Tô Hoàng
- Những truyện ngắn đầu tiên như Ao làng, Thung lũng cò, Hương cỏ mật, Mùa cá bột của Đỗ Chu đăng trên tạp chí Văn nghệ Quân đội vào hai năm 1962-1963. Thời gian ấy những nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học tên tuổi sau này như Phạm Tiến Duật, Nghiêm Đa Văn, Tô Nhuận Vỹ, Vương Trí Nhàn, Lâm Quang Ngọc… đang còn là sinh viên năm thứ hai, khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Những truyện ngắn ấy đầy sức hấp dẫn và cũng đầy chất kích thích các chàng sinh viên sư phạm nhưng lại ấp ủ hoài bão trở thành nhà văn, nhà thơ.
Nghiêm Đa Văn đóng những tập giấy giá năm hào hai lại với nhau viết một lèo hai cuốn tiểu thuyết tựa đề rất hay nhưng không bao giờ ra mắt bạn đọc - Lá nho và Con ngựa cơm cháy. Lâm Quang Ngọc viết lên vách tường cạnh chỗ nằm ở ký túc xá sinh viên: “Cố gắng đuổi kịp và vượt Đỗ Chu!”. Các chàng sinh viên mê văn chương ấy càng ngạc nhiên, sửng sốt hơn khi phát hiện ra Đỗ Chu khi ấy mới 17 tuổi, đang là học sinh năm cuối trường Phổ thông cấp ba Hàn Thuyên, thị xã Bắc Ninh!
Chiến tranh chống Mỹ cứu nước diễn ra, tờ tạp chí Văn nghệ Quân đội ngay lập tức trở thành một trung tâm văn bút không chỉ thu hút các nhà văn đã khẳng định tên tuổi mà còn là nơi “lăng-xê” kịp thời sáng tác của những người viết mới xuất hiện. Đỗ Chu nhập ngũ, trở thành lính Phòng không - Không quân. Dường như dưới tác động của anh, ở binh chủng này xuất hiện cả một loạt những cây viết khác như Nguyễn Trí Huân, Lưu Quang Vũ, Thao Trường (tức Nguyễn Khắc Trường sau này), Dương Duy Ngữ, Duy Khán…
Đỗ Chu được các nhà văn đàn anh tại Văn nghệ Quân đội như Hồ Phương, Hữu Mai, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Hải Hồ, Mai Ngữ… đón nhận như một đồng nghiệp ngang ngửa văn tài. Người viết bài này từng được chứng kiến giây phút hai “thủ lĩnh” của tờ Văn nghệ Quân đội là Vũ Cao và Từ Bích Hoàng vẻ đầy tự hào, mãn nguyện mỗi khi “khoe” số báo mới bên cạnh bài “đinh” của Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu… là bài “đinh” của Đỗ Chu. Chiến tranh leo thang của giặc Mỹ khi ấy đã lan ra khắp miền Bắc. Kể về sinh hoạt, cách thức ăn nói, yêu đương, tâm lý luyến nhớ quê hương của đám lính trẻ giữa nơi lửa đạn đạn – không ai kể hay, kể sinh động, tươi tắn, kể giàu sức sống như Đỗ Chu trong Chiến sĩ quân bưu, Thành phố bên kia cầu, Chuyện mùa Hạ…
Bạn viết cùng trang lứa thì không một ai dám coi anh chỉ có học vấn phổ thông. Đỗ Chu đọc nhiều, sức nhớ tốt, trí thông minh hơn người, lại biết khái quát, đúc rút rất nhanh điều đã đọc thành vốn liếng của mình. Nhà văn Nguyễn Khải từng nói, tài năng của nhà văn là ở chỗ anh ta biết chỉ tên của từng hiện tượng, từng sự việc mà người khác chỉ cảm nhận được thôi. Về phương diện này Đỗ Chu nổi trội. Anh quan sát tinh tường, sắc sảo thế giới xung quanh và tóm thành chi tiết văn chương để đưa vào tác phẩm.
