lược bỏ hầu hết các tính từ, từ cảm thán, thay thế bằng những hình dung từ đa hướng, gia tăng các yếu tố thông báo, những chi tiết tự sự tỉ mỉ, tưởng như có thể kể lại theo lối văn xuôi, hoặc làm thành những sence, trường đoạn liền mạch trong điện ảnh, với đủ cả cận, trung, viễn, toàn cảnh, traveling, lia, chúc, hất…
Ở đây có thể nghĩ tới khả năng tái tạo hình ảnh rất mạnh của tưởng tượng hồi tưởng Lưu Quang Vũ, nhưng cũng có thể cả quyết hơn, hay mạo hiểm hơn, đặt vấn đề điểm nhìn khách quan (như của máy quay phim) tự quan sát những gì xảy ra bên ngoài bản thân, nhưng lại bao gồm cả chính mình tham gia, như một nhân vật trong “phim”. (Nó tương tự câu chuyện xảy ra trong giấc mơ, nhưng khác ở chỗ người nằm mộng tách ra, quan sát câu chuyện của giấc mơ, chứ không phải đang bị giam trong đó). Thực tại nhiều chiều của Lưu Quang Vũ thường được hiển hiện, hoặc nhờ ánh sáng lóa mắt, hoặc từ bóng tối bao trùm hiện dần các mảng khối, tương tự như thủ pháp hội hoạ của Rembrant
Những mái nhà lụp xụp/ những hàng cây đắm mình vào bóng tối/ chiều sương leo lét đèn dầu/ lũ trẻ ngồi quanh mâm gỗ/ lèo tèo mì luộc canh rau/ Mấy mươi năm vẫn mái tranh này/ dòng sông đen nước cạn/ tiếng loa đầu dốc lạnh/ tin chiến trận miền xa…
Nửa đêm tới thành phố lạ gặp mưa…
Có thể xem đó là thứ ánh sáng rất mạnh có sự tham gia của tiềm thức và vô thức, là lãnh địa bao hàm vùng ngoài ý thức, ý đồ cá nhân.
Tự sự khách thể hóa hoàn toàn khác với mượn hồi tưởng trữ tình để kể chuyện, theo lối của Nguyễn Nhược Pháp hay xa hơn là Nguyễn Du, Đặng Trần Côn… và về mặt tư duy, bỏ xa kiểu ghi những cảm hứng ngắn theo lối tức cảnh sinh tình, mặc dầu có thể về miêu tả văn bản thì không quá khác nhau. Tự sự khách thể hóa trong thơ không mô tả thế giới “khách quan” theo định hướng tâm lý, cảm xúc, mà chỉ thông báo, nhiều lúc khô khan, cộc lốc, nhằm loại bỏ khả năng biểu cảm thông thường, xác định (vui, buồn, hờn giận, nhớ nhung, luyến tiếc, phẫn nộ…); hướng tới chiều kích “biểu cảm” mới của cái “chủ thể”- không- xác- định, mông lung, không tham vọng nắm bắt, diễn giải, định hướng. Nó là sự chối từ đối với thực tại được nhìn bằng con mắt luận lý của trật tự sẵn có, đòi hỏi một thực tại văn chương mới. Quan trọng hơn, trần thuật khách thể trả lại cho ngôn từ tính chất biểu tượng nguyên sơ, một thời gian quá dài bị biến thành phương tiện để mô tả thông qua tu từ, mà ẩn dụ là nguyên lý căn bản. Khác với lối tư duy ẩn dụ, biểu tượng là ý nghĩa nguyên phiến, cái không thể bị xuyên tạc, đưa đẩy, thổi phồng, nén chứa nhiều nội hàm, trong đó những ẩn dụ chỉ là một phần nhỏ. Mỗi từ nguyên đều có thể trở lại là một đơn vị biểu tượng, mà tài năng của người thực hiện ngôn ngữ ở đây không còn căn cứ trên việc tạo ra những ẩn dụ mới từ cái nền những phóng chiếu sẵn có, mà dựa trên việc làm sống dậy những chiều kích khác của mỗi từ. Chưa nói tới thực hành những trò chơi ngôn ngữ, chỉ riêng việc thông báo khô khan thuần tuý, cũng là một cánh cửa Mở đối với khả năng biểu đạt vô hạn được cung cấp cho từng từ. Ví dụ, từ “biển”, khi vượt thoát khỏi ý nghĩa ẩn dụ quen thuộc, sáo mòn của “biển khổ” hay “bể ái”, tức khắc xuất hiện năng lực hàm chứa muôn vàn khả năng ngữ nghĩa khác nhau.
Sự tuôn chảy của hình ảnh thơ theo lối tự sự khách thể trong thơ Lưu Quang Vũ, tuy chưa ở mức độ hoàn toàn trả lại cho mỗi đơn vị từ tính chất biểu tượng đậm đặc, nhưng là sự bùng nổ những khả thể mới của tâm thức.
Thường xuyên trở lại trong thơ ông là trạng thái kinh hoàng, điên rồ, bất ổn và không thể lý giải, của cả cái “bên ngoài” và “bên trong”. Các hình dung từ xuất hiện với mật độ dày đặc đều biểu đạt trạng thái bất thường, nhiễu loạn, mê hoặc. Biểu tượng người điên trở đi trở lại với nhiều dạng thức:
…Thời gian như bà điên ngoài chợ Sắt
tóc trắng ôm hoa tê tái mỉm cười
đám người bán máu xanh gầy
co ro chờ ngoài cổng viện
những sự thật buồn cười mà khủng khiếp
Hay:
…Cái tuổi trẻ ồn ào mà cay cực của ta
trước ngưỡng cửa cuộc đời mênh mông khu rừng tối
vừa quyến rũ vừa phập phồng lo ngại
như anh điên trước quán tóc bù xù
cứ mỉm cười bí hiểm dõi nhìn ta…
…Chỉ anh điên vẫn đứng sững ngoài đường
Thân tiều tụỵ ôm mặt cười lặng lẽ
…Lão bán chim lưng gù râu bạc thếch
Anh kẹo bông rách rưới ngô nghê cười…
…Hồn em bé chết đuối
hồn Ophelia điên dại…
Biểu tượng người điên không còn đơn thuần là sự quy chiếu cho tính vô nghĩa của cuộc đời hay trạng thái chủ quan trượt khỏi sự kiểm soát, cân bằng. “Người điên” có thể mang nội hàm thức tỉnh hay bí mật...
Sự xuất hiện mang ý nghĩa quan trọng trong tư duy thơ của Lưu Quang Vũ thời kỳ này, biểu tượng “em”, có khi được gọi là “người đàn bà không có tên”. “Em” khác xa với đối tượng trữ tình phiếm định trong thơ truyền thống, một đối tượng giả định cho những ký thác của kiểu chủ thể truyền thống. Cũng không đơn giản là một phân thân của chính “cái tôi” nhà thơ, từ quan hệ phóng chiếu, hay còn được gọi máy móc là sự “lưỡng phân”. “Em” là một tồn tại khác, vừa được hiển hiện theo lối khách quan (Em mua về cho anh khuôn tượng dân gian), vừa đại diện cho sự hồ nghi về nhận thức (Em tới làm gì có phải đúng em không), “em” gần gũi với điều mà “cái tôi” không thể ngay lập tức nhận biết, định hình; vừa cần được nâng niu yên ủi, vừa dửng dưng thoái thác, vừa bao bọc cứu rỗi vừa hắt hủi phũ phàng. “Em” vừa thế chỗ cho sự nhận thức khách quan về “cái tôi”, còn gọi cái tôi nhìn từ một chiều kích đối lập khác, vừa là điều không thể nào nhận biết rõ ràng. “Em”hiện trong (và bao hàm) bí ẩn và hỗn độn của nhiều không gian, thời gian, nhiều kiểu thực tại khác nhau (Em/ con tàu về cảng mưa đêm/ ngã tư ngô đồng rụng lá/ con sông mờ thân cầu đổ/ dẫy nhà hoang ống khói âm thầm…/…những bài thơ ngày chưa có em/ Ngày đó em đâu mùa đông ấy mưa phùn/hắn không có vẻ gì là thuỷ thủ nhưng hắn gợi cho người ta nhớ đến biển/câu văn trong một cuốn sách cũ/ quán rượu Đô đốc Billbouve/ Vị chúa tàungồi cô đơn/ trong tuổi nhỏ…
Tương tự như vậy, mỗi biểu tượng khách thể hoá, dù không được nhắc lại nhiều lần, cũng là một chiều kích khách quan của trải nghiệm “chủ quan”: …người hoạ sĩ nay giả điên hay Người thiếu phụ đợi ai trên bậc cửa đen ngòm/ cái miệng lạnh lẽo của con quỷ nào/ đã thổi tắt nến của cô ta/ làm sao người lính biết đường về/ ăn tối trên chiếc bàn quen thuộc/ vứt súng đạn ngoài hành lang lăn lóc/ Người thiếu phụ già nua…
Trạng thái oà vỡ cảm giác khách thể, xuất phát từ chấn động nội tâm, rõ rệt, mãnh liệt, loang xa: …Anh đi bên dòng Tam Bạc/ Thuỷ triều lên thao thức/con sông giống cuộc đời anh/ Anh là chú bé nhặt than/ là ông già buông câuim lặng/ là quả dưa tròn trên khoang nắng/ là lá sú vàng trôi ở cửa sông…
Người ta có thể có cách lý giải khác yếu tố tự sự trong thơ Lưu Quang Vũ, ví dụ đó là sự “rập khuôn” bi kịch của chiến tranh hay những đổ vỡ, bất bình của đời sống, hoặc tình yêu không thoả nguyện. Tuy nhiên, dòng tâm tưởng siêu thực - tượng trưng của Lưu Quang Vũ bộc lộ ở dạng thức tràn đầy, rất khó có thể được tiếp nối bởi cảm quan “tả thực” ấu trĩ.
Loạt thơ sáng tác trong vòng những năm 1970 - 1975 của Lưu Quang Vũ ít sử dụng những ẩn dụ phổ biến với thơ ca miền Bắc đương thời. Sự dồn nén, xô lệch của nội tâm khiến nhà thơ trước hết nhìn ra mối bất hoà giữa những quy chiếu nền tảng sẵn có với thực tại - “ bên ngoài” và nội tâm
Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa/ xoá nhoà hết những điều em hứa…
…Ngã tư mưa/ oà lên vài gương mặt đẹp/ nhà cửa như quần áo rách/ xích lô lầm lụi lên cầu…
…Xứ sở mưa rào gai ngút mắt/ vải dù rách dưới máu đen
Có khi nhà thơ dùng lại hình thức của một ẩn dụ quen thuộc: Nơi ấy em về mưa sẽ tạnh/ hoa cúc vàng nở trên cánh tay, nhưng trong tương quan với dòng cảm thức siêu thực, nó không còn là ẩn dụ đơn nghĩa quy chiếu về một kết thúc tốt lành, mà mở ra vùng cảm giác xa rộng.
*
Với thơ Lưu Quang Vũ, có thể xoá bỏ đơn vị “bài thơ”, bởi nó không còn là phạm vi cảm hứng ngắn được bộc phát khơi lên từ tác động trực tiếp nào đó tới tâm thức. Toàn bộ là một dòng liền mạch của cảm giác, liên tưởng, tương hợp, khách thể hoá, trong thế giới - tâm thức mênh mông bí ẩn, đầy sự bùng nổ. Mặc dầu những loạt bài kiểu Thơ tình viết về người đàn bà không có tên hay Giờ anh như con thuyền, không phải là hiện tượng lấn át trên toàn thể văn bản, nhưng hoàn toàn có thể rút hết những nhan đề thơ trong, ví dụ, tập Bầy ong trong đêm sâu, hay phần III của Tuyển thơ Lưu Quang Vũ, Viết cho em từ cửa biển, biến nó thành một trường ca.
Không thể chối từ âm vang của cuộc đời lịch sử trong những trang viết này của Lưu Quang Vũ, nhưng nếu như có một gương mặt lịch sử của một thời nào đó hiện lên, thì nó cũng không đơn thuần và dễ dãi được cảm nhận như hiện tượng đổ vỡ, chán chường, tiêu cực (một cách riêng lẻ, lạc điệu (!)).Điều mà Lưu Quang Vũ làm hiển hiện cao lớn hơn nhiều lần một trạng thái đau.
Những điều mà nhà thơ bận tâm, cũng không có gì quá xa lạ, phi phàm -Giấc mơ người tù/ trên đá lạnh gặp bầy chim cánh trắng/ kẻ tăm tối suốt đời không ngẩng mặt/ bỗng thảnh thơi đứng dưới mặt trời/ Arlequin khổ nghèo/ thổi ống sáo dưới màn nhung đỏ thắm…, chiếm lấy quan tâm của ông là giấc mộng lớn của tâm hồn, lãnh địa mênh mông đã cho người đọc những kinh nghiệm lạ lùng đến thế, chỉ từ việc viết thơ…
KHÁNH PHƯƠNG
(261/11-10)
----------
* Ẩn dụ: Có nhiều định nghĩa về ẩn dụ, bản thân người viết bài này cũng có sự phân tích về quá trình thao tác ẩn dụ trong thơ Việt truyền thống. Chỉ xin giới thiệu một trong những định nghĩa ẩn dụ được thừa nhận phổ biến, có rút gọn, từ góc độ thực hành ngôn ngữ. Ẩn dụ là sự di chuyển của ý nghĩa. Đó là một phương pháp của ngôn ngữ, dùng thay thế cái này bằng cái khác, tạo ra nghĩa mới hoặc làm cho ta thấy rõ hơn một sự vật ở hai mặt khác nhau. Sự chuyển thể này có thể di chuyển từ một ý nghĩa trừu tượng đến một ý nghĩa cụ thể, hay là ngược lại. (Nguyễn Đức Tùng - Đọc một bài thơ như thế nào - Talawas, 2009).
**Theo đạo diễn điện ảnh Đào Trọng Khánh (Đào Nguyễn, Nguyễn, một người bạn thân của Lưu Quang Vũ từ khi còn rất trẻ, cũng là người chia sẻ nhiều về sáng tạo với nhà thơ), sau khi có đường sắt lưu thông Bắc - Nam vào năm 1976, Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh tìm kiếm được nhiều tư liệu từ các sách văn học và triết học mang khuynh hướng hiện đại - đương đại của miền Nam, và đây là nguồn ảnh hưởng chính đến tư duy văn học của hai người thời kỳ sau này. Từ 1975 trở về trước, Lưu Quang Vũ chủ yếu nhận được ảnh hưởng từ chủ nghĩa cổ điển.
***Sau năm 1975, Lưu Quang Vũ vẫn tiếp tục viết một số bài thơ, nhưng lúc này dòng thơ siêu thực - tượng trưng và khách thể hoá của thời kỳ 1970 - 1975 không còn được tiếp nối, theo đánh giá của người viết bài này. Những thành công vang dội trên sân khấu kịch là một chiều kích biểu hiện khác của sáng tạo Lưu Quang Vũ, nhưng việc dòng tư duy thơ mới mẻ của ông bỗng nhiên bị cắt đứt, còn cần phải tìm hiểu nghiêm túc, kỹ lưỡng. Một bước chuyển quan trọng trong đời sống cá nhân liên quan đến kinh nghiệm và tư duy thơ, đó là việc Lưu Quang Vũ trở lại một đời sống bình ổn, cân bằng, trong sinh hoạt thông thường. Không thể khẳng định rằng đời sống bình ổn này đã dập tắt “những giấc mơ điên rồ, những ngọn lửa không có thật” trong tâm hồn ông, bởi vì tự sâu xa Lưu Quang Vũ chưa bao giờ là một người chấp nhận thứ trật tự thô bạo của cuộc đời vật chất. Việc “sống như mọi người” chỉ gợi ý cho ta nghĩ về việc Lưu Quang Vũ tìm đến một cách bộc lộ nào gần gũi với mức cảm thụ chung của mọi người mà thôi.
****Nguyệt cầm, bài thơ được cho là giàu yếu tố siêu thực - tượng trưng của Xuân Diệu:
Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh/ Trăng thương trăng nhớ hỡi trăng ngần
Đàn buồn đàn lạnh ôi đàn chậm/ Từng giọt rơi tàn như lệ ngân
… Đêm lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời/ Đàn ghê như nước lạnh trời ơi
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận/ Trăng nhớ Tầm Dương nhạc nhớ người
Hay Huy Cận sầu vũ trụ trong Tràng giang: Nắng xuống trời lên sâu chót vót/ sông dàitrời rộng bến cô liêu
Chế Lan Viên về với thành Đồ Bàn non nước giống dân Hời, muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi, lấy ra một khúc xương rợn trắng…
Tất cả vẫn chỉ dừng ở lối hình dung bị giới hạn bởi khuôn thước vật lý và không gian cảm giác theo trật tự lý tính thông thường.
*****Những bài thơ cùng thời với thơ Lưu Quang Vũ:
Đồi trung du phơ phất bóng thông già/ Trường sơ tán hồn trong chiều lộng gió
Những trang sách suốt đời đi vẫn nhớ/ Như đám mây ngũ sắc ngủ trong đầu
Lẵng quả thông trong suối nhạc nhiệm màu/ Hay Chuyến xe đêm thầm thì mê đắm
Mùi cỏ dại trên cánh đồng xa thẳm/ Một bầu trời vĩnh viễn ướp hương hoa…
(Bằng Việt)
Hay Chẳng bao giờ anh ước đâu em/ một ngôi nhà bão dừng sau cánh cửa
(Bằng Việt); chỉ là mơ mộng hay quyết liệt trong ranh giới kiểm soát của lý trí cũng như của những ẩn dụ sẵn có.
Cho đến những năm giữa thập kỷ 90 người ta vẫn còn viết kiểu Khối buồn đâu dễ nguôi ngoai/ hào khí bên ngoài yếm khí bên trong/ Tỉnh say một búi bong bong/ nào ai chia nửa cõi lòng Bolsa… (Nguyễn Duy).
______________________________________________
Thơ Haiku Nhật Bản thế kỷ XVII không dùng lối nói bóng gió, không tìm kiếm những nét tương đồng giữa “thế giới bên trong” của con người và hiện thực “bên ngoài” để tạo ra cầu nối giữa con người với thế giới, con người với con người. Haiku dùng những biểu tượng hàm súc ứ đầy thông tin và cảm giác để khắc họa con người trong nhất thể với thế giới. Đường thi cũng rất ít xuất hiện trường hợp dùng lối nói ẩn dụ, mà bộc lộ trực tiếp ý tưởng và ưa thích liên tưởng mà không cần viện tới cái tương đồng.
Trong khi đó, lối tư duy ẩn dụ tràn ngập trong sáng tác văn chương khắp Đông và Tây phương suốt thời kỳ Trung- Cận đại, từ Kinh thi… (được xem là sáng tác dân gian?) cho đến Phaust (J. W. Von Goethe) vĩ đại hay Thần Ca… (Danté Alighieri) đều ít nhiều vay mượn cái nhìn ước lệ từ những giá trị khuôn mẫu, hoặc của tôn giáo linh ảo, hoặc của tri thức phong kiến.
Hành trình thoát khỏi những giới định về nhận thức của thi ca, để trở về với thế giới vô hạn những bí mật của tâm trí con người cũng như sự kiến tạo một ngoại cảnh, một thực tại không hề bị ngăn cản bởi những ranh giới vật chất sẵn có, cũng đồng thời là con đường tìm đến ngôn ngữ thi ca hiện đại và đương đại.
Từ lối sáng tác siêu thực, tượng trưng cho đến sự “ly khai” của ngôn ngữ hậu - hiện đại, lối viết huyền ảo hay tân - cổ điển, tất cả là những vũ khí của nhà thơ đương thời để chống lại sự sáo mòn, hạn hẹp, chống lại cách thức ước lệ biến toàn thể thế giới thành một hình ảnh ẩn dụ lớn.
Với các nhà thơ Việt, từ thế hệ sau tiền chiến đến thế hệ sau này đã có những nỗ lực đột biến về ngôn ngữ thi ca hiện đại và đương đại. Tất cả là một hành trình vô cùng khó nhọc đau thương nhưng đầy niềm vui sáng tạo để thoát khỏi những ảo tưởng hạn hẹp của cá nhân, của thời cuộc, đi tới chân trời khám phá.
Theo dấu chân những người trước tiên làm mới ngôn ngữ thi ca bắt đầu từ thời kỳ sau tiền chiến, Khánh Phương muốn tìm lại những biến đổi về thi pháp và cố gắng chỉ ra ảnh hưởng của những biến đổi ấy trong dòng chảy thơ ca tiếng Việt nói chung. Sông Hương giới thiệu cùng bạn đọc loạt bài phê bình tiểu luận về những nhà thơ có đóng góp quan trọng trong hành trình xóa bỏ ẩn dụ trong tư duy thi ca Việt thế kỷ XX. Khởi đầu là cái nhìn từ hiện tượng thơ Lưu Quang Vũ.
TỪ HIỆN TƯỢNG LƯU QUANG VŨ
Lưu Quang Vũ là trường hợp đặc biệt, khi những chuyển dịch trong sáng tạo ngôn ngữ thơ của ông đến từ biến chuyển tự nhiên của tâm thức, chứ ít có liên quan trực tiếp đến những ảnh hưởng từ sách vở**. Tiếp sau thế hệ vàng, Trần Dần, Quang Dũng, Hữu Loan, Hoàng Cầm, Đặng Đình Hưng, Văn Cao… với những cách tân âm thầm, nhẫn nại xói mòn thứ cảm thức chiếu lệ và kiểu ngôn từ sáo rỗng, áp đặt cùng thời, Lưu Quang Vũ là nhà thơ duy nhất của miền Bắc tự tìm đến những phạm vi hiện thực khác biệt sâu sắc của thơ ca, làm phát lộ những đường biên mới mẻ trong con người sáng tạo, và bước đầu khơi mở một dòng ngôn ngữ vừa mang tính siêu thực - tượng trưng, vừa tiềm ẩn những lối phá vỡ kiểu trữ tình truyền thống, đạt tới lối biểu tượng hiện đại và đương đại.
Xét trên toàn bộ văn bản thơ, mật độ dùng lại những ẩn dụ truyền thống của Lưu Quang Vũ khá nhiều, liên tục và rộng khắp. Tuy nhiên, ngay cả trong những lối dùng ẩn dụ này, cũng đã hình thành một trường giao tiếp ngôn từ đặc biệt, mà chúng ta sẽ trở lại ý tưởng này sau đây. Những biến chuyển quan trọng nhất của ngôn ngữ thơ Lưu Quang Vũ tập trung ở thời kỳ sáng tác 1970 - 1975, và đó là phạm vi khảo sát căn bản của bài viết này.
*
Bi kịch của Lưu Quang Vũ, trên góc độ con người lịch sử, là bi kịch của lý tưởng làm người bị bội phản và xúc phạm. Tuy nhiên, điều chúng ta quan tâm hơn là con người sáng tạo của ông, chi phối mọi nhân cách khác. Lưu Quang Vũ viết thơ xuất phát từ tư duy lý tưởng hóa, nhưng không có gì liên quan đến những hình mẫu áp đặt duy lý. Lý tưởng hoá của ông gần gụi với bản năng tôn giáo, xuất phát từ nhu cầu nội tại, là sự hòa nhập trong sáng của kính ngưỡng và ham muốn, vừa kiếm tìm vừa chiếm hữu, vừa từ bỏ vừa khao khát.
Đêm tối đen chiều hoang buồn tủi/ người đàn bà ấy đến bên tôi/ mắt mênh mông lặng lẽ ngón tay gầy/ giọt mưa lạnh chảy dài trên má/ ngọn đèn vàng ô kính vỡ/ con ngựa gầy phiêu bạt thảo nguyên xa/ Tôi lớn lên trong ngọn gió nhà ga/ ngọn gió dữ của rừng già khắc nghiệt/ bao giấc mộng gió đuổi về dĩ vãng/ chỉ thổi bùng nỗi nhớ về em/ bao lưỡi lê đỏ sẫm máu hoàng hôn/ tường gạch đổ bao tờ lịch nát/ tôi bôi xóa rất nhiều thề ước đẹp/ riêng với em tôi chẳng phản bao giờ/ Người đàn bà chơ vơ/ đi vòng quanh chiếc đĩa hát khổng lồ/ trong bản nhạc đợi chờ của Grich/ gương mặt đẹp chập chờn sau lọ mực/ khi âm thầm tôi viết những dòng thơ…
Điều dễ hiểu là lý tưởng làm người của Lưu Quang Vũ xuất phát từ sự lý tưởng hoá sáng tạo này, trở thành một phần sống động, không thể thiếu, trở lại lay động và thôi thúc con người sáng tạo. “Đạo đức” với Lưu Quang Vũ là sự thuần khiết của lý tưởng, là dâng hiến, nó là vấn đề của tâm hồn chứ không liên quan đến giáo lý. Chính vì thế, chưa bao giờ ông thoả hiệp*** và cũng chưa bao giờ có tiếng nói đạo đức chung với môi trường bên ngoài.
Thơ Lưu Quang Vũ tráng lệ bởi thẩm mỹ lý tưởng:
Những ban mai xanh biếc tiếng đàn bầu
Nhưng điều quan trọng nhất là không còn một dấu vết nào của thế giới luận lý, của lối hình dung mang tính luận lý. Dòng thơ trữ tình Việt truyền thống vốn là một kiểu biến tướng qua lại giữa cảm xúc và logic luận lý, nên chưa bao giờ đi được tới những lãnh địa xa xôi của tâm thức, chưa vỡ vạc những dòng chảy hình ảnh lạ lùng, cảm hứng luôn bị bó hẹp trong những mô thức trữ tình đã mòn mỏi, xơ xác, kể cả với những tên tuổi Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên thời kỳ Thơ Mới****.
Chỉ riêng đặc điểm kể trên đã đủ để xếp Lưu Quang Vũ là một trong những nhà cách tân hiện đại và đương đại sớm nhất của thơ miền Bắc.
Dòng thơ miền Bắc đương thời, tiếp nối truyền thống “thi dĩ ngôn chí” cổ văn, thừa kế rất ít những biến chuyển tư duy của Thơ Mới, coi lãnh vực đạo đức xã hội và quan hệ giữa con người là nội dung hiện thực cơ bản*****. Trong khi đó Lưu Quang Vũ, bằng tâm hồn nhạy cảm mãnh liệt đã tạo ra một thế giới thơ gây chấn động, với xáo trộn, dằn vặt, âu lo, run rẩy, sợ hãi, khao khát, mặc dầu chưa tới mức cuồng nộ, nhưng là sự vượt thoát khỏi trạng thái cân bằng tâm lý và cảm xúc thông thường.
Chính sự dao động khỏi cái ổn định mà nhận thức thông thường bị khép vào, bị buộc thừa nhận như kiểu bản thể phổ biến trong trật tự trì trệ; hé lộ cái nhìn về phần bất an, nghịch dị, nổi loạn và phóng túng trong bản chất thiên phú của con người, mà thơ Lưu Quang Vũ trở nên hấp dẫn, quyến rũ với người đọc tại nhiều thời điểm.
Ham muốn thuần khiết, sự đổ vỡ của con người đạo đức, nỗi đau đớn âm thầm là những động lực chính yếu mạnh mẽ nhất thúc đẩy Lưu Quang Vũ xóa bỏ cái thực tại vật chất, cái gọi là “hiện tại” với số đông, phiêu dạt và hành hương tới những ranh giới của tiềm thức và vô thức, hút lấy cái vô biên kỳ diệu của những biểu tượng nguyên khối, và trở về trong lối biểu đạt thơ mới mẻ.
Cũng chính nỗi dằn vặt thường xuyên của một tâm hồn chỉ được nương nhờ vào sự mênh mông và khao khát, tự ý thức của riêng nó, đã dẫn ông tới những cửa ngõ vô biên.
Tâm hồn anh dằn vặt cuộc đời anh/ Thắp một ngọn đèn hồng như ánh lửa
Cho đến thời điểm hiện tại, ít có nhà thơ Việt nào, dù đạt tới những đổi mới đáng nể về ngôn ngữ, thi pháp, có được một trực cảm mãnh liệt, phá huỷ, và nội tâm huyền ảo như Lưu Quang Vũ.
*
Cho đến thời đại Thơ Mới, những yếu tố siêu thực - tượng trưng đã xuất hiện khá rõ nét trong tư duy thơ của Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Vũ Hoàng Chương… nhưng chưa đảo lộn được nền móng ngôn ngữ cổ điển. Tương quan trung tâm của con người trong phối cảnh với thế giới khách thể, nhất là với các hình ảnh thiên nhiên, cho phép tạo ra những ẩn dụ tương đồng,một chiều, như “lệ liễu”, “nét thu”, “áo mơ phai”, “màu quan tái”, “bến nước, con đò”, “vầng trăng sẻ nửa”, “gió mây”, “bóng chim tăm cá”, “bầu rượu túi thơ”, “dặm trường”, “sóng lòng”, “hoa tường liễu ngõ”, “đài gương dấu bèo”, “con cá lá rau”… Lối ẩn dụ tương đồng này trói chặt cảm thức thi ca trong khuôn mẫu tương tác “tức cảnh sinh tình” và “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, thế giới khách thể mãi mãi là đối tượng tham chiếu một cách buồn tẻ với nội tâm con người, trong những vui buồn kiểu cảm thán, là hệ quả trực tiếp của sự kiện vật thể trong đời sống (ví dụ, đói nghèo hay chiến tranh, hay bất mãn với văn minh vật chất…).
Lặn sâu vào những giấc mơ của tiềm thức, hay tìm đến mối tương hợp của các cảm giác, làm hiển hiện thế giới trước hết ở những hình ảnh giấc mơ hay cảm giác dịch chuyển, là một cách xóa bỏ ẩn dụ đơn nhất, xóa bỏ mốitương quan đối ảnh chán ngấy giữa con người và thế giới bên ngoài, đồng thời làm hiện hình một thế giới mà hình bóng, cảm giác từ “cái bên ngoài” đang chuyển hóa thành “cái bên trong”, thành nội tâm sâu, cao, rộng thăm thẳm của con người. Tư duy siêu thực - tượng trưng làm nhòe những vùng đơn nghĩa của ngôn từ và hình ảnh, tạo ra những trường nghĩa, trường biểu cảm mạnh mẽ, lay động.
Khách thể hóa, hay thơ khách thể, cực đoan và ở cấp độ cao nhất, xóa bỏ ẩn dụ đơn nghĩa. Không còn dấu vết của đối ảnh hay sự chuyển hóa giữa “bên ngoài” - “ bên trong”, mà cái khách quan không kịp lý giải, không qua “nhận thức”, tràn vào xâm lấn chủ thể; chủ thể trữ tình theo cách gọi quen thuộc, biến thành cái liên - chủ thể, bao gồm nhiều thực tại, nhiều mối tương tác mà kinh nghiệm cá thể cũng như hoạt động tinh thần đơn lẻ của một con người (cảm xúc, trực giác, lý tính) không thể thâu tóm, định hình và trao cho các thực tại ấy một bản sắc đơn nhất. Thơ khách quan triệt để xóa bỏ “con đường vòng” ẩn dụ, đẩy ngôn ngữ thơ trở về hình thái biểu tượng ban đầu vốn tràn đầy của nó, nén chặt trong nội hàm các cấp độ thông tin khác nhau.
Thơ Lưu Quang Vũ xuất hiện cả hai yếu tố siêu thực - tượng trưng và khách thể hóa một cách dễ nhận biết, đậm đặc.
… Những ban mai xanh biếc tiếng đàn bầu
Bà hiền hậu têm trầu bên chõng nước
Em đi gặt trên cánh đồng cổ tích
Lúa bàng hoàng chín rực cả triền sông…
Hay:
Chúng ta ăn một quả dưa vàng
vào lúc mười hai giờ trưa mùa hạ nắng
nở bàng hoàng hoa tím khắp đường đi…
…Em tới làm gì có phải đúng em không
Cảng đã thêm những con tàu mới những manh buồm
con còng gió đã về với biển
hàng dương xanh lóa mắt
chiếc dù mở đến mênh mông
màu da nâu lấp loáng không trung
vầng trán bàng hoàng xa thẳm…
Dòng chảy tâm thức khái hoạt xô vỡ hoàn toàn những đập chắn của trật tự vật lý và quan sát lý tính, từ không gian, sự vật, màu sắc, đường nét, hương vị, để câu thơ trở thành cảm giác và giấc mơ thuần túy. Sự đảo lộn cảm giác về không gian là một trong những yếu tố quan trọng để sắp đặt kiểu ngôn ngữ siêu thực - tượng trưng cũng như ngôn ngữ biểu tượng trong thơ Lưu Quang Vũ. Không còn cảm giác của con người đứng trên mặt đất nhìn không gian cao hơn đang mở ra, mà là con người hiện hữu ở những độ cao khác nhau, thu hết mênh mông từ nhiều chiều
Sao em chẳng cùng anh ra cửa biển
Mùa thu cao mây trắng xóa mênh mông
Những hình dung từ, trạng từ thông thường, trong không gian thơ Lưu Quang Vũ trở thành những kết hợp đa hướng, miêu tả đồng thời tâm thức và cảm giác “ngoại giới”, mà quan trọng hơn là tạo thành một trường - cảm giác trung gian, ở đó cái “bên ngoài” và “ bên trong” cùng chia sẻ, cùng trở thành kiểu chủ thể đa dạng thức.
Cảm giác không gian của Lưu Quang Vũ, ngoại trừ với những bài thơ “phóng sự”, “ghi vội” năm 1972, và một vài trường hợp đặc biệt, cũng hạn chế tối đa miêu tả âm thanh, tiếng động, những bài còn lại gần như hoàn toàn triệt tiêu mô tả tiếng động bên ngoài cũng như cảm giác về tiếng động đó. Chỉ tồn tại âm nhạc của nội tâm vừa xô đẩy dồn nén, vừa mênh mông, mỗi lúc thêm trùng điệp, tỏa ra vô tận nhờ sự cắt đứt với âm thanh bên ngoài. Nhịp thơ Lưu Quang Vũ chưa hoàn toàn thoát khỏi vần điệu, nhưng một phần nhờ vần điệu, lại bao hàm cung cách tự do vô tận, nén chặt nội tâm, một thứ âm nhạc vô biên, “nhạc trắng” (như cách nói của A. Baricco).
Gắn liền với yếu tố không gian, lối xây dựng hình ảnh trong thơ Lưu Quang Vũ mang những đột biến về tư duy, mà phía sau nó chính là sự bí ẩn của dòng biểu tượng mà chúng ta đang quan tâm.
Sự chiếm lĩnh của những yếu tố khách thể “bất tri” vào dòng tâm thức diễn ra trên nhiều cấp độ. Yếu tố tự sự, như một cách phá vỡ dòng trữ tình cảm thán quen thuộc của thơ Việt, tràn vào thơ Lưu Quang Vũ không phải như một thực hành cố ý, mà giống như trạng thái “quá tải” của tâm thức
Nửa đêm tới thành phố lạ gặp mưa
những vòm cây cao và tối
chúng ta đã gặp nhau chúng ta đã tới đây
tất cả điều này có vẻ gì không thực
đến bây giờ anh vẫn còn kinh ngạc
Em
con tàu về cảng mưa đêm
ngã tư ngô đồng rụng lá
con sông mờ thân cầu đổ
dãy nhà hoang ống khói âm thầm
Hay:
Anh lên xứ Đoài xưa/ Ba Vì mây trắng/ nhớ mặt em gầy sau lá mưa/ Lênh đênh bến nước Trung Hà/ những chị buôn chè ngủ hè phố cũ/ con bò gầy đói cỏ/ đi trên đồng mê man/ Những pho tượng gỗ chùa Phùng/ thiêm thiếpdưới tầng lá mục/ còm cõi bà già chợ huyện/ khóc thời con gái thuốc lào say/ ông tiến sĩ giấy ngồi chắp tay/ ham rượu nên vua bỏ/ hia rách áo hồng ủ rũ/ Em mua về cho anh khuôn tượng dân gian/ anh treo lên tường/ nhìn mà thương em/ thắp một tuần nhang/ lau lại bức sơn dầu lấm bụi/ cô Kiều đàn nguyệt tặng chàng Kim/ Người họa sĩ nay giả điên/ mặc áo mưa đi lang thang/ giấy vụn lông chim dính đầy tóc bạc/ Tranh đẹp chẳng ai mua/ căn gác xép gió lùa/ họa sĩ già nằm dưới pho tượng cổ/ nghe trong đầu sóng vỗ/tiếng trẻ con thì thào/ bàng hoàng thức dậy/ ôm phích nước hát nghêu ngao/ “người đẹp trong tranh chẳng có đâu/ mong gì kỳ ngộ”/ Em đừng thương anh nữa/ anh đi lủi thủi trên đường/ đánh mất lòng tin/ tìm về bếp lửa/ xem trẻ mục đồng múa trong tượng gỗ/ những đôi vợ chồng cởi áo cho nhau/ Bài thơ không đề/ chép trên giấy bản/ em cần gì giếng lạnh/ tâm hồn anh cô quạnh dưới lòng sâu/ Ngẩng lên biền biệt mây cao/ cuộc đời thăm thẳm/ tình anh như cỏ lau/ tìm nhau trên đất vắng/ nơi ấy em về mưa sẽ tạnh/ hoa cúc vàng nở trên cánh tay
Câu thơ được lược bỏ hầu hết các tính từ, từ cảm thán, thay thế bằng những hình dung từ đa hướng, gia tăng các yếu tố thông báo, những chi tiết tự sự tỉ mỉ, tưởng như có thể kể lại theo lối văn xuôi, hoặc làm thành những sence, trường đoạn liền mạch trong điện ảnh, với đủ cả cận, trung, viễn, toàn cảnh, traveling, lia, chúc, hất…
Ở đây có thể nghĩ tới khả năng tái tạo hình ảnh rất mạnh của tưởng tượng hồi tưởng Lưu Quang Vũ, nhưng cũng có thể cả quyết hơn, hay mạo hiểm hơn, đặt vấn đề điểm nhìn khách quan (như của máy quay phim) tự quan sát những gì xảy ra bên ngoài bản thân, nhưng lại bao gồm cả chính mình tham gia, như một nhân vật trong “phim”. (Nó tương tự câu chuyện xảy ra trong giấc mơ, nhưng khác ở chỗ người nằm mộng tách ra, quan sát câu chuyện của giấc mơ, chứ không phải đang bị giam trong đó). Thực tại nhiều chiều của Lưu Quang Vũ thường được hiển hiện, hoặc nhờ ánh sáng lóa mắt, hoặc từ bóng tối bao trùm hiện dần các mảng khối, tương tự như thủ pháp hội hoạ của Rembrant
Những mái nhà lụp xụp/ những hàng cây đắm mình vào bóng tối/ chiều sương leo lét đèn dầu/ lũ trẻ ngồi quanh mâm gỗ/ lèo tèo mì luộc canh rau/ Mấy mươi năm vẫn mái tranh này/ dòng sông đen nước cạn/ tiếng loa đầu dốc lạnh/ tin chiến trận miền xa…
Nửa đêm tới thành phố lạ gặp mưa…
Có thể xem đó là thứ ánh sáng rất mạnh có sự tham gia của tiềm thức và vô thức, là lãnh địa bao hàm vùng ngoài ý thức, ý đồ cá nhân.
Tự sự khách thể hóa hoàn toàn khác với mượn hồi tưởng trữ tình để kể chuyện, theo lối của Nguyễn Nhược Pháp hay xa hơn là Nguyễn Du, Đặng Trần Côn… và về mặt tư duy, bỏ xa kiểu ghi những cảm hứng ngắn theo lối tức cảnh sinh tình, mặc dầu có thể về miêu tả văn bản thì không quá khác nhau. Tự sự khách thể hóa trong thơ không mô tả thế giới “khách quan” theo định hướng tâm lý, cảm xúc, mà chỉ thông báo, nhiều lúc khô khan, cộc lốc, nhằm loại bỏ khả năng biểu cảm thông thường, xác định (vui, buồn, hờn giận, nhớ nhung, luyến tiếc, phẫn nộ…); hướng tới chiều kích “biểu cảm” mới của cái “chủ thể”- không- xác- định, mông lung, không tham vọng nắm bắt, diễn giải, định hướng. Nó là sự chối từ đối với thực tại được nhìn bằng con mắt luận lý của trật tự sẵn có, đòi hỏi một thực tại văn chương mới. Quan trọng hơn, trần thuật khách thể trả lại cho ngôn từ tính chất biểu tượng nguyên sơ, một thời gian quá dài bị biến thành phương tiện để mô tả thông qua tu từ, mà ẩn dụ là nguyên lý căn bản. Khác với lối tư duy ẩn dụ, biểu tượng là ý nghĩa nguyên phiến, cái không thể bị xuyên tạc, đưa đẩy, thổi phồng, nén chứa nhiều nội hàm, trong đó những ẩn dụ chỉ là một phần nhỏ. Mỗi từ nguyên đều có thể trở lại là một đơn vị biểu tượng, mà tài năng của người thực hiện ngôn ngữ ở đây không còn căn cứ trên việc tạo ra những ẩn dụ mới từ cái nền những phóng chiếu sẵn có, mà dựa trên việc làm sống dậy những chiều kích khác của mỗi từ. Chưa nói tới thực hành những trò chơi ngôn ngữ, chỉ riêng việc thông báo khô khan thuần tuý, cũng là một cánh cửa Mở đối với khả năng biểu đạt vô hạn được cung cấp cho từng từ. Ví dụ, từ “biển”, khi vượt thoát khỏi ý nghĩa ẩn dụ quen thuộc, sáo mòn của “biển khổ” hay “bể ái”, tức khắc xuất hiện năng lực hàm chứa muôn vàn khả năng ngữ nghĩa khác nhau.
Sự tuôn chảy của hình ảnh thơ theo lối tự sự khách thể trong thơ Lưu Quang Vũ, tuy chưa ở mức độ hoàn toàn trả lại cho mỗi đơn vị từ tính chất biểu tượng đậm đặc, nhưng là sự bùng nổ những khả thể mới của tâm thức.
Thường xuyên trở lại trong thơ ông là trạng thái kinh hoàng, điên rồ, bất ổn và không thể lý giải, của cả cái “bên ngoài” và “bên trong”. Các hình dung từ xuất hiện với mật độ dày đặc đều biểu đạt trạng thái bất thường, nhiễu loạn, mê hoặc. Biểu tượng người điên trở đi trở lại với nhiều dạng thức:
…Thời gian như bà điên ngoài chợ Sắt
tóc trắng ôm hoa tê tái mỉm cười
đám người bán máu xanh gầy
co ro chờ ngoài cổng viện
những sự thật buồn cười mà khủng khiếp
Hay:
…Cái tuổi trẻ ồn ào mà cay cực của ta
trước ngưỡng cửa cuộc đời mênh mông khu rừng tối
vừa quyến rũ vừa phập phồng lo ngại
như anh điên trước quán tóc bù xù
cứ mỉm cười bí hiểm dõi nhìn ta…
…Chỉ anh điên vẫn đứng sững ngoài đường
Thân tiều tụỵ ôm mặt cười lặng lẽ
…Lão bán chim lưng gù râu bạc thếch
Anh kẹo bông rách rưới ngô nghê cười…
…Hồn em bé chết đuối
hồn Ophelia điên dại…
Biểu tượng người điên không còn đơn thuần là sự quy chiếu cho tính vô nghĩa của cuộc đời hay trạng thái chủ quan trượt khỏi sự kiểm soát, cân bằng. “Người điên” có thể mang nội hàm thức tỉnh hay bí mật...