"Gió từ trên núi dịu dàng thổi xuống, những cây tre đực trên lũy cọ xiết vào nhau kêu ken két như có ai cầm mảnh sành cứa vào thân chúng"… “Sau làng em có trái núi Voi, núi Voi đối với tụi nhỏ chúng em như người bạn lớn tuổi, hiền từ… "Cái đỉnh tháp chuông nhà thờ nom xa như một dấu than…”. Những chi tiết đắt giá như vậy đầy ắp trong các truyện của Đỗ Chu. Điều đáng kể, anh có một trí tưởng tượng nhanh nhạy, khoáng hoạt không ai bì. Trí tưởng tượng ấy lại được phù trợ bởi sức lao động bền bỉ, chăm chỉ và một ý thức trách nhiệm cao với từng con chữ, từng dòng viết. Xin được kể chuyện này. Một lần, trại sáng tác nọ bố trí ở một kho chứa các nguyên vật liệu thông tin của quân đội ngay sát bên trạm khí tượng Láng, Hà Nội. Suốt ngày tiếng đóng mở hòm gỗ ồn ã, tiếng xe tải đến, đi rú ga đến inh tai nhức óc, tiếng các nhân viên coi kho nói cười oang oang. Nhưng bên kia bức tường lại là vẻ ắng lặng của khu vườn đo mưa, đo gió với bóng áo trắng của các cô gái nhân viên trạm khí tượng. Đỗ Chu thách đố mọi người viết một truyện ngắn bằng những gì mắt thấy tai nghe ngay trước mắt. Kết cục: người thắng cuộc không ai khác mà chính là Đỗ Chu - anh đã viết nên truyện ngắn Chuyện mùa Hạ khá nổi tiếng sau này. Tiếng lách cách mở đóng hòm gỗ thành tiếng gõ mạn thuyền lùa cá trên sông. Tiếng xe vào, xe ra thành tiếng rì rầm của những đoàn xe kéo pháo. Còn đóng vai trò khá quan trọng ở cái thị xã trống hoang trống huếch kia chính là các cô gái đo mưa đo nắng, không đi sơ tán mà ở lại tử sinh với bom đạn Mỹ cùng các chiến sĩ một đơn vị cao xạ. Đọc văn của Đỗ Chu ai cũng tưởng rằng chữ nghĩa, câu cú cứ tuồn tuột chảy ra từ ngòi bút của anh. Nhưng thực tế anh viết hệt như đánh vật với từng con chữ. Với chính truyện Chuyện mùa Hạ kể trên, người viết bài này đã chứng kiến suốt một tuần lễ đầu anh chỉ viết được trên nửa trang, gạch xóa, bổ sung, thêm chỗ này, bớt chỗ kia - tóm lại bản thảo văn xuôi mà hệt như bản thảo thơ. Tắc tị dòng văn, anh bỏ sang quấy nhiễu, trêu chọc các bạn văn khác. Rồi phóng xe vào phố dạo chơi. Khi mọi người tưởng đâu như anh ngưng viết rồi, bỗng anh xòe ra hơn 60 chục trang viết tay!
Lại vẫn Chuyện mùa Hạ, sau khi “chiến thắng” các bạn viết, Đỗ Chu tuyên bố anh có thể đọc thuộc từ trang đầu đến trang cuối truyện ngắn đó mà không sai sót một dấu chấm, dấu phẩy. Anh em trại viên quây thành vòng. Lê Lựu cầm tập bản thảo trong tay làm giám khảo. Đỗ Chu chắp tay sau lưng đi đi, lại lại và bắt đầu đọc bằng trí nhớ. Chỉ cần đến trang thứ 10, Lê Lựu phải tuyên bố: Đỗ Chu thắng cuộc!
Vào những năm tháng chiến tranh ấy các khóa đào tạo người viết trẻ, các trại sáng tác văn học do Hội Nhà văn Việt Nam, Tổng cục chính trị chủ trì mở ra liên tục. Trong giờ lên lớp, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, các nhà văn đàn anh thường lấy truyện ngắn của Đỗ Chu làm dẫn chứng về cách thức cấu tứ, vận dụng tu từ, cách tạo chi tiết… Song ngay từ dạo ấy, bạn đọc cũng như học viên, trại viên của các lớp, các trại này đều thấy rõ một điểm nổi trội nhất trong các truyện của anh: ngòi bút Đỗ Chu luôn hướng về việc ca ngợi con người, những phẩm giá tốt đẹp trong quan hệ giữa con người với con người nói riêng. Đó là nét hiện thực cơ bản, tạo nên sức mạnh tinh thần của người dân miền Bắc trong thời kỳ vừa dựng xây Chủ nghĩa xã hội vừa chiến đấu, tích cực chi viện sức người sức của cho miền Nam ruột thịt.