Sự xuất hiện mang ý nghĩa quan trọng trong tư duy thơ của Lưu Quang Vũ thời kỳ này, biểu tượng “em”, có khi được gọi là “người đàn bà không có tên”. “Em” khác xa với đối tượng trữ tình phiếm định trong thơ truyền thống, một đối tượng giả định cho những ký thác của kiểu chủ thể truyền thống. Cũng không đơn giản là một phân thân của chính “cái tôi” nhà thơ, từ quan hệ phóng chiếu, hay còn được gọi máy móc là sự “lưỡng phân”. “Em” là một tồn tại khác, vừa được hiển hiện theo lối khách quan (Em mua về cho anh khuôn tượng dân gian), vừa đại diện cho sự hồ nghi về nhận thức (Em tới làm gì có phải đúng em không), “em” gần gũi với điều mà “cái tôi” không thể ngay lập tức nhận biết, định hình; vừa cần được nâng niu yên ủi, vừa dửng dưng thoái thác, vừa bao bọc cứu rỗi vừa hắt hủi phũ phàng. “Em” vừa thế chỗ cho sự nhận thức khách quan về “cái tôi”, còn gọi cái tôi nhìn từ một chiều kích đối lập khác, vừa là điều không thể nào nhận biết rõ ràng. “Em”hiện trong (và bao hàm) bí ẩn và hỗn độn của nhiều không gian, thời gian, nhiều kiểu thực tại khác nhau (Em/ con tàu về cảng mưa đêm/ ngã tư ngô đồng rụng lá/ con sông mờ thân cầu đổ/ dẫy nhà hoang ống khói âm thầm…/…những bài thơ ngày chưa có em/ Ngày đó em đâu mùa đông ấy mưa phùn/hắn không có vẻ gì là thuỷ thủ nhưng hắn gợi cho người ta nhớ đến biển/câu văn trong một cuốn sách cũ/ quán rượu Đô đốc Billbouve/ Vị chúa tàungồi cô đơn/ trong tuổi nhỏ…
Tương tự như vậy, mỗi biểu tượng khách thể hoá, dù không được nhắc lại nhiều lần, cũng là một chiều kích khách quan của trải nghiệm “chủ quan”: …người hoạ sĩ nay giả điên hay Người thiếu phụ đợi ai trên bậc cửa đen ngòm/ cái miệng lạnh lẽo của con quỷ nào/ đã thổi tắt nến của cô ta/ làm sao người lính biết đường về/ ăn tối trên chiếc bàn quen thuộc/ vứt súng đạn ngoài hành lang lăn lóc/ Người thiếu phụ già nua…
Trạng thái oà vỡ cảm giác khách thể, xuất phát từ chấn động nội tâm, rõ rệt, mãnh liệt, loang xa: …Anh đi bên dòng Tam Bạc/ Thuỷ triều lên thao thức/con sông giống cuộc đời anh/ Anh là chú bé nhặt than/ là ông già buông câuim lặng/ là quả dưa tròn trên khoang nắng/ là lá sú vàng trôi ở cửa sông…
Người ta có thể có cách lý giải khác yếu tố tự sự trong thơ Lưu Quang Vũ, ví dụ đó là sự “rập khuôn” bi kịch của chiến tranh hay những đổ vỡ, bất bình của đời sống, hoặc tình yêu không thoả nguyện. Tuy nhiên, dòng tâm tưởng siêu thực - tượng trưng của Lưu Quang Vũ bộc lộ ở dạng thức tràn đầy, rất khó có thể được tiếp nối bởi cảm quan “tả thực” ấu trĩ.
Loạt thơ sáng tác trong vòng những năm 1970 - 1975 của Lưu Quang Vũ ít sử dụng những ẩn dụ phổ biến với thơ ca miền Bắc đương thời. Sự dồn nén, xô lệch của nội tâm khiến nhà thơ trước hết nhìn ra mối bất hoà giữa những quy chiếu nền tảng sẵn có với thực tại - “ bên ngoài” và nội tâm
Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa/ xoá nhoà hết những điều em hứa…
…Ngã tư mưa/ oà lên vài gương mặt đẹp/ nhà cửa như quần áo rách/ xích lô lầm lụi lên cầu…
…Xứ sở mưa rào gai ngút mắt/ vải dù rách dưới máu đen
Có khi nhà thơ dùng lại hình thức của một ẩn dụ quen thuộc: Nơi ấy em về mưa sẽ tạnh/ hoa cúc vàng nở trên cánh tay, nhưng trong tương quan với dòng cảm thức siêu thực, nó không còn là ẩn dụ đơn nghĩa quy chiếu về một kết thúc tốt lành, mà mở ra vùng cảm giác xa rộng.
*
Với thơ Lưu Quang Vũ, có thể xoá bỏ đơn vị “bài thơ”, bởi nó không còn là phạm vi cảm hứng ngắn được bộc phát khơi lên từ tác động trực tiếp nào đó tới tâm thức. Toàn bộ là một dòng liền mạch của cảm giác, liên tưởng, tương hợp, khách thể hoá, trong thế giới - tâm thức mênh mông bí ẩn, đầy sự bùng nổ. Mặc dầu những loạt bài kiểu Thơ tình viết về người đàn bà không có tên hay Giờ anh như con thuyền, không phải là hiện tượng lấn át trên toàn thể văn bản, nhưng hoàn toàn có thể rút hết những nhan đề thơ trong, ví dụ, tập Bầy ong trong đêm sâu, hay phần III của Tuyển thơ Lưu Quang Vũ, Viết cho em từ cửa biển, biến nó thành một trường ca.
Không thể chối từ âm vang của cuộc đời lịch sử trong những trang viết này của Lưu Quang Vũ, nhưng nếu như có một gương mặt lịch sử của một thời nào đó hiện lên, thì nó cũng không đơn thuần và dễ dãi được cảm nhận như hiện tượng đổ vỡ, chán chường, tiêu cực (một cách riêng lẻ, lạc điệu (!)).Điều mà Lưu Quang Vũ làm hiển hiện cao lớn hơn nhiều lần một trạng thái đau.
Những điều mà nhà thơ bận tâm, cũng không có gì quá xa lạ, phi phàm -Giấc mơ người tù/ trên đá lạnh gặp bầy chim cánh trắng/ kẻ tăm tối suốt đời không ngẩng mặt/ bỗng thảnh thơi đứng dưới mặt trời/ Arlequin khổ nghèo/ thổi ống sáo dưới màn nhung đỏ thắm…, chiếm lấy quan tâm của ông là giấc mộng lớn của tâm hồn, lãnh địa mênh mông đã cho người đọc những kinh nghiệm lạ lùng đến thế, chỉ từ việc viết thơ…
KHÁNH PHƯƠNG
(261/11-10)
----------
* Ẩn dụ: Có nhiều định nghĩa về ẩn dụ, bản thân người viết bài này cũng có sự phân tích về quá trình thao tác ẩn dụ trong thơ Việt truyền thống. Chỉ xin giới thiệu một trong những định nghĩa ẩn dụ được thừa nhận phổ biến, có rút gọn, từ góc độ thực hành ngôn ngữ. Ẩn dụ là sự di chuyển của ý nghĩa. Đó là một phương pháp của ngôn ngữ, dùng thay thế cái này bằng cái khác, tạo ra nghĩa mới hoặc làm cho ta thấy rõ hơn một sự vật ở hai mặt khác nhau. Sự chuyển thể này có thể di chuyển từ một ý nghĩa trừu tượng đến một ý nghĩa cụ thể, hay là ngược lại. (Nguyễn Đức Tùng - Đọc một bài thơ như thế nào - Talawas, 2009).
**Theo đạo diễn điện ảnh Đào Trọng Khánh (Đào Nguyễn, Nguyễn, một người bạn thân của Lưu Quang Vũ từ khi còn rất trẻ, cũng là người chia sẻ nhiều về sáng tạo với nhà thơ), sau khi có đường sắt lưu thông Bắc - Nam vào năm 1976, Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh tìm kiếm được nhiều tư liệu từ các sách văn học và triết học mang khuynh hướng hiện đại - đương đại của miền Nam, và đây là nguồn ảnh hưởng chính đến tư duy văn học của hai người thời kỳ sau này. Từ 1975 trở về trước, Lưu Quang Vũ chủ yếu nhận được ảnh hưởng từ chủ nghĩa cổ điển.
***Sau năm 1975, Lưu Quang Vũ vẫn tiếp tục viết một số bài thơ, nhưng lúc này dòng thơ siêu thực - tượng trưng và khách thể hoá của thời kỳ 1970 - 1975 không còn được tiếp nối, theo đánh giá của người viết bài này. Những thành công vang dội trên sân khấu kịch là một chiều kích biểu hiện khác của sáng tạo Lưu Quang Vũ, nhưng việc dòng tư duy thơ mới mẻ của ông bỗng nhiên bị cắt đứt, còn cần phải tìm hiểu nghiêm túc, kỹ lưỡng. Một bước chuyển quan trọng trong đời sống cá nhân liên quan đến kinh nghiệm và tư duy thơ, đó là việc Lưu Quang Vũ trở lại một đời sống bình ổn, cân bằng, trong sinh hoạt thông thường. Không thể khẳng định rằng đời sống bình ổn này đã dập tắt “những giấc mơ điên rồ, những ngọn lửa không có thật” trong tâm hồn ông, bởi vì tự sâu xa Lưu Quang Vũ chưa bao giờ là một người chấp nhận thứ trật tự thô bạo của cuộc đời vật chất. Việc “sống như mọi người” chỉ gợi ý cho ta nghĩ về việc Lưu Quang Vũ tìm đến một cách bộc lộ nào gần gũi với mức cảm thụ chung của mọi người mà thôi.
****Nguyệt cầm, bài thơ được cho là giàu yếu tố siêu thực - tượng trưng của Xuân Diệu:
Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh/ Trăng thương trăng nhớ hỡi trăng ngần
Đàn buồn đàn lạnh ôi đàn chậm/ Từng giọt rơi tàn như lệ ngân
… Đêm lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời/ Đàn ghê như nước lạnh trời ơi
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận/ Trăng nhớ Tầm Dương nhạc nhớ người
Hay Huy Cận sầu vũ trụ trong Tràng giang: Nắng xuống trời lên sâu chót vót/ sông dàitrời rộng bến cô liêu
Chế Lan Viên về với thành Đồ Bàn non nước giống dân Hời, muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi, lấy ra một khúc xương rợn trắng…
Tất cả vẫn chỉ dừng ở lối hình dung bị giới hạn bởi khuôn thước vật lý và không gian cảm giác theo trật tự lý tính thông thường.
*****Những bài thơ cùng thời với thơ Lưu Quang Vũ:
Đồi trung du phơ phất bóng thông già/ Trường sơ tán hồn trong chiều lộng gió
Những trang sách suốt đời đi vẫn nhớ/ Như đám mây ngũ sắc ngủ trong đầu
Lẵng quả thông trong suối nhạc nhiệm màu/ Hay Chuyến xe đêm thầm thì mê đắm
Mùi cỏ dại trên cánh đồng xa thẳm/ Một bầu trời vĩnh viễn ướp hương hoa…
(Bằng Việt)
Hay Chẳng bao giờ anh ước đâu em/ một ngôi nhà bão dừng sau cánh cửa
(Bằng Việt); chỉ là mơ mộng hay quyết liệt trong ranh giới kiểm soát của lý trí cũng như của những ẩn dụ sẵn có.
Cho đến những năm giữa thập kỷ 90 người ta vẫn còn viết kiểu Khối buồn đâu dễ nguôi ngoai/ hào khí bên ngoài yếm khí bên trong/ Tỉnh say một búi bong bong/ nào ai chia nửa cõi lòng Bolsa… (Nguyễn Duy).
______________________________________________
Văn học trẻ 2010: Văn xuôi lấn át thơ
Ngân Hà
- Văn học trẻ đúng như cụm từ vốn có của nó, luôn chứa đựng sự tiếp nhận hào hứng của độc giả. Vậy năm 2010 văn học trẻ có những gì?
Sự kiện đầu tiên thu hút lực lượng văn học trẻ là “sân thơ trẻ” của Ngày thơ ViệtNam lần thứ 8 tổ chức tại Văn Miếu Hà Nội. Những cây bút trẻ đã và đang hoạt động trong lĩnh vực thơ ca được điểm danh như một cách hình dung về bức tranh thơ trẻ đương đại như: Đồng Chuông Tử, Lữ Thị Mai, Đặng Chân Nhân, Nguyễn Phan Quế Mai, Trương Trọng Nghĩa, Tằng A Tài, Yên Khương, Bá Minh Trí, Hoàng Chiến Thắng, Trịnh Sơn, Thái Bảo Anh, Vũ Thị Huyền Trang, Khúc Hồng Thiện, Jalau Anưk, Huỳnh Thuý Kiều, Sonpatra, Tuệ Nguyên… Không những thế, thơ trình diễn, thơ sắp đặt ở góc độ nào đó công chúng đã bớt xa lạ và chấp nhận nó tồn tại song song với cách biểu cảm ngôn từ truyền thống. Một sự độc chiếm có phần ưu ái dành cho thơ ca (Chỉ có ngày Thơ chứ không có ngày dành cho Văn xuôi) như cuộc đổ bộ rầm rộ khiến không ít người tin rằng từ giờ đến cuối năm chưa biết chừng thơ ca sẽ có diện mạo khác.
Tuy nhiên, chỉ một thời gian sau đó văn xuôi đã làm cuộc lội ngược dòng bởi những cái tên khác và cả chính những tác giả thơ từng có tên được giới thiệu rất công phu trên các poster ở sân thơ trẻ. Quá ít tác giả xuất hiện ở sân thơ ra sách năm nay như Nguyễn Phan Quế Mai, Khúc Hồng Thiện… Họ vẫn làm thơ và có thể năm 2010 chưa phải là thời điểm để in riêng tập thơ. Bởi in thơ đồng nghĩa với việc tự trang trải các khoản chi phí in ấn mà các cây bút trẻ không phải lúc nào cũng sẵn sàng. Một số tác giả thì lấn sang văn xuôi, được nhiều người biết đến qua các giải thưởng như Vũ Thị Huyền Trang, Hoàng Chiến Thắng…
Tiếp đến là lực lượng các cây bút văn xuôi với Tẩy sạch vết yêu của Lê Anh Hoài,Khói trời lộng lẫy của Nguyễn Ngọc Tư, Nhắm mắt là thấy Pari của Dương Thuỵ,Kín của Nguyễn Đình Tú, Chuyện tình Pari của Dương Bình Nguyên. Bên cạnh đó là những cái tên trẻ trung hơn, với Nguyễn Văn Học, Thuỷ Anna, Hà Thanh Phúc, Vũ Phương Thanh… Không phủ nhận nỗ lực của những tác giả đã làm cho bức tranh văn xuôi năm 2010 đa dạng, nhiều màu sắc. Thế nhưng bên cạnh tác giả được đánh giá trên phương diện nghệ thuật còn nhiều cây bút trẻ bước vào văn xuôi như cuộc “thử nghiệm”. Có tác phẩm như những mảnh ghép báo chí mới chỉ dừng lại ở mức phản ánh, thấy gì viết đấy mà lẽ ra với vốn sống đó họ có thể cho ra tác phẩm hay hơn nếu biết tiết chế cái sự nhanh của mình.
Cuộc thi văn học tuổi 20 kết thúc, liệu có tạo dựng nên một số tên tuổi có thể hi vọng như trước đây chúng ta từng biết đến: Nguyễn Ngọc Tư, Trần Thị Hồng Hạnh, Phan Việt, Nguyễn Ngọc Thuần, Phong Điệp, Nguyên Hương, Trang Hạ…?Với tác giả Trương Anh Quốc, dù đây là lần thứ 2 đoạt giải thưởng văn học tuổi 20 nhưng xem ra anh khá kín tiếng trên văn đàn. Vẫn dựa vào lợi thế nghề nghiệp trên những chuyến tàu viễn dương được lênh đênh khắp thế giới với nhiều điều mới lạ được tác giả khai thác tối đa trong cả 2 lần dự thi. Mỗi chương là một câu chuyện ít đầu cuối, độc giả khó nhận ra nhân vật chính như chuỗi chuyện liên hoàn, hoặc giống nhật kí hải trình hơn là truyện ngắn. Điều bất ngờ chính tác giả thổ lộ là khi viết, anh đề nó là tập truyện ngắn, nhưng khi được trao giải và in thành sách thì ban giám khảo nhất trí cho nó là... tiểu thuyết! Không biết với việc “nâng” mức thể loại từ truyện ngắn thành tiểu thuyết của các nhà văn cho Trương Anh Quốc là ghi nhận hay định hướng cho tác giả và các cây bút trẻ?
Trở về từ cuộc thi lần thứ 4 này, giải thưởng chỉ là một sự khích lệ, một bệ đỡ ban đầu cho hành trình văn chương dài phía trước đúng như tên gọi của cuộc thi Văn học tuổi 20. Có thể cái điều bình thường của văn chương về sự tranh cãi những giá trị văn học trong tác phẩm đoạt giải đâu đó vẫn xảy ra. Nhưng có lẽ cần phải nhìn những người trẻ ở góc độ khác. Họ có thể chưa có tác phẩm chỉn chu, còn lỗi này lỗi khác… nhưng ở họ xuất hiện những nội lực mà với nỗ lực bản thân và tác động khách quan họ sẽ đẩy được khả năng của mình đi xa. Giống như câu chuyện nhà văn nọ bất chợt đọc ở đâu đó một tác phẩm ký tên lạ hoắc, mặc dù tác giả đó còn lỗi nọ lỗi kia nhưng nhà văn ấy tin rằng tác giả có thể đi được xa, hơn là những cái tên quen quen cứ đều đều như nhau xuất hiện nhan nhản hàng ngày.
Mới đây trong hệ thống giải thưởng, Giải thưởng dành cho tác giả trẻ của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT chưa thực sự được dư luận chú ý và tạo hiệu ứng xã hội. Điều này chứng tỏ khi nhìn nhận văn học trẻ chưa hẳn là phải thông qua kênh giải thưởng. Bằng chứng là, trên mạng, đời sống văn học trẻ vẫn khá sôi động. Tất nhiên sự sôi động chỉ đồng nghĩa với tồn tại chứ không đồng nghĩa với phát triển.
Văn học trẻ năm 2010 cũng không có nhiều hoạt động được quan tâm từ phía Hội Nhà văn, hầu như dồn hết vào ngày thơ. Để ra sách họ vẫn phải tự tìm nơi in ấn và PR đến tay độc giả. Trong hệ thống giải thưởng của Hội Nhà văn cũng không có ưu ái dành cho sáng tác trẻ. Hội Nhà văn có Ban nhà văn trẻ nhưng dường như Ban chưa hiểu người viết trẻ hôm nay cần gì để hỗ trợ. Việc hỗ trợ bản thảo in thành sách rồi giới thiệu tới công chúng như cách làm của một số công ty tư nhân không biết khi nào mới được Hội Nhà văn thực hiện? Trong khi đó, không ít những khoản đầu tư cho đi thực tế, sáng tác, giải thưởng… dành cho các nhà văn lớn tuổi. Thiết nghĩ đã đến lúc Ban nhà văn trẻ cần chủ động đề ra những kế hoạch cụ thể để có khoản kinh phí hỗ trợ cho hoạt động văn học trẻ hơn nữa. Không những thế, Ban nhà văn trẻ cũng cần năng động đi tìm “mạnh thường quân” để có điều kiện quan tâm cho văn học trẻ.
Văn học trẻ năm 2010 được khuấy động bởi các cây bút văn xuôi. Nhưng nhìn chung chưa thật mạnh mẽ và có những bứt phá đáng kể. Trong một cuộc trả lởi phỏng vấn về văn học trẻ, nhà phê bình Nguyễn Chí Hoan có dự báo: “Theo tôi thì trong một tương lai trước mắt, văn trẻ sẽ đi vào cuộc khủng hoảng về mặt nội tại của khu vực văn học đó”. Liệu dự báo này có là bi quan hay không thì có lẽ tất cả chúng ta sẽ lại “bảo hiểm” cho văn học trẻ đầy tiềm năng bằng niềm tin tưởng, hi vọng và lạc quan ở thì tương lai gần.
________________________________________
- Văn học trẻ đúng như cụm từ vốn có của nó, luôn chứa đựng sự tiếp nhận hào hứng của độc giả. Vậy năm 2010 văn học trẻ có những gì?
Sự kiện đầu tiên thu hút lực lượng văn học trẻ là “sân thơ trẻ” của Ngày thơ ViệtNam lần thứ 8 tổ chức tại Văn Miếu Hà Nội. Những cây bút trẻ đã và đang hoạt động trong lĩnh vực thơ ca được điểm danh như một cách hình dung về bức tranh thơ trẻ đương đại như: Đồng Chuông Tử, Lữ Thị Mai, Đặng Chân Nhân, Nguyễn Phan Quế Mai, Trương Trọng Nghĩa, Tằng A Tài, Yên Khương, Bá Minh Trí, Hoàng Chiến Thắng, Trịnh Sơn, Thái Bảo Anh, Vũ Thị Huyền Trang, Khúc Hồng Thiện, Jalau Anưk, Huỳnh Thuý Kiều, Sonpatra, Tuệ Nguyên… Không những thế, thơ trình diễn, thơ sắp đặt ở góc độ nào đó công chúng đã bớt xa lạ và chấp nhận nó tồn tại song song với cách biểu cảm ngôn từ truyền thống. Một sự độc chiếm có phần ưu ái dành cho thơ ca (Chỉ có ngày Thơ chứ không có ngày dành cho Văn xuôi) như cuộc đổ bộ rầm rộ khiến không ít người tin rằng từ giờ đến cuối năm chưa biết chừng thơ ca sẽ có diện mạo khác.
Tuy nhiên, chỉ một thời gian sau đó văn xuôi đã làm cuộc lội ngược dòng bởi những cái tên khác và cả chính những tác giả thơ từng có tên được giới thiệu rất công phu trên các poster ở sân thơ trẻ. Quá ít tác giả xuất hiện ở sân thơ ra sách năm nay như Nguyễn Phan Quế Mai, Khúc Hồng Thiện… Họ vẫn làm thơ và có thể năm 2010 chưa phải là thời điểm để in riêng tập thơ. Bởi in thơ đồng nghĩa với việc tự trang trải các khoản chi phí in ấn mà các cây bút trẻ không phải lúc nào cũng sẵn sàng. Một số tác giả thì lấn sang văn xuôi, được nhiều người biết đến qua các giải thưởng như Vũ Thị Huyền Trang, Hoàng Chiến Thắng…
Tiếp đến là lực lượng các cây bút văn xuôi với Tẩy sạch vết yêu của Lê Anh Hoài,Khói trời lộng lẫy của Nguyễn Ngọc Tư, Nhắm mắt là thấy Pari của Dương Thuỵ,Kín của Nguyễn Đình Tú, Chuyện tình Pari của Dương Bình Nguyên. Bên cạnh đó là những cái tên trẻ trung hơn, với Nguyễn Văn Học, Thuỷ Anna, Hà Thanh Phúc, Vũ Phương Thanh… Không phủ nhận nỗ lực của những tác giả đã làm cho bức tranh văn xuôi năm 2010 đa dạng, nhiều màu sắc. Thế nhưng bên cạnh tác giả được đánh giá trên phương diện nghệ thuật còn nhiều cây bút trẻ bước vào văn xuôi như cuộc “thử nghiệm”. Có tác phẩm như những mảnh ghép báo chí mới chỉ dừng lại ở mức phản ánh, thấy gì viết đấy mà lẽ ra với vốn sống đó họ có thể cho ra tác phẩm hay hơn nếu biết tiết chế cái sự nhanh của mình.
Cuộc thi văn học tuổi 20 kết thúc, liệu có tạo dựng nên một số tên tuổi có thể hi vọng như trước đây chúng ta từng biết đến: Nguyễn Ngọc Tư, Trần Thị Hồng Hạnh, Phan Việt, Nguyễn Ngọc Thuần, Phong Điệp, Nguyên Hương, Trang Hạ…?Với tác giả Trương Anh Quốc, dù đây là lần thứ 2 đoạt giải thưởng văn học tuổi 20 nhưng xem ra anh khá kín tiếng trên văn đàn. Vẫn dựa vào lợi thế nghề nghiệp trên những chuyến tàu viễn dương được lênh đênh khắp thế giới với nhiều điều mới lạ được tác giả khai thác tối đa trong cả 2 lần dự thi. Mỗi chương là một câu chuyện ít đầu cuối, độc giả khó nhận ra nhân vật chính như chuỗi chuyện liên hoàn, hoặc giống nhật kí hải trình hơn là truyện ngắn. Điều bất ngờ chính tác giả thổ lộ là khi viết, anh đề nó là tập truyện ngắn, nhưng khi được trao giải và in thành sách thì ban giám khảo nhất trí cho nó là... tiểu thuyết! Không biết với việc “nâng” mức thể loại từ truyện ngắn thành tiểu thuyết của các nhà văn cho Trương Anh Quốc là ghi nhận hay định hướng cho tác giả và các cây bút trẻ?
Trở về từ cuộc thi lần thứ 4 này, giải thưởng chỉ là một sự khích lệ, một bệ đỡ ban đầu cho hành trình văn chương dài phía trước đúng như tên gọi của cuộc thi Văn học tuổi 20. Có thể cái điều bình thường của văn chương về sự tranh cãi những giá trị văn học trong tác phẩm đoạt giải đâu đó vẫn xảy ra. Nhưng có lẽ cần phải nhìn những người trẻ ở góc độ khác. Họ có thể chưa có tác phẩm chỉn chu, còn lỗi này lỗi khác… nhưng ở họ xuất hiện những nội lực mà với nỗ lực bản thân và tác động khách quan họ sẽ đẩy được khả năng của mình đi xa. Giống như câu chuyện nhà văn nọ bất chợt đọc ở đâu đó một tác phẩm ký tên lạ hoắc, mặc dù tác giả đó còn lỗi nọ lỗi kia nhưng nhà văn ấy tin rằng tác giả có thể đi được xa, hơn là những cái tên quen quen cứ đều đều như nhau xuất hiện nhan nhản hàng ngày.
Mới đây trong hệ thống giải thưởng, Giải thưởng dành cho tác giả trẻ của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT chưa thực sự được dư luận chú ý và tạo hiệu ứng xã hội. Điều này chứng tỏ khi nhìn nhận văn học trẻ chưa hẳn là phải thông qua kênh giải thưởng. Bằng chứng là, trên mạng, đời sống văn học trẻ vẫn khá sôi động. Tất nhiên sự sôi động chỉ đồng nghĩa với tồn tại chứ không đồng nghĩa với phát triển.
Văn học trẻ năm 2010 cũng không có nhiều hoạt động được quan tâm từ phía Hội Nhà văn, hầu như dồn hết vào ngày thơ. Để ra sách họ vẫn phải tự tìm nơi in ấn và PR đến tay độc giả. Trong hệ thống giải thưởng của Hội Nhà văn cũng không có ưu ái dành cho sáng tác trẻ. Hội Nhà văn có Ban nhà văn trẻ nhưng dường như Ban chưa hiểu người viết trẻ hôm nay cần gì để hỗ trợ. Việc hỗ trợ bản thảo in thành sách rồi giới thiệu tới công chúng như cách làm của một số công ty tư nhân không biết khi nào mới được Hội Nhà văn thực hiện? Trong khi đó, không ít những khoản đầu tư cho đi thực tế, sáng tác, giải thưởng… dành cho các nhà văn lớn tuổi. Thiết nghĩ đã đến lúc Ban nhà văn trẻ cần chủ động đề ra những kế hoạch cụ thể để có khoản kinh phí hỗ trợ cho hoạt động văn học trẻ hơn nữa. Không những thế, Ban nhà văn trẻ cũng cần năng động đi tìm “mạnh thường quân” để có điều kiện quan tâm cho văn học trẻ.
Văn học trẻ năm 2010 được khuấy động bởi các cây bút văn xuôi. Nhưng nhìn chung chưa thật mạnh mẽ và có những bứt phá đáng kể. Trong một cuộc trả lởi phỏng vấn về văn học trẻ, nhà phê bình Nguyễn Chí Hoan có dự báo: “Theo tôi thì trong một tương lai trước mắt, văn trẻ sẽ đi vào cuộc khủng hoảng về mặt nội tại của khu vực văn học đó”. Liệu dự báo này có là bi quan hay không thì có lẽ tất cả chúng ta sẽ lại “bảo hiểm” cho văn học trẻ đầy tiềm năng bằng niềm tin tưởng, hi vọng và lạc quan ở thì tương lai gần.
________________________________________
Thứ Tư, 5 tháng 1, 2011
Xuân Diệu, những chuyện mới kể
Hiền Nguyễn
- Sáng 21/12 tại trụ sở Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội đã diễn ra buổi toạ đàm “Xuân Diệu - Người tình si”, nhân kỷ niệm 25 năm ngày mất nhà thơ (1916-1985) do Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức. Buổi toạ đàm đã thu hút được khá đông đảo những bạn văn từng sống gắn bó với Xuân Diệu và những ai quan tâm đến thơ Xuân Diệu.
Nhà phê bình Lưu Khánh Thơ nhận định, với Xuân Diệu thì mảng thơ tình là phong phú và đặc sắc nhất. Nhà thơ đã thể hiện được cái tôi ở tình yêu trong suốt nửa thế kỷ cầm bút của mình.
Nhà thơ Hoàng Cát là người may mắn sống với Xuân Diệu một phần tư thế kỷ, trong niềm xúc động ông đã kể lại một mà theo ông và Xuân Diệu thì đó là “kỷ niệm đau đớn của tâm hồn”. Nhà thơ Xuân Diệu từng được một nhà máy dệt mời đi nói chuyện thơ và được hứa trả thù lao 5 đồng cùng với công đoàn nhà máy biếu tặng ít vải trắng. Thế nhưng buổi nói chuyện thơ kết thúc mà không thấy vải đâu. Điều này làm cho Xuân Diệu rất dằn vặt, ông cứ chờ và khi không chờ được nữa ông quyết định viết một lá thư gửi cho nhà máy. Lá thư ấy chỉ dám ghi là anh hay em Xuân Diệu. Viết xong, ông bỏ vào thùng thư. Nhưng về đến nhà ông bị ám ảnh mãi chuyện đó và không thể làm được gì. Xuân Diệu nói với Hoàng Cát rằng mình sẽ không gửi lá thư đó nữa, “người ta lừa anh thì anh chịu thôi”. Cuối cùng ông lại quay lại chỗ hòm thư mình vừa gửi để đợi người của bưu điện đến mở ra và xin lại lá thư đó. Thế nhưng lá thư của Xuân Diệu đã không còn nữa, trước đó ít phút đã được chuyển đi rồi. Kỷ niệm này luôn khiến cả Xuân Diệu và Hoàng Cát dằn vặt. Xuân Diệu là thế, giản dị và chân thật đến tận cùng. Là người sống cô độc nhưng lại đa cảm nên phải có nghị lực lớn mới vượt qua được.
Khắc hoạ thêm con người và tính cách Xuân Diệu, nhà thơ Chử Văn Long còn cho rằng cái thật của Xuân Diệu nhiều khi còn đến mức vụng về, nhiều khi nghĩ lại thấy thương. Xuân Diệu có tính hay khoe, một cái khoe hồn nhiên đến đáng yêu. Viết được bài thơ mới - khoe, đi uống nước mía không phải trả tiền - khoe… đọc xong một bài thơ mới làm thường tự khen: “Hay đấy chứ!”… Thế nhưng người nghe không chướng. Ai tốt với mình đều nhớ và có gì tặng lại, ai tệ bạc với mình thì quên, không trả thù. Không ai ngờ một tên tuổi hào hoa như Xuân Diệu luôn được thiên hạ đồn thổi là người giàu có vì ông viết nhiều, hầu như tất cả các thể loại từ sáng tác, nghiên cứu đến lý luận, bình thơ… ông lại hay được mời đi nói chuyện thơ mà có lúc phải ngồi vá áo may ô. Nhiều người chỉ biết đến Xuân Diệu là một nhà thơ tình với những đắm đuối thi ca, luôn được chào đón, hướng tới đại chúng mà không biết ông là người cô đơn tới mức nào, thiếu những niềm vui đời thường của một mái ấm gia đình có bàn tay phụ nữ.
Không khí buổi toạ đàm đang chìm trong cảm xúc với những kỷ niệm được tái hiện thì nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm góp thêm khi nhớ lại thời khắc và cảm xúc cách đây 25 năm tại 51 Trần Hưng Đạo chính tay mình đã khênh một góc quan tài của Xuân Diệu. Nhưng ngay sau đó nhà thơ “Xúc xắc mùa thu” đã đặt ra một loạt câu hỏi khiến cho buổi toạ đàm sôi nổi. Đó là: Nhà thơ Xuân Diệu ngay từ khi mới xuất hiện với những cách tân và đóng góp cho thơ mới đã được coi là người mới nhất trong các nhà thơ mới. Thế nhưng hôm nay dường như chính ông lại bị thời gian kiểm chứng nhiều nhất. Liệu các bạn trẻ hôm nay có còn say mê chép vào sổ tay, những người yêu nhau có còn tặng nhau những câu thơ như: Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi nữa không? Theo Hoàng Nhuận Cầm thì bây giờ giới trẻ chép vào sổ tay những câu thơ của Bằng Việt, Nguyễn Duy, Ngô Văn Phú chứ không phải Xuân Diệu. Và phải chăng người “mới nhất” như Xuân Diệu cũng có thể bị thời gian kiểm chứng - trở thành người “cũ nhất” như quy luật oái oăm của thơ ca như câu thơ chính ông viết ra: Từ tôi phút trước sang tôi phút này.
Hoàng Nhuận Cầm còn phát hiện ra rằng, Xuân Diệu có những câu thơ hay nhất về trăng mà đến giờ vẫn là sự tranh giành ngôi thứ với Hàn Mặc Tử. Với thơ tình, Xuân Diệu không hẳn là “Người tình si” như chủ đề buổi toạ đàm mà phải làNgười tình thơ. Và cuộc chuyển đổi giới tính mới làm cho thơ ông đằm và hay nhất như bài Lời kỹ nữ.
Xuân Diệu được ghi nhận là nhà thơ lớn với những đóng góp cho thi ca. Đương thời những câu thơ tài hoa luôn được công chúng đón nhận. Bên cạnh đó người ta cũng rạch ròi xem ông có những câu thơ nào… dở nhất! Nhà thơ Vũ Nho nêu ý kiến ngược lại, phải đặt những câu thơ đó trong một tương quan, hoàn cảnh cụ thể để cảm nhận thì đó vẫn là câu thơ hay của Xuân Diệu như:
“Mỗi buổi sáng thần vui hằng gõ cửa
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”
Và:
“Hôm nay trời nhẹ lên cao
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”
Và:
“Một tuần công việc tạm xong
Cầm tay chủ nhật hoà trong phố người”
Bài thơ tình hay nhất theo đánh giá của Vũ Nho là là bài Tình qua:
Tôi dạo thanh bình giữa phố đông/ Tự cười sao chở núi và thông/ Đến đây ngáng trở người qua lại/ Bỗng lướt ngang tôi một thoáng hồng/ Tâm trí còn kinh trận gió người!/ Bốn bề không khí bỗng reo tươi./ Một luồng ánh sáng xô qua mặt/ Thắm cả đường đi, rực cả đời/ Tôi trải thương yêu đưới gót giày/ Ôm chừng bóng lạ giữa mê say./ Lòng buồn lững thững vương sau áo/ Bước đẹp mà sao khéo tỏa dây./ Thiên hạ về đâu? Sao vội đi?/ Bao giờ gặp nữa? Có tình chi?/ Lòng tôi theo bước người qua ấy/ Cho đến hôm nay vẫn chẳng về.
Nhắc đến Xuân Diệu với tư cách nhà thơ nhưng cũng phải nhắc đến Xuân Diệu trong tư cách nhà hoạt động văn hoá trong thời gian 1954-1956 là ý kiến của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân. Đây là thời kỳ mà Xuân Diệu ít có đóng góp cho văn học, mà chủ yếu trên lĩnh vực văn hoá.
Còn nhà thơ Vương Trọng cũng đặt câu hỏi hình như chưa ai bàn đến “Cảm hứng ẩm thực trong thơ Xuân Diệu”. Cảm hứng ẩm thực “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”, “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”… luôn thường trực và song song với cảm hứng tình yêu. Trả lời câu hỏi của nhà thơ Vương Trọng, nhà thơ Nguyễn Việt Chiến khá dí dỏm “Có lẽ đó là hậu quả của thời bao cấp. Thời ấy chúng tôi cũng đói lắm!”.
Buổi Toạ đàm khá thành công, không chỉ đưa ra những nhận xét mang tính phát hiện mới mà còn khiến người theo dõi xúc động trước kỷ niệm khó quên của nhà thơ tình Xuân Diệu.
__________________________________________________
- Sáng 21/12 tại trụ sở Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội đã diễn ra buổi toạ đàm “Xuân Diệu - Người tình si”, nhân kỷ niệm 25 năm ngày mất nhà thơ (1916-1985) do Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức. Buổi toạ đàm đã thu hút được khá đông đảo những bạn văn từng sống gắn bó với Xuân Diệu và những ai quan tâm đến thơ Xuân Diệu.
Nhà phê bình Lưu Khánh Thơ nhận định, với Xuân Diệu thì mảng thơ tình là phong phú và đặc sắc nhất. Nhà thơ đã thể hiện được cái tôi ở tình yêu trong suốt nửa thế kỷ cầm bút của mình.
Nhà thơ Hoàng Cát là người may mắn sống với Xuân Diệu một phần tư thế kỷ, trong niềm xúc động ông đã kể lại một mà theo ông và Xuân Diệu thì đó là “kỷ niệm đau đớn của tâm hồn”. Nhà thơ Xuân Diệu từng được một nhà máy dệt mời đi nói chuyện thơ và được hứa trả thù lao 5 đồng cùng với công đoàn nhà máy biếu tặng ít vải trắng. Thế nhưng buổi nói chuyện thơ kết thúc mà không thấy vải đâu. Điều này làm cho Xuân Diệu rất dằn vặt, ông cứ chờ và khi không chờ được nữa ông quyết định viết một lá thư gửi cho nhà máy. Lá thư ấy chỉ dám ghi là anh hay em Xuân Diệu. Viết xong, ông bỏ vào thùng thư. Nhưng về đến nhà ông bị ám ảnh mãi chuyện đó và không thể làm được gì. Xuân Diệu nói với Hoàng Cát rằng mình sẽ không gửi lá thư đó nữa, “người ta lừa anh thì anh chịu thôi”. Cuối cùng ông lại quay lại chỗ hòm thư mình vừa gửi để đợi người của bưu điện đến mở ra và xin lại lá thư đó. Thế nhưng lá thư của Xuân Diệu đã không còn nữa, trước đó ít phút đã được chuyển đi rồi. Kỷ niệm này luôn khiến cả Xuân Diệu và Hoàng Cát dằn vặt. Xuân Diệu là thế, giản dị và chân thật đến tận cùng. Là người sống cô độc nhưng lại đa cảm nên phải có nghị lực lớn mới vượt qua được.
Khắc hoạ thêm con người và tính cách Xuân Diệu, nhà thơ Chử Văn Long còn cho rằng cái thật của Xuân Diệu nhiều khi còn đến mức vụng về, nhiều khi nghĩ lại thấy thương. Xuân Diệu có tính hay khoe, một cái khoe hồn nhiên đến đáng yêu. Viết được bài thơ mới - khoe, đi uống nước mía không phải trả tiền - khoe… đọc xong một bài thơ mới làm thường tự khen: “Hay đấy chứ!”… Thế nhưng người nghe không chướng. Ai tốt với mình đều nhớ và có gì tặng lại, ai tệ bạc với mình thì quên, không trả thù. Không ai ngờ một tên tuổi hào hoa như Xuân Diệu luôn được thiên hạ đồn thổi là người giàu có vì ông viết nhiều, hầu như tất cả các thể loại từ sáng tác, nghiên cứu đến lý luận, bình thơ… ông lại hay được mời đi nói chuyện thơ mà có lúc phải ngồi vá áo may ô. Nhiều người chỉ biết đến Xuân Diệu là một nhà thơ tình với những đắm đuối thi ca, luôn được chào đón, hướng tới đại chúng mà không biết ông là người cô đơn tới mức nào, thiếu những niềm vui đời thường của một mái ấm gia đình có bàn tay phụ nữ.
Không khí buổi toạ đàm đang chìm trong cảm xúc với những kỷ niệm được tái hiện thì nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm góp thêm khi nhớ lại thời khắc và cảm xúc cách đây 25 năm tại 51 Trần Hưng Đạo chính tay mình đã khênh một góc quan tài của Xuân Diệu. Nhưng ngay sau đó nhà thơ “Xúc xắc mùa thu” đã đặt ra một loạt câu hỏi khiến cho buổi toạ đàm sôi nổi. Đó là: Nhà thơ Xuân Diệu ngay từ khi mới xuất hiện với những cách tân và đóng góp cho thơ mới đã được coi là người mới nhất trong các nhà thơ mới. Thế nhưng hôm nay dường như chính ông lại bị thời gian kiểm chứng nhiều nhất. Liệu các bạn trẻ hôm nay có còn say mê chép vào sổ tay, những người yêu nhau có còn tặng nhau những câu thơ như: Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi nữa không? Theo Hoàng Nhuận Cầm thì bây giờ giới trẻ chép vào sổ tay những câu thơ của Bằng Việt, Nguyễn Duy, Ngô Văn Phú chứ không phải Xuân Diệu. Và phải chăng người “mới nhất” như Xuân Diệu cũng có thể bị thời gian kiểm chứng - trở thành người “cũ nhất” như quy luật oái oăm của thơ ca như câu thơ chính ông viết ra: Từ tôi phút trước sang tôi phút này.
Hoàng Nhuận Cầm còn phát hiện ra rằng, Xuân Diệu có những câu thơ hay nhất về trăng mà đến giờ vẫn là sự tranh giành ngôi thứ với Hàn Mặc Tử. Với thơ tình, Xuân Diệu không hẳn là “Người tình si” như chủ đề buổi toạ đàm mà phải làNgười tình thơ. Và cuộc chuyển đổi giới tính mới làm cho thơ ông đằm và hay nhất như bài Lời kỹ nữ.
Xuân Diệu được ghi nhận là nhà thơ lớn với những đóng góp cho thi ca. Đương thời những câu thơ tài hoa luôn được công chúng đón nhận. Bên cạnh đó người ta cũng rạch ròi xem ông có những câu thơ nào… dở nhất! Nhà thơ Vũ Nho nêu ý kiến ngược lại, phải đặt những câu thơ đó trong một tương quan, hoàn cảnh cụ thể để cảm nhận thì đó vẫn là câu thơ hay của Xuân Diệu như:
“Mỗi buổi sáng thần vui hằng gõ cửa
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”
Và:
“Hôm nay trời nhẹ lên cao
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”
Và:
“Một tuần công việc tạm xong
Cầm tay chủ nhật hoà trong phố người”
Bài thơ tình hay nhất theo đánh giá của Vũ Nho là là bài Tình qua:
Tôi dạo thanh bình giữa phố đông/ Tự cười sao chở núi và thông/ Đến đây ngáng trở người qua lại/ Bỗng lướt ngang tôi một thoáng hồng/ Tâm trí còn kinh trận gió người!/ Bốn bề không khí bỗng reo tươi./ Một luồng ánh sáng xô qua mặt/ Thắm cả đường đi, rực cả đời/ Tôi trải thương yêu đưới gót giày/ Ôm chừng bóng lạ giữa mê say./ Lòng buồn lững thững vương sau áo/ Bước đẹp mà sao khéo tỏa dây./ Thiên hạ về đâu? Sao vội đi?/ Bao giờ gặp nữa? Có tình chi?/ Lòng tôi theo bước người qua ấy/ Cho đến hôm nay vẫn chẳng về.
Nhắc đến Xuân Diệu với tư cách nhà thơ nhưng cũng phải nhắc đến Xuân Diệu trong tư cách nhà hoạt động văn hoá trong thời gian 1954-1956 là ý kiến của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân. Đây là thời kỳ mà Xuân Diệu ít có đóng góp cho văn học, mà chủ yếu trên lĩnh vực văn hoá.
Còn nhà thơ Vương Trọng cũng đặt câu hỏi hình như chưa ai bàn đến “Cảm hứng ẩm thực trong thơ Xuân Diệu”. Cảm hứng ẩm thực “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”, “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”… luôn thường trực và song song với cảm hứng tình yêu. Trả lời câu hỏi của nhà thơ Vương Trọng, nhà thơ Nguyễn Việt Chiến khá dí dỏm “Có lẽ đó là hậu quả của thời bao cấp. Thời ấy chúng tôi cũng đói lắm!”.
Buổi Toạ đàm khá thành công, không chỉ đưa ra những nhận xét mang tính phát hiện mới mà còn khiến người theo dõi xúc động trước kỷ niệm khó quên của nhà thơ tình Xuân Diệu.
__________________________________________________
Chiến tranh, Đại sứ nước mắm và chuyện cổ tích
Đôi khi để yêu được một điều giản dị, bình thường nhất trong cuộc đời này, người ta phải đi qua một hành trình của máu chảy, chết chóc, tuyệt vọng - các nhà văn tâm sự trong cuộc trực tuyến trên Tuần Việt Nam.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Thưa bạn đọc VietNamNet, tên của Bàn tròn trực tuyến hôm nay - Chiến tranh, đại sứ nước mắm và chuyện cổ tích - có lẽ đã nói lên nội dung xuyên suốt của câu chuyện. Hai vị khách đã đến đây, những người cách đây vài chục năm mới ở tuổi 18 đã phải cầm súng bước lên phi cơ bay từ nước Mỹ đến Việt Nam tham gia một cuộc chiến tranh. Họ đã nhận ra sự phi lí, tàn khốc, độc ác và bóng tối của cuộc chiến mà họ tiến hành trên mảnh đất bình yên và tươi đẹp này. Để rồi họ trở về nước Mỹ với sự sám hối, dày vò và những cơn mê sảng, như nhà văn Larry Heineman đã nói: "Ám ảnh chiến tranh Việt Nam với tôi giống như một xác chết còn trong nhà mà chưa được mai táng".