Đọc truyện ngắn của Đỗ Chu, người đọc thấy thêm yêu cuộc đời, yêu đồng bào, đồng chí của mình và tình yêu ấy đã giúp họ vượt qua biết bao thử thách, khó khăn. Cùng với các sáng tác văn học khác như thơ của Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Lưu Quang Vũ…, các ca khúc trữ tình của Huy Du, Huy Thục, Doãn Nho, Vũ Trọng Hối, Nguyễn Đức Toàn, Xuân Hồng, Phạm Minh Tuấn…, các vở kịch, các bộ phim cùng thời, truyện ngắn của Đỗ Chu không chỉ động viên đồng bào chiến sĩ vào những năm tháng chiến tranh, mà còn lưu giữ mãi giá trị của việc phản ánh tình người, tinh thần cao thượng và sức hy sinh chịu đựng của cả dân tộc ở một khúc ngoặt lịch sử.
_____________________________________________________
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà văn quân đội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà văn quân đội. Hiển thị tất cả bài đăng
Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2011
Thứ Năm, 18 tháng 11, 2010
Nguyễn Đình Tú và tiểu thuyết Kín
3 năm ra 3 tiểu thuyết: Nháp, Phiên bản, Kín, nhà văn Nguyễn Đình Tú gây chú ý không bằng tuyên ngôn hay scandal văn chương, mà bằng những trang viết đầy chật chi tiết sống. Có những lời khen và cổ vũ, có cả những lời chê và thái độ không ưa lối viết, cách kể của tác giả. Và như vậy, tác phẩm của anh vẫn đang được công chúng quan tâm. Chúng tôi đã có cuộc gặp gỡ nhà văn - thiếu tá Nguyễn Đình Tú, hiện đang công tác tại Tạp chí Văn nghệ quân đội.
- Thưa nhà văn! Nhìn lại những cuốn tiểu thuyết thời gian qua, có cảm giác như anh khá "mốt" hay "thời thượng" - theo nghĩa tích cực - khi cập nhật vào văn học của mình những gì là mới mẻ của đời sống xã hội: Lĩnh vực báo chí, internet hay chuyện tìm mộ bằng ngoại cảm, rồi từ sex cho đến vấn đề đồng tính, đến bạo lực hay quần hôn, lối sống sa ngã của giới trẻ… Liệu đây có phải là một chủ trương tiếp nhận và phản ánh của anh không hay là một cách để tiếp cận công chúng, nhất là bạn đọc trẻ?
- Đúng là các cuốn tiểu thuyết của tôi về mặt bề nổi thì có vẻ ngổn ngang những chất liệu của đời sống đương đại. Nói rằng tôi chủ trương tiếp cận bạn đọc trẻ bằng những chất liệu đời sống đương đại thì cũng không sai, nhưng tôi muốn diễn đạt bằng một ý khác: tôi muốn viết về những điều mà tôi cho là bạn đọc ngày hôm nay quan tâm.
- Trong một số tác phẩm của anh và đến cuốn tiểu thuyết Kín này nữa, song hành với đời sống nhân vật, thường có sự phảng phất hoặc những chi tiết gợi ra không khí tôn giáo, tín ngưỡng. Bạn đọc có những cách cảm nhận khác nhau, nhưng bản thân tác giả có thể nói gì về điều này?
- Tín ngưỡng, tôn giáo là một phần của đời sống, gắn bó hữu cơ với mỗi cá thể người. Tôi tin chắc rằng, trong đời ai cũng đã một lần bồi hồi nghĩ về một kiếp khác ngoài cái kiếp mình đang sống. Đó chính là sự khởi đầu của tín ngưỡng trong mỗi cá nhân. Văn học dù viết về cái gì đi nữa thì cũng đều hướng tới con người, vì thế những gì liên quan con người đều được khai thác, mổ xẻ, bóc tách và phản ánh.
- Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã có một cuốn tiểu thuyết mang tên Mẫu Thượng ngàn viết về đạo Mẫu, ở Kín, anh cũng đề cập đạo Mẫu, có thể so sánh điều gì giữa hai cuốn tiểu thuyết này?