Sau cuộc chiến tranh, họ đã trở lại Việt Nam, đầu tiên là bằng những ý nghĩ tốt đẹp, sau đó là bằng chính con người, tâm hồn và tinh thần của họ. Một người đã trở nên vô cùng yêu quý một món ăn đơn giản - nước mắm, người kia thì yêu những câu chuyện cổ tích mà những đứa trẻ Việt Nam vẫn được nghe kể vào mỗi buổi tối. Điều đó nói lên rằng, đôi khi để yêu được một điều giản dị, bình thường nhất trong cuộc đời này, người ta phải đi qua một hành trình của máu chảy, chết chóc, tuyệt vọng.
Vị khách đầu tiên là nhà văn Larry Heineman, tiểu thuyết gia xuất sắc của nước Mỹ. Năm 1986, ông đã giành giải thưởng quốc gia với tiểu thuyết "Chuyện của Paco" - câu chuyện về một người lính với những ám ảnh, ân hận, sám hối, dày vò, đã đi tìm ánh sáng trong bóng tối đen kịt, khủng khiếp đầy máu chảy của chiến tranh.
Vị khách thứ hai là nhà thơ Bruce Weigl danh tiếng, người cách đây 15 năm đã đến Việt Nam với trái tim và tình yêu thương, đã tìm và nhận nuôi một em bé Việt Nam, đã dạy dỗ em trở thành không chỉ một công dân Mỹ tốt mà còn là một công dân Việt Nam, đã trở về tìm lại nguồn cội văn hóa của mình.
Trở lại Việt Nam không để giảm nhẹ ám ảnh chiến tranh
Tôi xin được bắt đầu câu chuyện bằng một câu hỏi cho cả hai vị khách: Cuộc chiến tranh đã kiết thúc lâu rồi, kí ức hay hội chứng chiến tranh Việt Nam trong người Mỹ cũng đã giảm đi nhiều. Thậm chí có người nói rằng trong người Mỹ không còn hội chứng chiến tranh nữa. Theo hai ông, hội chứng chiến tranh trong người Mỹ bây giờ đã được xóa đi hay đang tồn tại?
Nhà thơ Bruce Weigl: Theo tôi biết hiện nay có một hội chứng đang còn rất phổ biến ở các cựu chiến binh Mỹ là Hội chứng khủng hoảng tâm lí sau chiến tranh (PTSD). Hội chứng này chứa đựng nhiều nguyên nhân về tâm kí, khoa học mà do không phải là bác sĩ, tôi không rành lắm. Hội chứng này xuất hiện cách đây khoảng 50-60 năm và bỗng nhiên trong thời điểm hôm nay, dường như nó đang quay trở lại.
Chính phủ Mỹ rất ngại ngần không muốn nói quá nhiều đến hội chứng này vì nó rất phức tạp và không có tác dụng tốt đối với hình ảnh nước Mỹ. Thế nhưng phải thừa nhận thực tế rằng hội chứng này đang quay trở lại ngày càng nhiều, nhất là khi bắt đầu có hàng chục ngàn lính Mỹ trở về từ cuộc chiến Iraq, họ đang phải chịu đựng hội chứng kinh khủng này.
Khi tôi cảm nhận được hiện tượng đó trong xã hội, dường như tôi cũng thấy sự khủng hoảng đó quay trở lại trong mình. Tôi tưởng chỉ mình tôi có cảm giác như thế, nhưng khi nói chuyện với đồng đội cũ và bạn hữu, tôi nhận được câu trả lời rằng họ cũng đang có cảm xúc, tâm lí tương tự mình.
Các bác sĩ có chuyên môn thì khuyên tôi cách tốt nhất để đối phó với chúng là quên chúng đi, coi như chúng đã qua và để chúng lại phía sau. Nhưng tôi không nghĩ quên là một cách tốt. Chúng ta phải chịu trách nhiệm với những gì mình đã làm và chấp nhận cuộc chiến đó như một phần con người mình.
Bản thân tôi chọn cách vượt qua khủng hoảng là quay trở lại đất nước Việt Nam, giao lưu và làm việc với những người bạn Việt Nam về những dự án như xuất bản sách, dịch thơ...
Nhà văn Larry Heineman: Tôi hiểu hội chứng PTSD theo cách này: những tác động của cuộc chiến tranh vào cơ thể những người lính Mỹ đã làm thay đổi sức khỏe, trạng thái cơ thể họ. Khi họ trở về nhà, những tác động đó tiếp tục ăn sâu vào con người họ và ảnh hưởng đến cả tâm lí, suy nghĩ, tình cảm của họ.
Nhà thơ Bruce Weigl có nói đến vòng luẩn quẩn của hội chứng khủng hoảng này, điều đó là có thật. Những cựu chiến binh trở về sau Thế chiến thứ II giờ đây đã ở độ tuổi 70, 80, trong đó có cha tôi, lại đang bắt đầu cảm thấy những cơn mất ngủ, đau đầu và ác mộng quay lại dày vò họ, dù cho cuộc chiến đó đã qua rất lâu rồi.
Giống như cách nhà thơ Bruce Weigl đã chọn để đối phó với khủng hoảng của bản thân mình, tôi cũng vài lần trở lại Việt Nam, không phải với mục đích làm giảm nhẹ ám ảnh chiến tranh trong mình. Tôi quay lại để thưởng thức những gì tuyệt vời nhất trong cuộc sống của người Việt Nam, những món ăn, giá trị văn hóa, đến Hà Nội chỉ để tận hưởng không khí cuộc sống của người Hà Nội.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Tôi còn nhớ chính xác năm 1994, trong ngôi nhà của ông ở Chicago, khi chúng ta cùng uống cà phê, ông đã đọc báo và nói cho tôi biết có một vị giáo sư đại học ở Chiacgo, một cựu binh Mỹ từng gặt hái nhiều thành công trong sự nghiệp, cuối cùng vẫn tìm đến cách tự sát bởi không chịu nổi những ám ảnh chiến tranh. Câu chuyện đó cho thấy những cơn ác mộng của chiến tranh vẫn đè nén nặng thế nào đối với cụu binh Mỹ. Bây giờ hiện tượng cựu binh Mỹ trở về từ chiến tranh VN tự sát có còn không và nó như thế nào?
Nhà văn Larry Heineman: Theo tôi biết, trong những năm đầu sau khi cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc, nhiều cựu chiến binh Mỹ đã tìm cách tự sát bằng cách lái xe lao vào chân cầu hoặc bắn súng vào đầu, nghĩa là họ chọn cách chết thật nhanh chóng, ngay lập tức. Nhưng cũng có những người chọn cách khác để tự dày vò bản thân, đó là uống rượu và dùng ma tuý. Nhiều người đã trở thành những con nghiện bởi không thể chạy trốn khỏi những kí ức quá tồi tệ của cuộc chiến tranh.
Bản thân tôi không chọn cách tự tử hay uống rượu để làm giảm đi những nỗi đau trong mình. Tôi nghĩ chúng chẳng có ích lợi gì hết.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Còn nhà thơ Bruce Weigl, ông đã chọn cách gì để đi qua những ký ức chiến tranh?
Nhà thơ Bruce Weigl: Ban đầu khi tôi chọn viết lách để giúp mình vượt qua những ám ảnh chiến tranh, tôi không nhận thức được nó lại có tác dụng lớn đến thế. Nhưng bây giờ tôi cảm thấy rõ ràng tôi đã chọn được một cách tốt, bởi nó giúp tôi nói ra được suy nghĩ của mình, kiểm soát được những biểu hiện tâm lí tình cảm của mình.
Nhưng điều có ý nghĩa nhất mà tôi đã làm, là sau 20 năm chìm đắm trong những cơn ác mộng chiến tranh, tôi quyết định quay trở lại Việt Nam năm 1985, sự trở lại đã thay đổi cuộc đời tôi. Sự thay đổi đó tiếp tục khi tôi ngày càng có nhiều bạn bè, người thân ở Việt Nam. Càng ngày Việt Nam đối với tôi không còn là cuộc chiến tranh nữa mà là một đất nước.
Phải lòng... nước mắm
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Nhà thơ Bruce Weigl, tôi đã rất "choáng" khi biết ông tự nhận mình là "Đại sự nước mắm" của Việt Nam. Chính quyền đảo Phú Quốc - nơi sản sinh ra loại nước mắm nổi tiếng hàng đầu của Việt Nam - cũng đã mời ông đến thăm. Vậy điều gì, điều bí ẩn nào của nước mắm, đã dẫn ông, một người Mỹ tìm đến loại thực phẩm cực kỳ đặc trưng này của Việt Nam?
Nhà thơ Bruce Weigl: Tôi nghĩ điều làm nên điểm đặc sắc nhất của các món ăn Việt Nam chính là hương vị.
Nhà văn Bảo Ninh từng kể với tôi rằng trong chiến tranh, khi ông ấy và đồng đội tìm được thức ăn đóng hộp của lính Mỹ, họ đã rất sung sướng bởi cuối cùng cũng có cái gì đó để ăn. Nhưng bản thân tôi lại không thể ăn được loại thức ăn đó, gần như tôi ăn vào mà chẳng có cảm giác gì.
Khi tôi chiến đấu ở Việt Nam, trong đơn vị tôi có một vài người lính miền Nam Cộng hòa. Khi chúng tôi đóng quân ở vùng nông thôn, lính Mỹ không được phép vào làng, nhưng lính miền Nam Cộng hòa thì có thể. Họ đã vào làng và mang thức ăn tươi về nấu nướng trong các lán trại của họ. Một lần đi qua, tôi thấy họ đang ăn vịt quay cùng với rất nhiều gia vị và rau tươi. Họ mời tôi ăn cùng và tôi đã ngồi xuống ăn, bất chấp lời khuyên can của các đồng đội Mỹ. Tôi đã được thưởng thức thịt quay, rau tươi và đặc biệt là món nước mắm ăn kèm.
Đó là lần đầu tiên tôi ăn nước mắm và ngay lập tức phải lòng nó. Một người lính miền Nam Cộng hòa thậm chí đã nói với tôi rằng, khi sắp chết đói mà được cho một bát cơm, nếu không có nước mắm thì anh ta cũng chẳng thèm ăn cơm nữa.
Tôi đã hỏi những người lính ấy cách làm nước mắm: bắt cá ngoài biển, phơi khô và để cho nước cốt của cá chảy ra rồi trưng nước cốt đó lên.
Khi quay lại Mỹ, vì không tìm thấy ở bất cứ đâu bán nước mắm, tôi quyết định tự làm theo cách đã được họ dạy. Tôi bắt cá và phơi ở sân sau nhà bố tôi nhưng lại quên mất. Một buổi sáng, tôi thấy rất nhiều cảnh sát đến nhà mình và nói rằng họ nghi ngờ trong sân nhà tôi có một xác chết. Tôi hiểu ngay ra là có chuyện gì.
Đó là lần đầu tiên tôi tự làm nước mắm, bây giờ mọi chuyện đã khác nhiều. Tôi đã hiểu nhiều về nước mắm, biết nhiều loại nước mắm và thậm chí dùng nước mắm khi nấu ăn. Tôi rất thích nấu ăn và mời bạn bè đến thưởng thức. Họ thường thắc mắc tôi cho nguyên liệu gì vào món ăn mà ngon thế. Tôi không bao giờ tiết lộ bí mật của mình, điều luôn làm cho các món ăn tôi nấu ngon hơn rất nhiều.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Quả thật sau khi nghe câu chuyện này, có lẽ không còn cách nào khác là những người làm nước mắm ở Việt Nam nên chính thức phong ông làm "Đại sứ nước mắm". Tôi cũng là người viết mà chưa từng thấy ai viết và nói về nước mắm hay và hấp dẫn như ông. Mặc dù hàng ngày tôi đều ăn nước mắm, nhưng tình yêu với nước mắm của tôi không lớn được như của ông, đó là một điều kỳ diệu.
Ông, nhà văn Heineman và các nhà văn Mỹ khác đã có công phát hiện ra một Việt Nam cho chính người Việt Nam. Các ông đã dạy chúng tôi yêu nhiều vẻ đẹp rất Việt Nam mà chúng tôichưa phát hiện ra hoặc đang dần tự đánh mất. Câu chuyện của hai ông và chính sự trải nghiệm của bản thân hai ông về Việt nam đã nói với những người Việt Nam rất nhiều điều.
Đổi cách nhìn và mối quan tâm về Việt Nam
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Tôi biết rằng, thời gian đầu sau khi chiến tranh kết thúc, việc giảng dạy về chiến tranh Việt Nam trong các nhà trường của Mỹ đã trở thành một môn học rất quan trọng. Cả hai ông cũng đã từng tham gia nói chuyện và giảng bài về cuộc chiến này. Vậy đến nay, các trường học ở Mỹ có còn giảng dạy về chiến tranh Việt Nam không và có khác vì với nội dung giảng dạy của những năm đầu tiên sau chiến tranh không?
Nhà thơ Bruce Weigl: Môn học về chiến tranh Việt Nam đã đang và vẫn sẽ là môn học quan trọng, thu hút sự quan tâm của những người học ở Mỹ. Đặc biệt là sau cuộc chiến tranh Iraq vừa rồi, giới trẻ, sinh viên Mỹ một lần nữa nhìn thấy lại hình ảnh đã xảy ra với chiến tranh Việt Nam: nước Mỹ lại một lần nữa tham gia vào một cuộc chiến vô nghĩa, một lần nữa nước Mỹ xâm lược một đất nước nghèo, áp bức một dân tộc nghèo.
Nhà văn Heineman: Trong những năm 1970, môn học về chiến tranh Việt Nam đã được giảng dạy lần đầu tiên tại trường ĐH California, và ngay từ buổi học đầu tiên đó, đã có đến 400 sinh viên đến nghe.
Không chỉ môn học chiến tranh Việt Nam mà môn học về văn hóa, văn học Việt Nam cũng được giảng dạy và nhanh chóng trở thành một phần quan trọng trong việc giảng dạy văn hóa và văn học ở các trường đại học Mỹ.
Bản thân tôi đã từng tham gia giảng dạy về cuộc chiến tranh Việt Nam ở trường ĐH Texas, nó được đặt trong bộ môn lịch sử của trường. Tôi được mời đến làm giáo viên thỉnh giảng và trong những buổi nói chuyện của tôi, thường xuyên có 400-500 sinh viên nghe. Lần nào cũng vậy, các giáo viên đều rất vui khi được nghe những bài giảng như thế. Sinh viên thì sốc và bất ngờ khi được nghe kể những câu chuyện thực sự từ một người đã tham chiến với tư cách người lính.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Có thể qua một thời gian rất dài, 35 năm kể từ khi cuộc chiến kết thúc, những câu hỏi của người Mỹ về chiến tranh Việt Nam đã thay đổi. Là những người đã giảng dạy và nhận được ngàn câu hỏi về chủ đề này, các ông thấy câu hỏi của bạn đọc bây giờ có gì khác với câu hỏi của họ trước kia không? Mối quan tâm về cuộc chiến đó có thể không thay đổi, nhưng nội dung họ quan tâm có thay đổi hay không?
Nhà thơ Bruce Weigl: Những câu hỏi tôi nhận được vào thời điểm vài năm sau chiến tranh và thời điểm bây giờ khác nhau khá nhiều.
Thời điểm tôi vừa trở về sau chiến tranh, những câu hỏi đặt ra cho tôi chỉ đơn giản như anh đến đấy bao lâu, anh đã giết được bao nhiêu người, đơn vị của anh đã tiêu diệt được bao nhiêu lính Việt cộng... Nhưng bây giờ, sau khi hai nước đã bình thường hóa quan hệ, giao lưu văn hóa văn học được đẩy mạnh, nhiều tác phẩm thơ ca Việt Nam đã được dịch ra tiếng Anh và đến với công chúng Mỹ, mối quan tâm của công chúng Mỹ đã thay đổi nhiều. Họ muốn tìm hiểu nhiều hơn về đất nước, con người, văn hóa nghệ thuật và lịch sử Việt Nam.
Nhà văn Larry Heineman: Câu hỏi các sinh viên đặt ra cho tôi thường quan tâm đến vấn đề khá cụ thể, nhất là những sinh viên đang học để trở thành sĩ quan quân đội. Họ thường hỏi có gì khác giữa chiến trường Việt Nam và chiến trường Iraq, Afganishtan bây giờ không. Tôi trả lời họ rằng, đối với một người lính, chiến trường nào cũng giống nhau. Tôi thành thực khuyên họ trước khi sang chiến trường Iraq hay Afganishtan, họ hãy cố gắng tìm hiểu về đất nước, con người ở đó để biết mình sẽ đặt chân đến đâu, sẽ gặp những con người ra sao...
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Đó là mối quan tâm của công chúng, vậy còn những nhà văn, nhà thơ thì sao? Một cuốn sách viết năm 1970-1975 và một cuốn sách viết năm 2010 cùng về cuộc chiến Việt Nam sẽ khác nhau thế nào? Là nhà văn, nhà thơ, các ông nhận thấy những tác phẩm văn học viết về chiến tranh Việt Nam đã có sự thay đổi thế nào qua những giai đoạn khác nhau?
Nhà thơ Bruce Weigl: Thực sự có những thay đổi trong cách nhìn nhận và cách viết của các nhà văn Mỹ từ thời điểm sau chiến tranh đến nay. Đó là sự thay đổi theo chiều hướng ngày càng có thêm sự hiểu biết và thông cảm trong những tác phẩm của họ.
Với bản thân tôi, việc này đã diễn ra bắt đầu từ khoảng năm 1990 khi tôi quay trở lại Việt Nam lần đầu tiên gặp gỡ nhà thơ Nguyễn Quang Thiều và những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng khác ở Việt Nam.
Đã có một sự trao đổi thẳng thắn giữa những người lính trước kia từng ở hai chiến tuyến khác nhau, và qua những cuộc trao đổi, trò chuyện đó, thực sự đã có sự thông cảm sẻ chia và đã đem lại những thay đổi tích cực trong những tác phẩm của tôi.
Chính vì thế tôi luôn cố gắng trở lại Việt Nam càng nhiều càng tốt mỗi khi có điều kiện về thời gian và tiền bạc. Tôi trở về Việt Nam như trở về mái nhà ấm áp thứ hai của mình.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Các ông cũng đã có điều kiện gặp gỡ người Việt Nam, tiếp xúc và đọc các tác phẩm của họ. Các ông ấn tượng nhất về điều gì ở các nhà văn, nhà thơ Việt Nam và những tác phẩm của họ?
Nhà thơ Bruce Weigl: Điều đầu tiên tôi phải nhìn nhận là người Việt Nam, không chỉ các nhà văn, nhà thơ mà người Việt Nam nói chung, lao động cần cù chăm chỉ hơn rất nhiều so với người Mỹ.
Tôi đã viết sách 30 năm nay, nhưng chưa bao giờ tôi làm việc vất vả, căng thẳng và năng suất như trong 6 tháng gần đây làm việc với dịch giả Nguyễn Phan Quế Mai để cho ra đời cuốn sách "Sau mưa thôi nã đạn". Một ngày làm việc của tôi thường kết thúc vào lúc 7h tối để ăn uống và nghỉ ngơi, nhưng với dịch giả Nguyễn Phan Quế Mai, cô ấy không ngừng làm việc chừng nào chưa xong việc, thậm chí là chừng nào công việc chưa hoàn hảo. Đó không phải là cách làm việc của người Mỹ, người Mỹ có làm có nghỉ, còn người Việt Nam luôn làm việc rất chăm chỉ.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều cũng là một ví dụ điển hình. Nếu tôi cố theo kịp một nửa tốc độ làm việc của ông ấy thì có lẽ tôi đã bị suy nhược rồi cũng nên. Tôi nghĩ ông ấy chỉ ngủ 3-4 tiếng một ngày, còn lại là dành cho công việc.
Không chỉ nhà thơ Nguyễn Quang Thiều hay dịch giả Nguyễn Phan Quế Mai mà người Việt Nam nói chung luôn làm việc rất chăm chỉ, nỗ lực, khác hẳn với cách làm việc của người Mỹ.
Cảm nhận riêng của tôi là điều này xuất phát từ lịch sử đất nước các bạn, bao nhiêu cuộc chiến chống xâm lược đã hình thành nên trong con người Việt Nam khả năng chịu đựng, khả năng phản ứng, và họ trở thành những người luôn lao động cần cù và nỗ lực.
Chính phủ Mỹ cần phải nhận trách nhiệm
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Sau khi cuộc chiến tranh tàn khốc kết thúc, tiếp đến là cả một thời gian dài cấm vận, nay quan hệ hai nước đã được bình thường hoá và đang ở giai đoạn có thể nói là tốt đẹp hơn bao giờ hết. Vậy theo các ông, người Mỹ nên đến với người Việt Nam để tìm kiếm quan hệ ngoại giao, lợi ích chính trị, lợi nhuận thị trường hay để kiếm tìm những giá trị văn hoá?
Nhà thơ Bruce Weigl: Theo tôi điều cần kíp nhất bây giờ, cũng là điều chúng ta cũng đã bàn nhiều rồi. Trong chiến tranh, quân đội Mỹ đã rải rất nhiều chất hóa học độc hại trên đất nước Việt Nam. Hiện nay vẫn còn rất nhiều gia đình, nhiều trẻ em Việt Nam đang phải gánh chịu hậu quả của chất độc màu da cam và các hóa chất chiến tranh khác. Vì thế tôi nghĩ việc cần làm ngay bây giờ là chính phủ Mỹ phải đưa ra cam kết rõ ràng, mạnh mẽ về trách nhiệm của mình với những việc mà quân đội đã gây ra, đồng thời giúp đỡ nhân dân Việt Nam khắc phục những hậu quả đó. Bởi vì với khả năng của Việt Nam hiện tại, việc giải quyết hậu quả của chất độc da cam có thể kéo dài đến 200 - 300 năm và rất khó khăn.
Trách nhiệm thứ hai, cũng là trách nhiệm đã được ghi lại bằng văn bản trong lịch sử, khi cựu ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger đàm phán với Việt Nam đã đưa ra cam kết sẽ bồi thường chiến tranh. Tuy nhiên cho đến thời điểm này, chính phủ Mỹ vẫn chưa thực hiện lời hứa đó. Tôi cho rằng chính phủ Mỹ cần phải nhận trách nhiệm này và thực hiện nó ngay.
Điều cuối cùng tôi muốn nhấn mạnh là việc hợp tác giáo dục giữa hai nước. Mỹ với điều kiện khoa học công nghệ phát triển hơn phải giúp đỡ Việt Nam nâng cao chất lượng giáo dục, để trẻ em không chỉ ở Việt Nam mà cả trẻ em Việt Nam ở Mỹ đều có điều kiện giáo dục tốt hơn.