- Nếu so sánh như thế thì giống như so sánh hai tác phẩm nào đó cùng viết về nông thôn hoặc cùng viết về chiến tranh. Cũng có bạn đọc kỳ vọng vào việc tôi sẽ lý giải đạo Mẫu một cách mới mẻ như thế nào. Tôi phải nói ngay rằng điều này không nằm trong ý đồ sáng tạo của tôi. Lý giải đạo Mẫu là việc của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian chứ không phải của nhà văn. Đạo Mẫu trong Kín được đề cập như một lớp mã để nói về những vấn đề khác của tiểu thuyết mà thôi.
- Thu lượm nhiều, viết nhanh, nói về rất nhiều điều trong thời gian vài năm, anh đã chuẩn bị và kiến tạo, xây lắp nên tiểu thuyết Kín như thế nào?
- Một lớp trẻ kế thừa những giá trị văn hóa lịch sử cả ngàn năm của ông cha đang loay hoay với hiện tại ra sao? Đó là câu hỏi đầu tiên thôi thúc tôi cầm bút lên viết Kín. Kín phải được viết như thế nào để không giống ai và không giống tôi trước đó? Câu hỏi này khiến tôi phải lập cho Kín một cách triển khai ba tuyến truyện song song với điệp trùng những chi tiết độc đáo. Đã từng có một lượng bạn đọc sẵn sàng bỏ tiền ra mua sách của mình, bây giờ đáp lại những tấm lòng đó như thế nào? Điều này khiến tôi phải viết Kín sao cho hấp dẫn và chạm được vào cái mà bạn đọc đương đại quan tâm.
- Kín lại tiếp tục một hành trình đằng đẵng của nhân vật trẻ tuổi, như những hành trình mà nhiều nhân vật khác đã đi. Ngòi bút của anh vì sao chưa hướng đến và lấy làm trung tâm - một đối tượng nhân vật nào khác?
- Trên hành trình đằng đẵng ấy còn có nhiều nhân vật không trẻ nữa chứ. Nhưng đừng tự bó hẹp cách nhìn của mình như thế. Từ cái trẻ cụ thể của tiểu thuyết, tôi hướng đến cái trẻ lâu bền của đời sống, của không chỉ một kiếp người.
- Có cảm giác như rồi đây, đề tài hoặc những dữ liệu liên quan đến kinh dị, hoang đường, viễn tưởng…, anh cũng sẽ không "tha". Đã có những ý tưởng hay chút loé sáng nào cho thể loại hay những đề tài này?
- Có rồi. Tôi đã bắt tay vào rồi. Tôi không muốn nói trước nhưng chắc chắn cái mà tôi trình ra sau Kín sẽ làm không ít bạn đọc bất ngờ.
- Xin cảm ơn anh!
Hoàng Hoa (thực hiện)
________________________________________________
- Thưa nhà văn! Nhìn lại những cuốn tiểu thuyết thời gian qua, có cảm giác như anh khá "mốt" hay "thời thượng" - theo nghĩa tích cực - khi cập nhật vào văn học của mình những gì là mới mẻ của đời sống xã hội: Lĩnh vực báo chí, internet hay chuyện tìm mộ bằng ngoại cảm, rồi từ sex cho đến vấn đề đồng tính, đến bạo lực hay quần hôn, lối sống sa ngã của giới trẻ… Liệu đây có phải là một chủ trương tiếp nhận và phản ánh của anh không hay là một cách để tiếp cận công chúng, nhất là bạn đọc trẻ?
- Đúng là các cuốn tiểu thuyết của tôi về mặt bề nổi thì có vẻ ngổn ngang những chất liệu của đời sống đương đại. Nói rằng tôi chủ trương tiếp cận bạn đọc trẻ bằng những chất liệu đời sống đương đại thì cũng không sai, nhưng tôi muốn diễn đạt bằng một ý khác: tôi muốn viết về những điều mà tôi cho là bạn đọc ngày hôm nay quan tâm.
- Trong một số tác phẩm của anh và đến cuốn tiểu thuyết Kín này nữa, song hành với đời sống nhân vật, thường có sự phảng phất hoặc những chi tiết gợi ra không khí tôn giáo, tín ngưỡng. Bạn đọc có những cách cảm nhận khác nhau, nhưng bản thân tác giả có thể nói gì về điều này?