Khi tác giả dối lòng, tác phẩm chỉ là giả tạo
Nhà văn Larry Heineman: Tôi nhấn mạnh sự cần thiết của giao lưu văn hóa văn học giữa hai nước. Trong nhiều năm qua, đã có nhiều nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ Việt Nam sang Mỹ nói chuyện và chia sẻ các tác phẩm của mình với công chúng Mỹ. Theo chiều ngược lại, cũng cần có thêm nhiều cơ hội để các nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ Mỹ đến Việt Nam nói chuyện, giao lưu và giới thiệu các tác phẩm của họ tới công chúng Việt Nam.
Bản thân tôi có mối quan tâm đặc biệt đến văn học dân gian Việt Nam. Tôi cho rằng bản sắc chân thực nhất của một dân tộc nằm ở những câu chuyện cổ, những truyền thống cổ xưa của dân tộc đó. Để hiểu sâu sắc một dân tộc, hãy nhìn vào nền văn học dân gian rất cổ xưa được lưu giữ qua bao nhiêu đời của họ. Đó chính là nền tảng để bất cứ sự hiểu biết hay giao lưu văn hóa nào có thể cất cánh và đạt được những giá trị đích thực.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Ông vừa đề cập đến những câu chuyện cổ tích mà ông đã dành nhiều thời gian nghiên cứu, nghe và ghi chép, và có thể sau này sẽ xuất bản. Vậy ông bắt đầu đọc truyện cổ tích Việt Nam từ khi nào, và điều gì gây ấn tượng mạnh nhất cho ông ở những câu chuyện cổ tích đó?
Nhà văn Larry Heineman: Tôi bắt đầu quan tâm đặc biệt đến văn học dân gian, truyện cổ tích Việt Nam vào khoảng năm 2002 - 2003 khi tôi có cơ hội làm việc 6 tháng ở ĐH Huế. Tôi đã nghe được rất nhiều người kể lại những câu chuyện cổ tích Việt Nam, chúng khiến tôi rất thích thú và muốn tìm hiểu thêm.
Có những câu chuyện cổ tích về những anh hùng dân tộc trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, nhưng cũng có những câu chuyện về những con người rất nhỏ bé, bình dị. Ví dụ truyền thuyết về núi Bà Đen, nơi tôi từng chiến đấu mà đến tận sau này mới biết được truyền thuyết về ngọn núi đó.
Điều khiến tôi thấy thu hút nhất trong các câu chuyện cổ tích Việt Nam là ở đó hiện lên hình ảnh rất mạnh mẽ, rất đẹp của người phụ nữ Việt Nam, điều ít thấy trong văn học dân gian Mỹ. Những người phụ nữ trong truyện cổ tích Việt Nam thực sự đẹp và vĩ đại.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Quay lại với một sự kiện rất quan trọng trong đời sống văn học Việt Nam gần đây: sự kiện cuốn sách "Chuyện của Paco" của nhà văn Larry Heineman và cuốn sách "Vòng tròn của Hạnh" của nhà thơ Bruce Weigl được Nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành. Các ông cảm nhận gì về độc giả Việt Nam qua cách họ đón nhận những tác phẩm của các ông?
Nhà thơ Bruce Weigl: Tôi cảm nhận rằng độc giả Việt Nam đánh giá rất cao và rất mong mỏi tính chân thực trong những tác phẩm văn học mà họ đón nhận.
Tính chân thực không chỉ thể hiện trong sự hạn chế hư cấu, mà còn thể hiện trong cảm xúc mà người viết đem đến cho tác phẩm của mình. Bản thân tôi cũng theo đuổi điều đó trong sự nghiệp viết văn của mình.
Đối với tôi, một người viết tiểu thuyết, tôi viết từ những câu chuyện trong đời thực, sao cho một mặt nó không có khoảng cách quá xa so với thực tế, mặt khác chứa đựng những tình cảm và cảm xúc chân thực nhất của con người.
Nhà văn Larry Heineman: Tôi đồng ý với nhà thơ Bruce Weigl. Không chỉ độc giả Việt Nam mà độc giả trên toàn thế giới đều thích sự chân thực và tình cảm trong văn học. Kể cả với những người viết văn, khi họ dối lòng thì các những tác phẩm của họ đến với công chúng cũng sẽ giả tạo và không giấu được ai cả.
Những tác phẩm đó có thể thành công về mặt thương mại và bán được nhiều tiền, nhưng chúng sẽ không có chỗ đứng lâu dài trong lòng bạn đọc.
Xóa hận thù bằng sự cảm thông và hiểu biết
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Vậy theo các ông, từ trong máu chảy và hận thù của chiến tranh,người dân hai nước đã lựa chọn con đường nào để đến với nhau? Đó là nhờ ngoại giao, hay nhờ vẻ đẹp của văn học nói riêng và văn hóa nói chung?
Nhà thơ Bruce Weigl: Đối với bản thân tôi, đó là nhờ sự thông cảm và hiểu biết lẫn nhau. Tôi đã nhiều lần gặp gỡ và nói chuyện với nhà văn Bảo Ninh, giữa chúng tôi có rất nhiều mối quan tâm chung. Chúng tôi không quan tâm đến những gì quá cụ thể như chính trị, văn học, giáo dục, mà chúng tôi chia sẻ với nhau thế giới quan, nhân sinh quan. Chúng tôi nhận thấy rằng hai người có thể trở thành "anh em". Chúng tôi đều là những người đi ra từ chiến tranh và luôn chân thực với cảm xúc của mình. Chúng tôi cố gắng để có cuộc sống tốt đẹp, và đó là điều mà chúng tôi có thể chia sẻ.
Nhà văn Larry Heineman: Trong Tiếng Anh, "anh em" chỉ cùng để chỉ những người có chung cha mẹ, còn ở Việt Nam, "anh em" có ý nghĩa sâu sắc hơn rất nhiều. Khi đến Việt Nam, tôi đã gặp được những người bạn là nhà văn, nhà thơ, doanh nhân, cựu chiến binh. Họ đã đến với tôi và nói rằng "Chúng ta là anh em", và điều đó có ý nghĩa rất lớn với tôi. Khi họ gọi tôi là "anh em", tôi đã trở thành người trong gia đình của họ và với tôi, đó thực sự là một món quà quý giá mà cuộc sống dành cho mình.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Câu hỏi cuối cùng dành cho hai vị khách: Người Việt Nam và cả thế giới hay nói về nước Mỹ như nói về một cường quốc, giàu có, quân đội hùng mạnh. Các ông đã sinh ra trên đất Mỹ, đã chứng kiến cuộc sống ở đó, hai ông có thể trả lời cho độc giả biết: nước Mỹ có lo sợ điều gì không?
Nhà thơ Bruce Weigl: Điều tôi nghĩ nước Mỹ nên lo sợ nhất chính là bản thân mình và không nên lo sợ bất cứ điều gì khác. Chúng tôi đã trải qua 8 năm dưới sự lãnh đạo của một tổng thống không những không coi trọng những mong muốn của người dân mà không coi trọng tính nghiêm minh của luật pháp. Không may là trong thời gian vừa qua, đã xuất hiện thêm những người Mỹ thụ động với chính cuộc sống của mình, thụ động tới mức những gì chính phủ nói họ đều cho là đúng và không hề phản ứng. Họ bận rộn với cuộc sống của bản thân và gia đình, không lo lắng đến những vấn đề lớn lao khác.
Tuy nhiên, cách đây 2 năm, người Mỹ đã bầu lên một tổng thống da màu, điều mà cách đây 10 năm là bất khả thi đối với nước Mỹ. Những người đã bỏ phiếu cho vị Tổng thống mới này đã thực hiện lời hứa mà nước Mỹ đã hứa với thế giới: Sức mạnh của nước Mỹ nằm chính ở sự đa dạng của nước Mỹ.
Thực sự nước Mỹ cũng có nhiều tệ nạn như tham nhũng, quan liêu và nước Mỹ cũng cần tìm cách chống lại những tệ nạn này. Dù mạnh đến đâu, nếu không dám đối mặt để chống lại những tệ nạn đó, không ai có thể an toàn được trong thế giới hiện nay.
Nhà văn Larry Heineman: Tôi chỉ muốn nói một điều rất đơn giản và thẳng thắn rằng: nước Mỹ đang lặp lại sai lầm của chính mình trong cuộc chiến Iraq, sai lầm họ đã mắc trong cuộc chiến Việt Nam. Nguyên nhân không gì khác chính là sự hiếu thắng và ích kỷ của nước Mỹ, của những vị tổng thống tự cho rằng có thể kết thúc nhiệm kỳ mà không phải chịu bất cứ trách nhiệm gì về những cuộc chiến mà họ đã gây ra.
Các vị tổng thống có thể nghĩ họ sẽ phủi tay là xong, những đối với những người lính, những người là anh, là cha, là chồng, họ cảm thấy rất đau lòng khi nước Mỹ cứ lặp lại những sai lầm ngu ngốc, dường như nước Mỹ đang mắc phải một nghiệp chướng.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Tôi nghĩ rằng câu chuyện của chúng ta có thể kéo dài vô tận, nhưng hôm nay, chúng ta đã chia sẻ rất nhiều với bạn đọc VietNamNet về chiến tranh, về sự mất mát của con người, về những ngu dốt và tăm tối của họ, về cả tình yêu đối với những điều giản dị, hài hước.
Thông điệp hôm nay chúng ta đã gửi đi chính là: tình yêu thương của con người có thể loại bỏ mọi sự độc ác, bất công, vô cảm. Chúng tôi vô cùng cảm ơn hai vị khách đã đến và chia sẻ những điều kỳ diệu của cuộc sống, của văn học và nghệ thuật. Và tôi xin nhắc lại rằng : đôi khi để yêu được một điều giản dị, bình thường nhất trong cuộc đời này, người ta phải đi qua một hành trình của máu chảy, chết chóc, tuyệt vọng.
Xin chân thành cảm ơn!
nguồn: TUẦN VIỆT NAM
___________________________________________________________
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Thưa bạn đọc VietNamNet, tên của Bàn tròn trực tuyến hôm nay - Chiến tranh, đại sứ nước mắm và chuyện cổ tích - có lẽ đã nói lên nội dung xuyên suốt của câu chuyện. Hai vị khách đã đến đây, những người cách đây vài chục năm mới ở tuổi 18 đã phải cầm súng bước lên phi cơ bay từ nước Mỹ đến Việt Nam tham gia một cuộc chiến tranh. Họ đã nhận ra sự phi lí, tàn khốc, độc ác và bóng tối của cuộc chiến mà họ tiến hành trên mảnh đất bình yên và tươi đẹp này. Để rồi họ trở về nước Mỹ với sự sám hối, dày vò và những cơn mê sảng, như nhà văn Larry Heineman đã nói: "Ám ảnh chiến tranh Việt Nam với tôi giống như một xác chết còn trong nhà mà chưa được mai táng".
Sau cuộc chiến tranh, họ đã trở lại Việt Nam, đầu tiên là bằng những ý nghĩ tốt đẹp, sau đó là bằng chính con người, tâm hồn và tinh thần của họ. Một người đã trở nên vô cùng yêu quý một món ăn đơn giản - nước mắm, người kia thì yêu những câu chuyện cổ tích mà những đứa trẻ Việt Nam vẫn được nghe kể vào mỗi buổi tối. Điều đó nói lên rằng, đôi khi để yêu được một điều giản dị, bình thường nhất trong cuộc đời này, người ta phải đi qua một hành trình của máu chảy, chết chóc, tuyệt vọng.
Vị khách đầu tiên là nhà văn Larry Heineman, tiểu thuyết gia xuất sắc của nước Mỹ. Năm 1986, ông đã giành giải thưởng quốc gia với tiểu thuyết "Chuyện của Paco" - câu chuyện về một người lính với những ám ảnh, ân hận, sám hối, dày vò, đã đi tìm ánh sáng trong bóng tối đen kịt, khủng khiếp đầy máu chảy của chiến tranh.
Vị khách thứ hai là nhà thơ Bruce Weigl danh tiếng, người cách đây 15 năm đã đến Việt Nam với trái tim và tình yêu thương, đã tìm và nhận nuôi một em bé Việt Nam, đã dạy dỗ em trở thành không chỉ một công dân Mỹ tốt mà còn là một công dân Việt Nam, đã trở về tìm lại nguồn cội văn hóa của mình.
Trở lại Việt Nam không để giảm nhẹ ám ảnh chiến tranh
Tôi xin được bắt đầu câu chuyện bằng một câu hỏi cho cả hai vị khách: Cuộc chiến tranh đã kiết thúc lâu rồi, kí ức hay hội chứng chiến tranh Việt Nam trong người Mỹ cũng đã giảm đi nhiều. Thậm chí có người nói rằng trong người Mỹ không còn hội chứng chiến tranh nữa. Theo hai ông, hội chứng chiến tranh trong người Mỹ bây giờ đã được xóa đi hay đang tồn tại?
Nhà thơ Bruce Weigl: Theo tôi biết hiện nay có một hội chứng đang còn rất phổ biến ở các cựu chiến binh Mỹ là Hội chứng khủng hoảng tâm lí sau chiến tranh (PTSD). Hội chứng này chứa đựng nhiều nguyên nhân về tâm kí, khoa học mà do không phải là bác sĩ, tôi không rành lắm. Hội chứng này xuất hiện cách đây khoảng 50-60 năm và bỗng nhiên trong thời điểm hôm nay, dường như nó đang quay trở lại.
Chính phủ Mỹ rất ngại ngần không muốn nói quá nhiều đến hội chứng này vì nó rất phức tạp và không có tác dụng tốt đối với hình ảnh nước Mỹ. Thế nhưng phải thừa nhận thực tế rằng hội chứng này đang quay trở lại ngày càng nhiều, nhất là khi bắt đầu có hàng chục ngàn lính Mỹ trở về từ cuộc chiến Iraq, họ đang phải chịu đựng hội chứng kinh khủng này.
Khi tôi cảm nhận được hiện tượng đó trong xã hội, dường như tôi cũng thấy sự khủng hoảng đó quay trở lại trong mình. Tôi tưởng chỉ mình tôi có cảm giác như thế, nhưng khi nói chuyện với đồng đội cũ và bạn hữu, tôi nhận được câu trả lời rằng họ cũng đang có cảm xúc, tâm lí tương tự mình.
Các bác sĩ có chuyên môn thì khuyên tôi cách tốt nhất để đối phó với chúng là quên chúng đi, coi như chúng đã qua và để chúng lại phía sau. Nhưng tôi không nghĩ quên là một cách tốt. Chúng ta phải chịu trách nhiệm với những gì mình đã làm và chấp nhận cuộc chiến đó như một phần con người mình.
Bản thân tôi chọn cách vượt qua khủng hoảng là quay trở lại đất nước Việt Nam, giao lưu và làm việc với những người bạn Việt Nam về những dự án như xuất bản sách, dịch thơ...
Nhà văn Larry Heineman: Tôi hiểu hội chứng PTSD theo cách này: những tác động của cuộc chiến tranh vào cơ thể những người lính Mỹ đã làm thay đổi sức khỏe, trạng thái cơ thể họ. Khi họ trở về nhà, những tác động đó tiếp tục ăn sâu vào con người họ và ảnh hưởng đến cả tâm lí, suy nghĩ, tình cảm của họ.
Nhà thơ Bruce Weigl có nói đến vòng luẩn quẩn của hội chứng khủng hoảng này, điều đó là có thật. Những cựu chiến binh trở về sau Thế chiến thứ II giờ đây đã ở độ tuổi 70, 80, trong đó có cha tôi, lại đang bắt đầu cảm thấy những cơn mất ngủ, đau đầu và ác mộng quay lại dày vò họ, dù cho cuộc chiến đó đã qua rất lâu rồi.
Giống như cách nhà thơ Bruce Weigl đã chọn để đối phó với khủng hoảng của bản thân mình, tôi cũng vài lần trở lại Việt Nam, không phải với mục đích làm giảm nhẹ ám ảnh chiến tranh trong mình. Tôi quay lại để thưởng thức những gì tuyệt vời nhất trong cuộc sống của người Việt Nam, những món ăn, giá trị văn hóa, đến Hà Nội chỉ để tận hưởng không khí cuộc sống của người Hà Nội.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Tôi còn nhớ chính xác năm 1994, trong ngôi nhà của ông ở Chicago, khi chúng ta cùng uống cà phê, ông đã đọc báo và nói cho tôi biết có một vị giáo sư đại học ở Chiacgo, một cựu binh Mỹ từng gặt hái nhiều thành công trong sự nghiệp, cuối cùng vẫn tìm đến cách tự sát bởi không chịu nổi những ám ảnh chiến tranh. Câu chuyện đó cho thấy những cơn ác mộng của chiến tranh vẫn đè nén nặng thế nào đối với cụu binh Mỹ. Bây giờ hiện tượng cựu binh Mỹ trở về từ chiến tranh VN tự sát có còn không và nó như thế nào?
Nhà văn Larry Heineman: Theo tôi biết, trong những năm đầu sau khi cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc, nhiều cựu chiến binh Mỹ đã tìm cách tự sát bằng cách lái xe lao vào chân cầu hoặc bắn súng vào đầu, nghĩa là họ chọn cách chết thật nhanh chóng, ngay lập tức. Nhưng cũng có những người chọn cách khác để tự dày vò bản thân, đó là uống rượu và dùng ma tuý. Nhiều người đã trở thành những con nghiện bởi không thể chạy trốn khỏi những kí ức quá tồi tệ của cuộc chiến tranh.
Bản thân tôi không chọn cách tự tử hay uống rượu để làm giảm đi những nỗi đau trong mình. Tôi nghĩ chúng chẳng có ích lợi gì hết.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Còn nhà thơ Bruce Weigl, ông đã chọn cách gì để đi qua những ký ức chiến tranh?
Nhà thơ Bruce Weigl: Ban đầu khi tôi chọn viết lách để giúp mình vượt qua những ám ảnh chiến tranh, tôi không nhận thức được nó lại có tác dụng lớn đến thế. Nhưng bây giờ tôi cảm thấy rõ ràng tôi đã chọn được một cách tốt, bởi nó giúp tôi nói ra được suy nghĩ của mình, kiểm soát được những biểu hiện tâm lí tình cảm của mình.
Nhưng điều có ý nghĩa nhất mà tôi đã làm, là sau 20 năm chìm đắm trong những cơn ác mộng chiến tranh, tôi quyết định quay trở lại Việt Nam năm 1985, sự trở lại đã thay đổi cuộc đời tôi. Sự thay đổi đó tiếp tục khi tôi ngày càng có nhiều bạn bè, người thân ở Việt Nam. Càng ngày Việt Nam đối với tôi không còn là cuộc chiến tranh nữa mà là một đất nước.
Phải lòng... nước mắm
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Nhà thơ Bruce Weigl, tôi đã rất "choáng" khi biết ông tự nhận mình là "Đại sự nước mắm" của Việt Nam. Chính quyền đảo Phú Quốc - nơi sản sinh ra loại nước mắm nổi tiếng hàng đầu của Việt Nam - cũng đã mời ông đến thăm. Vậy điều gì, điều bí ẩn nào của nước mắm, đã dẫn ông, một người Mỹ tìm đến loại thực phẩm cực kỳ đặc trưng này của Việt Nam?
Nhà thơ Bruce Weigl: Tôi nghĩ điều làm nên điểm đặc sắc nhất của các món ăn Việt Nam chính là hương vị.
Nhà văn Bảo Ninh từng kể với tôi rằng trong chiến tranh, khi ông ấy và đồng đội tìm được thức ăn đóng hộp của lính Mỹ, họ đã rất sung sướng bởi cuối cùng cũng có cái gì đó để ăn. Nhưng bản thân tôi lại không thể ăn được loại thức ăn đó, gần như tôi ăn vào mà chẳng có cảm giác gì.
Khi tôi chiến đấu ở Việt Nam, trong đơn vị tôi có một vài người lính miền Nam Cộng hòa. Khi chúng tôi đóng quân ở vùng nông thôn, lính Mỹ không được phép vào làng, nhưng lính miền Nam Cộng hòa thì có thể. Họ đã vào làng và mang thức ăn tươi về nấu nướng trong các lán trại của họ. Một lần đi qua, tôi thấy họ đang ăn vịt quay cùng với rất nhiều gia vị và rau tươi. Họ mời tôi ăn cùng và tôi đã ngồi xuống ăn, bất chấp lời khuyên can của các đồng đội Mỹ. Tôi đã được thưởng thức thịt quay, rau tươi và đặc biệt là món nước mắm ăn kèm.
Đó là lần đầu tiên tôi ăn nước mắm và ngay lập tức phải lòng nó. Một người lính miền Nam Cộng hòa thậm chí đã nói với tôi rằng, khi sắp chết đói mà được cho một bát cơm, nếu không có nước mắm thì anh ta cũng chẳng thèm ăn cơm nữa.
Tôi đã hỏi những người lính ấy cách làm nước mắm: bắt cá ngoài biển, phơi khô và để cho nước cốt của cá chảy ra rồi trưng nước cốt đó lên.
Khi quay lại Mỹ, vì không tìm thấy ở bất cứ đâu bán nước mắm, tôi quyết định tự làm theo cách đã được họ dạy. Tôi bắt cá và phơi ở sân sau nhà bố tôi nhưng lại quên mất. Một buổi sáng, tôi thấy rất nhiều cảnh sát đến nhà mình và nói rằng họ nghi ngờ trong sân nhà tôi có một xác chết. Tôi hiểu ngay ra là có chuyện gì.
Đó là lần đầu tiên tôi tự làm nước mắm, bây giờ mọi chuyện đã khác nhiều. Tôi đã hiểu nhiều về nước mắm, biết nhiều loại nước mắm và thậm chí dùng nước mắm khi nấu ăn. Tôi rất thích nấu ăn và mời bạn bè đến thưởng thức. Họ thường thắc mắc tôi cho nguyên liệu gì vào món ăn mà ngon thế. Tôi không bao giờ tiết lộ bí mật của mình, điều luôn làm cho các món ăn tôi nấu ngon hơn rất nhiều.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Quả thật sau khi nghe câu chuyện này, có lẽ không còn cách nào khác là những người làm nước mắm ở Việt Nam nên chính thức phong ông làm "Đại sứ nước mắm". Tôi cũng là người viết mà chưa từng thấy ai viết và nói về nước mắm hay và hấp dẫn như ông. Mặc dù hàng ngày tôi đều ăn nước mắm, nhưng tình yêu với nước mắm của tôi không lớn được như của ông, đó là một điều kỳ diệu.
Ông, nhà văn Heineman và các nhà văn Mỹ khác đã có công phát hiện ra một Việt Nam cho chính người Việt Nam. Các ông đã dạy chúng tôi yêu nhiều vẻ đẹp rất Việt Nam mà chúng tôichưa phát hiện ra hoặc đang dần tự đánh mất. Câu chuyện của hai ông và chính sự trải nghiệm của bản thân hai ông về Việt nam đã nói với những người Việt Nam rất nhiều điều.
Đổi cách nhìn và mối quan tâm về Việt Nam
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Tôi biết rằng, thời gian đầu sau khi chiến tranh kết thúc, việc giảng dạy về chiến tranh Việt Nam trong các nhà trường của Mỹ đã trở thành một môn học rất quan trọng. Cả hai ông cũng đã từng tham gia nói chuyện và giảng bài về cuộc chiến này. Vậy đến nay, các trường học ở Mỹ có còn giảng dạy về chiến tranh Việt Nam không và có khác vì với nội dung giảng dạy của những năm đầu tiên sau chiến tranh không?
Nhà thơ Bruce Weigl: Môn học về chiến tranh Việt Nam đã đang và vẫn sẽ là môn học quan trọng, thu hút sự quan tâm của những người học ở Mỹ. Đặc biệt là sau cuộc chiến tranh Iraq vừa rồi, giới trẻ, sinh viên Mỹ một lần nữa nhìn thấy lại hình ảnh đã xảy ra với chiến tranh Việt Nam: nước Mỹ lại một lần nữa tham gia vào một cuộc chiến vô nghĩa, một lần nữa nước Mỹ xâm lược một đất nước nghèo, áp bức một dân tộc nghèo.
Nhà văn Heineman: Trong những năm 1970, môn học về chiến tranh Việt Nam đã được giảng dạy lần đầu tiên tại trường ĐH California, và ngay từ buổi học đầu tiên đó, đã có đến 400 sinh viên đến nghe.
Không chỉ môn học chiến tranh Việt Nam mà môn học về văn hóa, văn học Việt Nam cũng được giảng dạy và nhanh chóng trở thành một phần quan trọng trong việc giảng dạy văn hóa và văn học ở các trường đại học Mỹ.
Bản thân tôi đã từng tham gia giảng dạy về cuộc chiến tranh Việt Nam ở trường ĐH Texas, nó được đặt trong bộ môn lịch sử của trường. Tôi được mời đến làm giáo viên thỉnh giảng và trong những buổi nói chuyện của tôi, thường xuyên có 400-500 sinh viên nghe. Lần nào cũng vậy, các giáo viên đều rất vui khi được nghe những bài giảng như thế. Sinh viên thì sốc và bất ngờ khi được nghe kể những câu chuyện thực sự từ một người đã tham chiến với tư cách người lính.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Có thể qua một thời gian rất dài, 35 năm kể từ khi cuộc chiến kết thúc, những câu hỏi của người Mỹ về chiến tranh Việt Nam đã thay đổi. Là những người đã giảng dạy và nhận được ngàn câu hỏi về chủ đề này, các ông thấy câu hỏi của bạn đọc bây giờ có gì khác với câu hỏi của họ trước kia không? Mối quan tâm về cuộc chiến đó có thể không thay đổi, nhưng nội dung họ quan tâm có thay đổi hay không?
Nhà thơ Bruce Weigl: Những câu hỏi tôi nhận được vào thời điểm vài năm sau chiến tranh và thời điểm bây giờ khác nhau khá nhiều.
Thời điểm tôi vừa trở về sau chiến tranh, những câu hỏi đặt ra cho tôi chỉ đơn giản như anh đến đấy bao lâu, anh đã giết được bao nhiêu người, đơn vị của anh đã tiêu diệt được bao nhiêu lính Việt cộng... Nhưng bây giờ, sau khi hai nước đã bình thường hóa quan hệ, giao lưu văn hóa văn học được đẩy mạnh, nhiều tác phẩm thơ ca Việt Nam đã được dịch ra tiếng Anh và đến với công chúng Mỹ, mối quan tâm của công chúng Mỹ đã thay đổi nhiều. Họ muốn tìm hiểu nhiều hơn về đất nước, con người, văn hóa nghệ thuật và lịch sử Việt Nam.
Nhà văn Larry Heineman: Câu hỏi các sinh viên đặt ra cho tôi thường quan tâm đến vấn đề khá cụ thể, nhất là những sinh viên đang học để trở thành sĩ quan quân đội. Họ thường hỏi có gì khác giữa chiến trường Việt Nam và chiến trường Iraq, Afganishtan bây giờ không. Tôi trả lời họ rằng, đối với một người lính, chiến trường nào cũng giống nhau. Tôi thành thực khuyên họ trước khi sang chiến trường Iraq hay Afganishtan, họ hãy cố gắng tìm hiểu về đất nước, con người ở đó để biết mình sẽ đặt chân đến đâu, sẽ gặp những con người ra sao...
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Đó là mối quan tâm của công chúng, vậy còn những nhà văn, nhà thơ thì sao? Một cuốn sách viết năm 1970-1975 và một cuốn sách viết năm 2010 cùng về cuộc chiến Việt Nam sẽ khác nhau thế nào? Là nhà văn, nhà thơ, các ông nhận thấy những tác phẩm văn học viết về chiến tranh Việt Nam đã có sự thay đổi thế nào qua những giai đoạn khác nhau?
Nhà thơ Bruce Weigl: Thực sự có những thay đổi trong cách nhìn nhận và cách viết của các nhà văn Mỹ từ thời điểm sau chiến tranh đến nay. Đó là sự thay đổi theo chiều hướng ngày càng có thêm sự hiểu biết và thông cảm trong những tác phẩm của họ.
Với bản thân tôi, việc này đã diễn ra bắt đầu từ khoảng năm 1990 khi tôi quay trở lại Việt Nam lần đầu tiên gặp gỡ nhà thơ Nguyễn Quang Thiều và những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng khác ở Việt Nam.
Đã có một sự trao đổi thẳng thắn giữa những người lính trước kia từng ở hai chiến tuyến khác nhau, và qua những cuộc trao đổi, trò chuyện đó, thực sự đã có sự thông cảm sẻ chia và đã đem lại những thay đổi tích cực trong những tác phẩm của tôi.
Chính vì thế tôi luôn cố gắng trở lại Việt Nam càng nhiều càng tốt mỗi khi có điều kiện về thời gian và tiền bạc. Tôi trở về Việt Nam như trở về mái nhà ấm áp thứ hai của mình.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Các ông cũng đã có điều kiện gặp gỡ người Việt Nam, tiếp xúc và đọc các tác phẩm của họ. Các ông ấn tượng nhất về điều gì ở các nhà văn, nhà thơ Việt Nam và những tác phẩm của họ?
Nhà thơ Bruce Weigl: Điều đầu tiên tôi phải nhìn nhận là người Việt Nam, không chỉ các nhà văn, nhà thơ mà người Việt Nam nói chung, lao động cần cù chăm chỉ hơn rất nhiều so với người Mỹ.
Tôi đã viết sách 30 năm nay, nhưng chưa bao giờ tôi làm việc vất vả, căng thẳng và năng suất như trong 6 tháng gần đây làm việc với dịch giả Nguyễn Phan Quế Mai để cho ra đời cuốn sách "Sau mưa thôi nã đạn". Một ngày làm việc của tôi thường kết thúc vào lúc 7h tối để ăn uống và nghỉ ngơi, nhưng với dịch giả Nguyễn Phan Quế Mai, cô ấy không ngừng làm việc chừng nào chưa xong việc, thậm chí là chừng nào công việc chưa hoàn hảo. Đó không phải là cách làm việc của người Mỹ, người Mỹ có làm có nghỉ, còn người Việt Nam luôn làm việc rất chăm chỉ.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều cũng là một ví dụ điển hình. Nếu tôi cố theo kịp một nửa tốc độ làm việc của ông ấy thì có lẽ tôi đã bị suy nhược rồi cũng nên. Tôi nghĩ ông ấy chỉ ngủ 3-4 tiếng một ngày, còn lại là dành cho công việc.
Không chỉ nhà thơ Nguyễn Quang Thiều hay dịch giả Nguyễn Phan Quế Mai mà người Việt Nam nói chung luôn làm việc rất chăm chỉ, nỗ lực, khác hẳn với cách làm việc của người Mỹ.
Cảm nhận riêng của tôi là điều này xuất phát từ lịch sử đất nước các bạn, bao nhiêu cuộc chiến chống xâm lược đã hình thành nên trong con người Việt Nam khả năng chịu đựng, khả năng phản ứng, và họ trở thành những người luôn lao động cần cù và nỗ lực.
Chính phủ Mỹ cần phải nhận trách nhiệm
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Sau khi cuộc chiến tranh tàn khốc kết thúc, tiếp đến là cả một thời gian dài cấm vận, nay quan hệ hai nước đã được bình thường hoá và đang ở giai đoạn có thể nói là tốt đẹp hơn bao giờ hết. Vậy theo các ông, người Mỹ nên đến với người Việt Nam để tìm kiếm quan hệ ngoại giao, lợi ích chính trị, lợi nhuận thị trường hay để kiếm tìm những giá trị văn hoá?
Nhà thơ Bruce Weigl: Theo tôi điều cần kíp nhất bây giờ, cũng là điều chúng ta cũng đã bàn nhiều rồi. Trong chiến tranh, quân đội Mỹ đã rải rất nhiều chất hóa học độc hại trên đất nước Việt Nam. Hiện nay vẫn còn rất nhiều gia đình, nhiều trẻ em Việt Nam đang phải gánh chịu hậu quả của chất độc màu da cam và các hóa chất chiến tranh khác. Vì thế tôi nghĩ việc cần làm ngay bây giờ là chính phủ Mỹ phải đưa ra cam kết rõ ràng, mạnh mẽ về trách nhiệm của mình với những việc mà quân đội đã gây ra, đồng thời giúp đỡ nhân dân Việt Nam khắc phục những hậu quả đó. Bởi vì với khả năng của Việt Nam hiện tại, việc giải quyết hậu quả của chất độc da cam có thể kéo dài đến 200 - 300 năm và rất khó khăn.
Trách nhiệm thứ hai, cũng là trách nhiệm đã được ghi lại bằng văn bản trong lịch sử, khi cựu ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger đàm phán với Việt Nam đã đưa ra cam kết sẽ bồi thường chiến tranh. Tuy nhiên cho đến thời điểm này, chính phủ Mỹ vẫn chưa thực hiện lời hứa đó. Tôi cho rằng chính phủ Mỹ cần phải nhận trách nhiệm này và thực hiện nó ngay.
Điều cuối cùng tôi muốn nhấn mạnh là việc hợp tác giáo dục giữa hai nước. Mỹ với điều kiện khoa học công nghệ phát triển hơn phải giúp đỡ Việt Nam nâng cao chất lượng giáo dục, để trẻ em không chỉ ở Việt Nam mà cả trẻ em Việt Nam ở Mỹ đều có điều kiện giáo dục tốt hơn.
Khi tác giả dối lòng, tác phẩm chỉ là giả tạo
Nhà văn Larry Heineman: Tôi nhấn mạnh sự cần thiết của giao lưu văn hóa văn học giữa hai nước. Trong nhiều năm qua, đã có nhiều nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ Việt Nam sang Mỹ nói chuyện và chia sẻ các tác phẩm của mình với công chúng Mỹ. Theo chiều ngược lại, cũng cần có thêm nhiều cơ hội để các nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ Mỹ đến Việt Nam nói chuyện, giao lưu và giới thiệu các tác phẩm của họ tới công chúng Việt Nam.
Bản thân tôi có mối quan tâm đặc biệt đến văn học dân gian Việt Nam. Tôi cho rằng bản sắc chân thực nhất của một dân tộc nằm ở những câu chuyện cổ, những truyền thống cổ xưa của dân tộc đó. Để hiểu sâu sắc một dân tộc, hãy nhìn vào nền văn học dân gian rất cổ xưa được lưu giữ qua bao nhiêu đời của họ. Đó chính là nền tảng để bất cứ sự hiểu biết hay giao lưu văn hóa nào có thể cất cánh và đạt được những giá trị đích thực.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Ông vừa đề cập đến những câu chuyện cổ tích mà ông đã dành nhiều thời gian nghiên cứu, nghe và ghi chép, và có thể sau này sẽ xuất bản. Vậy ông bắt đầu đọc truyện cổ tích Việt Nam từ khi nào, và điều gì gây ấn tượng mạnh nhất cho ông ở những câu chuyện cổ tích đó?
Nhà văn Larry Heineman: Tôi bắt đầu quan tâm đặc biệt đến văn học dân gian, truyện cổ tích Việt Nam vào khoảng năm 2002 - 2003 khi tôi có cơ hội làm việc 6 tháng ở ĐH Huế. Tôi đã nghe được rất nhiều người kể lại những câu chuyện cổ tích Việt Nam, chúng khiến tôi rất thích thú và muốn tìm hiểu thêm.
Có những câu chuyện cổ tích về những anh hùng dân tộc trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, nhưng cũng có những câu chuyện về những con người rất nhỏ bé, bình dị. Ví dụ truyền thuyết về núi Bà Đen, nơi tôi từng chiến đấu mà đến tận sau này mới biết được truyền thuyết về ngọn núi đó.
Điều khiến tôi thấy thu hút nhất trong các câu chuyện cổ tích Việt Nam là ở đó hiện lên hình ảnh rất mạnh mẽ, rất đẹp của người phụ nữ Việt Nam, điều ít thấy trong văn học dân gian Mỹ. Những người phụ nữ trong truyện cổ tích Việt Nam thực sự đẹp và vĩ đại.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Quay lại với một sự kiện rất quan trọng trong đời sống văn học Việt Nam gần đây: sự kiện cuốn sách "Chuyện của Paco" của nhà văn Larry Heineman và cuốn sách "Vòng tròn của Hạnh" của nhà thơ Bruce Weigl được Nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành. Các ông cảm nhận gì về độc giả Việt Nam qua cách họ đón nhận những tác phẩm của các ông?
Nhà thơ Bruce Weigl: Tôi cảm nhận rằng độc giả Việt Nam đánh giá rất cao và rất mong mỏi tính chân thực trong những tác phẩm văn học mà họ đón nhận.
Tính chân thực không chỉ thể hiện trong sự hạn chế hư cấu, mà còn thể hiện trong cảm xúc mà người viết đem đến cho tác phẩm của mình. Bản thân tôi cũng theo đuổi điều đó trong sự nghiệp viết văn của mình.
Đối với tôi, một người viết tiểu thuyết, tôi viết từ những câu chuyện trong đời thực, sao cho một mặt nó không có khoảng cách quá xa so với thực tế, mặt khác chứa đựng những tình cảm và cảm xúc chân thực nhất của con người.
Nhà văn Larry Heineman: Tôi đồng ý với nhà thơ Bruce Weigl. Không chỉ độc giả Việt Nam mà độc giả trên toàn thế giới đều thích sự chân thực và tình cảm trong văn học. Kể cả với những người viết văn, khi họ dối lòng thì các những tác phẩm của họ đến với công chúng cũng sẽ giả tạo và không giấu được ai cả.
Những tác phẩm đó có thể thành công về mặt thương mại và bán được nhiều tiền, nhưng chúng sẽ không có chỗ đứng lâu dài trong lòng bạn đọc.
Xóa hận thù bằng sự cảm thông và hiểu biết
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Vậy theo các ông, từ trong máu chảy và hận thù của chiến tranh,người dân hai nước đã lựa chọn con đường nào để đến với nhau? Đó là nhờ ngoại giao, hay nhờ vẻ đẹp của văn học nói riêng và văn hóa nói chung?
Nhà thơ Bruce Weigl: Đối với bản thân tôi, đó là nhờ sự thông cảm và hiểu biết lẫn nhau. Tôi đã nhiều lần gặp gỡ và nói chuyện với nhà văn Bảo Ninh, giữa chúng tôi có rất nhiều mối quan tâm chung. Chúng tôi không quan tâm đến những gì quá cụ thể như chính trị, văn học, giáo dục, mà chúng tôi chia sẻ với nhau thế giới quan, nhân sinh quan. Chúng tôi nhận thấy rằng hai người có thể trở thành "anh em". Chúng tôi đều là những người đi ra từ chiến tranh và luôn chân thực với cảm xúc của mình. Chúng tôi cố gắng để có cuộc sống tốt đẹp, và đó là điều mà chúng tôi có thể chia sẻ.
Nhà văn Larry Heineman: Trong Tiếng Anh, "anh em" chỉ cùng để chỉ những người có chung cha mẹ, còn ở Việt Nam, "anh em" có ý nghĩa sâu sắc hơn rất nhiều. Khi đến Việt Nam, tôi đã gặp được những người bạn là nhà văn, nhà thơ, doanh nhân, cựu chiến binh. Họ đã đến với tôi và nói rằng "Chúng ta là anh em", và điều đó có ý nghĩa rất lớn với tôi. Khi họ gọi tôi là "anh em", tôi đã trở thành người trong gia đình của họ và với tôi, đó thực sự là một món quà quý giá mà cuộc sống dành cho mình.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Câu hỏi cuối cùng dành cho hai vị khách: Người Việt Nam và cả thế giới hay nói về nước Mỹ như nói về một cường quốc, giàu có, quân đội hùng mạnh. Các ông đã sinh ra trên đất Mỹ, đã chứng kiến cuộc sống ở đó, hai ông có thể trả lời cho độc giả biết: nước Mỹ có lo sợ điều gì không?
Nhà thơ Bruce Weigl: Điều tôi nghĩ nước Mỹ nên lo sợ nhất chính là bản thân mình và không nên lo sợ bất cứ điều gì khác. Chúng tôi đã trải qua 8 năm dưới sự lãnh đạo của một tổng thống không những không coi trọng những mong muốn của người dân mà không coi trọng tính nghiêm minh của luật pháp. Không may là trong thời gian vừa qua, đã xuất hiện thêm những người Mỹ thụ động với chính cuộc sống của mình, thụ động tới mức những gì chính phủ nói họ đều cho là đúng và không hề phản ứng. Họ bận rộn với cuộc sống của bản thân và gia đình, không lo lắng đến những vấn đề lớn lao khác.
Tuy nhiên, cách đây 2 năm, người Mỹ đã bầu lên một tổng thống da màu, điều mà cách đây 10 năm là bất khả thi đối với nước Mỹ. Những người đã bỏ phiếu cho vị Tổng thống mới này đã thực hiện lời hứa mà nước Mỹ đã hứa với thế giới: Sức mạnh của nước Mỹ nằm chính ở sự đa dạng của nước Mỹ.
Thực sự nước Mỹ cũng có nhiều tệ nạn như tham nhũng, quan liêu và nước Mỹ cũng cần tìm cách chống lại những tệ nạn này. Dù mạnh đến đâu, nếu không dám đối mặt để chống lại những tệ nạn đó, không ai có thể an toàn được trong thế giới hiện nay.
Nhà văn Larry Heineman: Tôi chỉ muốn nói một điều rất đơn giản và thẳng thắn rằng: nước Mỹ đang lặp lại sai lầm của chính mình trong cuộc chiến Iraq, sai lầm họ đã mắc trong cuộc chiến Việt Nam. Nguyên nhân không gì khác chính là sự hiếu thắng và ích kỷ của nước Mỹ, của những vị tổng thống tự cho rằng có thể kết thúc nhiệm kỳ mà không phải chịu bất cứ trách nhiệm gì về những cuộc chiến mà họ đã gây ra.
Các vị tổng thống có thể nghĩ họ sẽ phủi tay là xong, những đối với những người lính, những người là anh, là cha, là chồng, họ cảm thấy rất đau lòng khi nước Mỹ cứ lặp lại những sai lầm ngu ngốc, dường như nước Mỹ đang mắc phải một nghiệp chướng.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Tôi nghĩ rằng câu chuyện của chúng ta có thể kéo dài vô tận, nhưng hôm nay, chúng ta đã chia sẻ rất nhiều với bạn đọc VietNamNet về chiến tranh, về sự mất mát của con người, về những ngu dốt và tăm tối của họ, về cả tình yêu đối với những điều giản dị, hài hước.
Thông điệp hôm nay chúng ta đã gửi đi chính là: tình yêu thương của con người có thể loại bỏ mọi sự độc ác, bất công, vô cảm. Chúng tôi vô cùng cảm ơn hai vị khách đã đến và chia sẻ những điều kỳ diệu của cuộc sống, của văn học và nghệ thuật. Và tôi xin nhắc lại rằng : đôi khi để yêu được một điều giản dị, bình thường nhất trong cuộc đời này, người ta phải đi qua một hành trình của máu chảy, chết chóc, tuyệt vọng.
Xin chân thành cảm ơn!
nguồn: TUẦN VIỆT NAM
___________________________________________________________
Thứ Hai, 3 tháng 1, 2011
Văn xuôi 2010: vẫn là giai đoạn tìm kiếm
- “Giai đoạn tìm kiếm của văn học” có vẻ như là cụm từ được lặp đi lặp lại trong nhiều năm gần đây ở các cuộc phỏng vấn. Và liệu giai đoạn này sẽ kéo dài bao lâu vẫn là một câu hỏi khó cho tất cả những ai quan tâm đến tình hình văn học nước nhà. Để nhìn lại chặng đường văn xuôi năm 2010, chúng tôi xin giới thiệu cuộc phỏng vấn với nhà văn Trần Văn Tuấn.
PV: Theo quan sát của nhà văn thì tình hình văn xuôi năm 2010 có gì đáng chú ý và nổi bật?
Nhà văn Trần Văn Tuấn: Bối cảnh chung của văn học thế giới hiện nay được công chúng ít quan tâm, trầm lắng và không được như trước. Tình hình văn học Việt Nam cũng không nằm ngoài bối cảnh chung đó.
Riêng sự quan sát của cá nhân tôi thì thấy, trong năm 2010 số lượng tác phẩm văn học viết về đề tài lịch sử tăng lên, sách dày, nhiều cuốn đều từ 300 trang trở lên. Thể loại tiểu thuyết còn ít, so với tập truyện ngắn. Bên cạnh đó đề tài tình yêu vẫn được khai thác nhiều.
Nói chung trong năm 2010 vẫn là ở giai đoạn tìm kiếm, những người viết cả nhà văn có kinh nghiệm và các cây bút mới chưa có gì thật sự nổi bật, chưa có hiện tượng. Một vài tác phẩm có “nhô” lên một chút nhưng chưa phải là hiện tượng khiến dư luận bàn luận nhiều.
PV: Năm 2010 lần lược các cuộc thi tiếu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam, cuộc thi tiểu thuyết, truyện ký của Bộ Công an và Hội Nhà văn, cuộc thi văn học tuổi hai mươi công bố kết quả. Theo nhà văn thì kết quả từ những cuộc thi đó có được coi là “điểm” để chúng ta nhìn lại diện mạo văn học Việt Nam 10 năm đầu của thế kỷ này chưa?
Nhà văn Trần Văn Tuấn: Theo tôi thì bây giờ đánh giá văn học 10 năm là còn quá sớm. Nhưng qua các cuộc thi đó thì thấy đây là một tín hiệu vui vì còn nhiều người tâm huyết với văn học. Như tôi đã nói ở trên, đây là thời kỳ tìm kiếm, chúng ta đều mong muốn cái mới cho văn học, trong khi đó thì những cái cũ chưa hẳn đã mất và cái mới chỉ là manh nha… Thực ra tất cả những gì đang diễn ra hiện nay là điều bình thường.
PV: Qua sự tổng kết của mình thì nhà văn thấy có những gương mặt văn xuôi nào đáng chú ý và hứa hẹn cho văn học Việt Nam?
Nhà văn Trần Văn Tuấn: Chúng ta từng biết đến những cái tên Ngô Phan Lưu, Mạc Can dù không còn trẻ nhưng được gọi là “Nhà văn trẻ” vì sự xuất hiện của họ có cái riêng, có cá tính. Nói như vậy để thấy rằng tất cả những người cầm bút đều chứa trong mình tiềm ẩn bên trong. Tuy vậy, theo tôi thì gương mặt văn xuôi đáng chú ý là những nhà văn trẻ ở độ tuổi 45 trở xuống. Bởi về mặt sinh học họ còn sức lực, nhiều mối quan hệ mới mẻ có thể hứa hẹn tạo ra diện mạo văn học cho 5, 6 năm tới như Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Danh Lam, Trần Nhã Thuỵ…
PV: Nhà văn thấy tiếu thuyết của cây bút trẻ với những cây bút lâu năm có khoảng cách lớn không?
Nhà văn Trần Văn Tuấn: Tôi cho rằng không nên tính khoảng cách độ tuổi mà nên tính khoảng cách tác phẩm. Những tác phẩm đề lại dấu ấn riêng của Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Huy Thiệp hầu như là tác phẩm xuất hiện trong giai đoạn đầu sáng tác.
Viết lâu năm có thế mạnh của viết lâu năm, mới có thế mạnh của mới. Người viết mới dù mạch văn không kinh nghiệm nhưng lại có sự tươi mới. Người viết lâu năm chín chắn hơn, có chiều sâu hơn, khát quát và truyền cảm hơn. Đặc biệt họ có kinh nghiệm để sử lý kết cấu, xây dựng bố cục. Nhưng họ lại rất dễ lặp lại chính mình, có thể rất vô thức. Vì thế rất khó để phân biệt khoảng cách của cây bút trẻ với cây bút lâu năm.
PV: Để làm bệ phóng cho những nhà văn trẻ bắt tay vào viết tiểu thuyết, theo ông thì ngoài nỗ lực tự thân của tác giả, các cơ quan chuyên trách văn học như Hội Nhà văn Việt Nam, Hội văn học nghệ thuật địa phương nên làm gì để tác phẩm có chất lượng nghệ thuật hơn?
Nhà văn Trần Văn Tuấn: Để có tác phẩm văn học chất lượng thì nỗ lực tự thân của tác giả là 80%, 20% mới là tác động hỗ trợ bên ngoài. Các Hội văn học cần phải có phương hướng để đầu tư chọn lọc, tránh tình trạng cào bằng như trước. Ví dụ một hội văn học có 300 người thì chỉ chọn ra 50 người có tài đề đầu tư. Khi đã chọn được người đầu tư rồi thì phải đầu tư hợp lý phù hợp sở trường của từng cá nhân.
PV: Sự ồn ào của những cây bút trẻ chạy theo những trào lưu từ hiện thực cuộc sống như đồng tính, thuốc lắc, tội phạm internet… có vẻ như những mảnh ghép của báo chí. Tại sao các nhà văn lớn tuổi lại không đề cập vấn đề ấy như một cách nhìn của người lớn, người từng trải mà dường như chỉ là đề tài của người viết trẻ?
Nhà văn Trần Văn Tuấn: Điều này phản ánh sự thật xã hội. Tất cả hoạt động của xã hội như thế nào thì văn học đều có. Nhưng nhiều khi người ta lợi dụng để khai thác nó thô thiển hoặc vì họ ít tài nên chưa hay. Một tác phẩm lớn dù viết về cái gì, đề tài gì thì thông điệp phải có tính chất tư tưởng của xã hội. Một người cầm bút nghiêm túc phải có nền tảng tư tưởng vững chức, phải có lòng tự trọng, ý thức văn hoá… những hiện tượng xã hội hay những bề nổi trong văn học nhiều khi phải cần thuốc chữa, nhưng có khi không cần thuốc cũng khỏi.
Trở lại vấn đề bạn đề cập, tôi trả lời thế này: Bản thân tôi cũng là nhà văn lớn tuổi, tôi tự biết sở trường, sở đoản của mình là gì. Trong khi đó những nhà văn lớn tuổi ở ta phần nhiều đều trải qua chiến tranh. Và mặc dù chiến tranh đã qua rất lâu nhưng người viết vẫn bị ám ảnh kí ức. Người viết nặng lòng với quá khứ nên sở trường là cái đã qua, viết là sử dụng kí ức.
Hơn nữa, đề tài hiện đại dù rất hấp dẫn, nhưng bản thân nhà văn thấy mình chưa am hiểu nhiều nên chưa thể cầm bút viết. Những gì chưa am hiểu là điều tối kị với người viết văn xuôi. Phải biết rõ, tường tận mới viết được. Không như thơ, nhà thơ có thể cầm bút viết về cái còn mơ hồ, viết bằng cảm giác, cảm nhận.
Đề tài hiện đại nó phản ánh cuộc sống của lớp trẻ, trong khi với nhà văn lớn tuổi thì tuổi trẻ chính là kí ức về chiến tranh với luyến tiếc, với cận kề sống chết… Đây là điều cơ bản rất khác khiến các nhà văn lớn tuổi không mặn mà, chưa quan tâm và chưa kích thích để viết.
PV: Xin được hỏi thêm, nếu như nhà văn nói rằng vì mình không hiểu cũng như có sự khác biệt giữa thế hệ trẻ của mình với thế hệ trẻ hiện nay nên không hoặc chưa viết về những đề tài trên thì không lẽ những người đã và đang viết về đề tài này họ phải cặn kẽ đến mức mang bản thân mình ra làm thí nghiệm mới viết được sao? Trong khi tất cả người cầm bút đều có thể khai thác vấn đề đó qua sách, báo, mạng, thực tế hàng ngày… mà không cần phải có trải nghiệm bản thân (nói vui là thí nghiệm bản thân)?
Nhà văn Trần Văn Tuấn: Tôi nghĩ tiếp cận đề tài này thì lớp trẻ có lợi thế hơn hẳn chúng tôi, quan niệm khác chúng tôi. Ví dụ như Nguyễn Nhật Ánh viết về lứa tuổi teen ai dám bảo ông ấy không biết gì về cuộc sống của lớp trẻ hiện nay với đồng tính... Nhưng rõ ràng trong tác phẩm Nguyễn Nhật Ánh phần nhiều vẫn là kí ức tuổi thơ trong trẻo của bản thân đã qua. Đây là điều tự nhiên của văn chương, đặc biệt là của người viết văn xuôi.
PV: Theo nhà văn, để khuyến khích những cây bút trẻ cũng như những nhà văn tên tuổi đã định hình được phong cách mạnh dạn thay đổi cách viết, cách thể hiện chúng ta có cần đến một giải thưởng, hay đơn giản hơn là một hình thức tồn tại như “Thể nghiệm” không? (Giải thưởng Văn học thể nghiệm, Tác phẩm thể nghiệm…)
Nhà văn Trần Văn Tuấn: Một trong những động lực phát triển văn học là giải thưởng. Giải thưởng cũng là một trong những kênh định hình vị trí tác giả. Theo tôi thì tới đây Hội Nhà văn Việt Nam và các Hội văn học nghệ thuật địa phương nên có nhiều hình thức giải thưởng hơn nữa. Ngay như Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh có thêm giải thưởng Nhà văn trẻ dành cho tất cả những cây bút chuyên và không chuyên dưới 35 tuổi sống ở thành phố. Hội Nhà văn cũng nên có một hệ thống giải dành cho các cây bút trẻ. Thậm chí có thể có giải thưởng cho những sáng tác đầu tay nữa.
Còn bạn đề cập đến vấn đề Thể nghiệm, tôi cho rằng khá hay nhưng cần phải xem xét kỹ. Chỉ có thể thể nghiệm phong cách chứ không thể áp dụng trong tư tưởng tác phẩm. Vì nếu không khoanh vùng mà để rộng thế thì văn học rất dễ bị lợi dụng cho mục đích chính trị. Nhưng nên có thể nghiệm phong cách để có tác phẩm mang tính đột phá nghệ thuật, tác phẩm mang tính dự báo. Lâu nay, tính chất dự báo cũng là một chức năng quan trọng của văn học, nhất là trong xã hội hiện nay thì càng cần.
Tóm lại, tôi muốn các Hội văn học - Hội Nhà văn Việt Nam, Hội văn học nghệ thuật địa phương có thêm nhiều giải thưởng để kích thích sáng tác trẻ, có cả giải thưởng cho tác phẩm thể nghiệm. Và tất cả các tác phẩm đó ngoài tiêu chí riêng còn phải nằm trong khuôn khổ nghệ thuật.
* Cảm ơn nhà văn!
Hiền Nguyễn (thực hiện)
___________________________________________________
PV: Theo quan sát của nhà văn thì tình hình văn xuôi năm 2010 có gì đáng chú ý và nổi bật?
Nhà văn Trần Văn Tuấn: Bối cảnh chung của văn học thế giới hiện nay được công chúng ít quan tâm, trầm lắng và không được như trước. Tình hình văn học Việt Nam cũng không nằm ngoài bối cảnh chung đó.
Riêng sự quan sát của cá nhân tôi thì thấy, trong năm 2010 số lượng tác phẩm văn học viết về đề tài lịch sử tăng lên, sách dày, nhiều cuốn đều từ 300 trang trở lên. Thể loại tiểu thuyết còn ít, so với tập truyện ngắn. Bên cạnh đó đề tài tình yêu vẫn được khai thác nhiều.
Nói chung trong năm 2010 vẫn là ở giai đoạn tìm kiếm, những người viết cả nhà văn có kinh nghiệm và các cây bút mới chưa có gì thật sự nổi bật, chưa có hiện tượng. Một vài tác phẩm có “nhô” lên một chút nhưng chưa phải là hiện tượng khiến dư luận bàn luận nhiều.
PV: Năm 2010 lần lược các cuộc thi tiếu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam, cuộc thi tiểu thuyết, truyện ký của Bộ Công an và Hội Nhà văn, cuộc thi văn học tuổi hai mươi công bố kết quả. Theo nhà văn thì kết quả từ những cuộc thi đó có được coi là “điểm” để chúng ta nhìn lại diện mạo văn học Việt Nam 10 năm đầu của thế kỷ này chưa?
Nhà văn Trần Văn Tuấn: Theo tôi thì bây giờ đánh giá văn học 10 năm là còn quá sớm. Nhưng qua các cuộc thi đó thì thấy đây là một tín hiệu vui vì còn nhiều người tâm huyết với văn học. Như tôi đã nói ở trên, đây là thời kỳ tìm kiếm, chúng ta đều mong muốn cái mới cho văn học, trong khi đó thì những cái cũ chưa hẳn đã mất và cái mới chỉ là manh nha… Thực ra tất cả những gì đang diễn ra hiện nay là điều bình thường.
PV: Qua sự tổng kết của mình thì nhà văn thấy có những gương mặt văn xuôi nào đáng chú ý và hứa hẹn cho văn học Việt Nam?
Nhà văn Trần Văn Tuấn: Chúng ta từng biết đến những cái tên Ngô Phan Lưu, Mạc Can dù không còn trẻ nhưng được gọi là “Nhà văn trẻ” vì sự xuất hiện của họ có cái riêng, có cá tính. Nói như vậy để thấy rằng tất cả những người cầm bút đều chứa trong mình tiềm ẩn bên trong. Tuy vậy, theo tôi thì gương mặt văn xuôi đáng chú ý là những nhà văn trẻ ở độ tuổi 45 trở xuống. Bởi về mặt sinh học họ còn sức lực, nhiều mối quan hệ mới mẻ có thể hứa hẹn tạo ra diện mạo văn học cho 5, 6 năm tới như Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Danh Lam, Trần Nhã Thuỵ…
PV: Nhà văn thấy tiếu thuyết của cây bút trẻ với những cây bút lâu năm có khoảng cách lớn không?
Nhà văn Trần Văn Tuấn: Tôi cho rằng không nên tính khoảng cách độ tuổi mà nên tính khoảng cách tác phẩm. Những tác phẩm đề lại dấu ấn riêng của Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Huy Thiệp hầu như là tác phẩm xuất hiện trong giai đoạn đầu sáng tác.
Viết lâu năm có thế mạnh của viết lâu năm, mới có thế mạnh của mới. Người viết mới dù mạch văn không kinh nghiệm nhưng lại có sự tươi mới. Người viết lâu năm chín chắn hơn, có chiều sâu hơn, khát quát và truyền cảm hơn. Đặc biệt họ có kinh nghiệm để sử lý kết cấu, xây dựng bố cục. Nhưng họ lại rất dễ lặp lại chính mình, có thể rất vô thức. Vì thế rất khó để phân biệt khoảng cách của cây bút trẻ với cây bút lâu năm.
PV: Để làm bệ phóng cho những nhà văn trẻ bắt tay vào viết tiểu thuyết, theo ông thì ngoài nỗ lực tự thân của tác giả, các cơ quan chuyên trách văn học như Hội Nhà văn Việt Nam, Hội văn học nghệ thuật địa phương nên làm gì để tác phẩm có chất lượng nghệ thuật hơn?
Nhà văn Trần Văn Tuấn: Để có tác phẩm văn học chất lượng thì nỗ lực tự thân của tác giả là 80%, 20% mới là tác động hỗ trợ bên ngoài. Các Hội văn học cần phải có phương hướng để đầu tư chọn lọc, tránh tình trạng cào bằng như trước. Ví dụ một hội văn học có 300 người thì chỉ chọn ra 50 người có tài đề đầu tư. Khi đã chọn được người đầu tư rồi thì phải đầu tư hợp lý phù hợp sở trường của từng cá nhân.
PV: Sự ồn ào của những cây bút trẻ chạy theo những trào lưu từ hiện thực cuộc sống như đồng tính, thuốc lắc, tội phạm internet… có vẻ như những mảnh ghép của báo chí. Tại sao các nhà văn lớn tuổi lại không đề cập vấn đề ấy như một cách nhìn của người lớn, người từng trải mà dường như chỉ là đề tài của người viết trẻ?
Nhà văn Trần Văn Tuấn: Điều này phản ánh sự thật xã hội. Tất cả hoạt động của xã hội như thế nào thì văn học đều có. Nhưng nhiều khi người ta lợi dụng để khai thác nó thô thiển hoặc vì họ ít tài nên chưa hay. Một tác phẩm lớn dù viết về cái gì, đề tài gì thì thông điệp phải có tính chất tư tưởng của xã hội. Một người cầm bút nghiêm túc phải có nền tảng tư tưởng vững chức, phải có lòng tự trọng, ý thức văn hoá… những hiện tượng xã hội hay những bề nổi trong văn học nhiều khi phải cần thuốc chữa, nhưng có khi không cần thuốc cũng khỏi.
Trở lại vấn đề bạn đề cập, tôi trả lời thế này: Bản thân tôi cũng là nhà văn lớn tuổi, tôi tự biết sở trường, sở đoản của mình là gì. Trong khi đó những nhà văn lớn tuổi ở ta phần nhiều đều trải qua chiến tranh. Và mặc dù chiến tranh đã qua rất lâu nhưng người viết vẫn bị ám ảnh kí ức. Người viết nặng lòng với quá khứ nên sở trường là cái đã qua, viết là sử dụng kí ức.
Hơn nữa, đề tài hiện đại dù rất hấp dẫn, nhưng bản thân nhà văn thấy mình chưa am hiểu nhiều nên chưa thể cầm bút viết. Những gì chưa am hiểu là điều tối kị với người viết văn xuôi. Phải biết rõ, tường tận mới viết được. Không như thơ, nhà thơ có thể cầm bút viết về cái còn mơ hồ, viết bằng cảm giác, cảm nhận.
Đề tài hiện đại nó phản ánh cuộc sống của lớp trẻ, trong khi với nhà văn lớn tuổi thì tuổi trẻ chính là kí ức về chiến tranh với luyến tiếc, với cận kề sống chết… Đây là điều cơ bản rất khác khiến các nhà văn lớn tuổi không mặn mà, chưa quan tâm và chưa kích thích để viết.
PV: Xin được hỏi thêm, nếu như nhà văn nói rằng vì mình không hiểu cũng như có sự khác biệt giữa thế hệ trẻ của mình với thế hệ trẻ hiện nay nên không hoặc chưa viết về những đề tài trên thì không lẽ những người đã và đang viết về đề tài này họ phải cặn kẽ đến mức mang bản thân mình ra làm thí nghiệm mới viết được sao? Trong khi tất cả người cầm bút đều có thể khai thác vấn đề đó qua sách, báo, mạng, thực tế hàng ngày… mà không cần phải có trải nghiệm bản thân (nói vui là thí nghiệm bản thân)?
Nhà văn Trần Văn Tuấn: Tôi nghĩ tiếp cận đề tài này thì lớp trẻ có lợi thế hơn hẳn chúng tôi, quan niệm khác chúng tôi. Ví dụ như Nguyễn Nhật Ánh viết về lứa tuổi teen ai dám bảo ông ấy không biết gì về cuộc sống của lớp trẻ hiện nay với đồng tính... Nhưng rõ ràng trong tác phẩm Nguyễn Nhật Ánh phần nhiều vẫn là kí ức tuổi thơ trong trẻo của bản thân đã qua. Đây là điều tự nhiên của văn chương, đặc biệt là của người viết văn xuôi.
PV: Theo nhà văn, để khuyến khích những cây bút trẻ cũng như những nhà văn tên tuổi đã định hình được phong cách mạnh dạn thay đổi cách viết, cách thể hiện chúng ta có cần đến một giải thưởng, hay đơn giản hơn là một hình thức tồn tại như “Thể nghiệm” không? (Giải thưởng Văn học thể nghiệm, Tác phẩm thể nghiệm…)
Nhà văn Trần Văn Tuấn: Một trong những động lực phát triển văn học là giải thưởng. Giải thưởng cũng là một trong những kênh định hình vị trí tác giả. Theo tôi thì tới đây Hội Nhà văn Việt Nam và các Hội văn học nghệ thuật địa phương nên có nhiều hình thức giải thưởng hơn nữa. Ngay như Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh có thêm giải thưởng Nhà văn trẻ dành cho tất cả những cây bút chuyên và không chuyên dưới 35 tuổi sống ở thành phố. Hội Nhà văn cũng nên có một hệ thống giải dành cho các cây bút trẻ. Thậm chí có thể có giải thưởng cho những sáng tác đầu tay nữa.
Còn bạn đề cập đến vấn đề Thể nghiệm, tôi cho rằng khá hay nhưng cần phải xem xét kỹ. Chỉ có thể thể nghiệm phong cách chứ không thể áp dụng trong tư tưởng tác phẩm. Vì nếu không khoanh vùng mà để rộng thế thì văn học rất dễ bị lợi dụng cho mục đích chính trị. Nhưng nên có thể nghiệm phong cách để có tác phẩm mang tính đột phá nghệ thuật, tác phẩm mang tính dự báo. Lâu nay, tính chất dự báo cũng là một chức năng quan trọng của văn học, nhất là trong xã hội hiện nay thì càng cần.
Tóm lại, tôi muốn các Hội văn học - Hội Nhà văn Việt Nam, Hội văn học nghệ thuật địa phương có thêm nhiều giải thưởng để kích thích sáng tác trẻ, có cả giải thưởng cho tác phẩm thể nghiệm. Và tất cả các tác phẩm đó ngoài tiêu chí riêng còn phải nằm trong khuôn khổ nghệ thuật.
* Cảm ơn nhà văn!
Hiền Nguyễn (thực hiện)
___________________________________________________
"Một chút hư không một chút đầy"
Trần Việt Phương
Nhân ngày đầu tiên của năm mới 2011, xin giới thiệu bài thơ của Trần Việt Phương, coi như một lời chúc mọi người một năm mới sức khỏe và thành công.
1
Năm mới tặng ta điều gì mới
Hình như gió lộng thổi từ mây
Ta tặng điều gì cho năm mới
Một chút hư không một chút đầy
Đăm chiêu đem gửi theo thư thái
Đổi lấy một ánh nhìn thơ ngây
Dằn vặt thả bay vào thoải mái
Nhận về một niềm vui cầm tay
Từng ngày từng ngày lại từng ngày
2
Thấy đã đủ bao xấu xa tồi tệ
Một đời người giàu thế những nỗi đau
Gặp đã nhiều những tấm gương sáng thế
Hành trình xa sóng gió vỗ mạn tàu
Tóc bạc phơ chưa đến được chiều sâu
3
Gieo trồng sẽ đến mùa gặt hái
Thịnh vượng một màu xanh rừng cây
Ai người nhận biết lòng khảng khái
Nguời dân trên giải núi sông này
______________________________________________________
Nhân ngày đầu tiên của năm mới 2011, xin giới thiệu bài thơ của Trần Việt Phương, coi như một lời chúc mọi người một năm mới sức khỏe và thành công.
1
Năm mới tặng ta điều gì mới
Hình như gió lộng thổi từ mây
Ta tặng điều gì cho năm mới
Một chút hư không một chút đầy
Đăm chiêu đem gửi theo thư thái
Đổi lấy một ánh nhìn thơ ngây
Dằn vặt thả bay vào thoải mái
Nhận về một niềm vui cầm tay
Từng ngày từng ngày lại từng ngày
2
Thấy đã đủ bao xấu xa tồi tệ
Một đời người giàu thế những nỗi đau
Gặp đã nhiều những tấm gương sáng thế
Hành trình xa sóng gió vỗ mạn tàu
Tóc bạc phơ chưa đến được chiều sâu
3
Gieo trồng sẽ đến mùa gặt hái
Thịnh vượng một màu xanh rừng cây
Ai người nhận biết lòng khảng khái
Nguời dân trên giải núi sông này
______________________________________________________
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)