- Tín ngưỡng, tôn giáo là một phần của đời sống, gắn bó hữu cơ với mỗi cá thể người. Tôi tin chắc rằng, trong đời ai cũng đã một lần bồi hồi nghĩ về một kiếp khác ngoài cái kiếp mình đang sống. Đó chính là sự khởi đầu của tín ngưỡng trong mỗi cá nhân. Văn học dù viết về cái gì đi nữa thì cũng đều hướng tới con người, vì thế những gì liên quan con người đều được khai thác, mổ xẻ, bóc tách và phản ánh.
- Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã có một cuốn tiểu thuyết mang tên Mẫu Thượng ngàn viết về đạo Mẫu, ở Kín, anh cũng đề cập đạo Mẫu, có thể so sánh điều gì giữa hai cuốn tiểu thuyết này?
- Nếu so sánh như thế thì giống như so sánh hai tác phẩm nào đó cùng viết về nông thôn hoặc cùng viết về chiến tranh. Cũng có bạn đọc kỳ vọng vào việc tôi sẽ lý giải đạo Mẫu một cách mới mẻ như thế nào. Tôi phải nói ngay rằng điều này không nằm trong ý đồ sáng tạo của tôi. Lý giải đạo Mẫu là việc của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian chứ không phải của nhà văn. Đạo Mẫu trong Kín được đề cập như một lớp mã để nói về những vấn đề khác của tiểu thuyết mà thôi.
- Thu lượm nhiều, viết nhanh, nói về rất nhiều điều trong thời gian vài năm, anh đã chuẩn bị và kiến tạo, xây lắp nên tiểu thuyết Kín như thế nào?
- Một lớp trẻ kế thừa những giá trị văn hóa lịch sử cả ngàn năm của ông cha đang loay hoay với hiện tại ra sao? Đó là câu hỏi đầu tiên thôi thúc tôi cầm bút lên viết Kín. Kín phải được viết như thế nào để không giống ai và không giống tôi trước đó? Câu hỏi này khiến tôi phải lập cho Kín một cách triển khai ba tuyến truyện song song với điệp trùng những chi tiết độc đáo. Đã từng có một lượng bạn đọc sẵn sàng bỏ tiền ra mua sách của mình, bây giờ đáp lại những tấm lòng đó như thế nào? Điều này khiến tôi phải viết Kín sao cho hấp dẫn và chạm được vào cái mà bạn đọc đương đại quan tâm.
- Kín lại tiếp tục một hành trình đằng đẵng của nhân vật trẻ tuổi, như những hành trình mà nhiều nhân vật khác đã đi. Ngòi bút của anh vì sao chưa hướng đến và lấy làm trung tâm - một đối tượng nhân vật nào khác?
- Trên hành trình đằng đẵng ấy còn có nhiều nhân vật không trẻ nữa chứ. Nhưng đừng tự bó hẹp cách nhìn của mình như thế. Từ cái trẻ cụ thể của tiểu thuyết, tôi hướng đến cái trẻ lâu bền của đời sống, của không chỉ một kiếp người.
- Có cảm giác như rồi đây, đề tài hoặc những dữ liệu liên quan đến kinh dị, hoang đường, viễn tưởng…, anh cũng sẽ không "tha". Đã có những ý tưởng hay chút loé sáng nào cho thể loại hay những đề tài này?
- Có rồi. Tôi đã bắt tay vào rồi. Tôi không muốn nói trước nhưng chắc chắn cái mà tôi trình ra sau Kín sẽ làm không ít bạn đọc bất ngờ.
- Xin cảm ơn anh!
Hoàng Hoa (thực hiện)
________________________________________________
Thứ Năm, 10 tháng 6, 2010
Nhìn lại những trang viết của mình
Nguyễn Khải
Ở lứa tuổi tôi đã nói tới nghề văn là nói tới đời văn. Đã nói tới đời văn là phải nói tới những điều kiện lịch sử, xã hội đã đưa đẩy mình đến với nghề cầm bút. Đã nhiều lần tôi tự hỏi nếu không có Cách mạng tháng Tám thì đời mình sẽ ra sao nhỉ? Chắc chắn tôi vẫn là người lao động lương thiện nhưng tầm thường, xoàng xĩnh hơn bây giờ nhiều.
Bởi vì tôi tự biết có những nhược điểm rất lớn lại thêm chỗ đứng ban đầu thua kém, khó có thể tự đẩy mình lên cao hơn cái biển người thờ ơ của một xã hội bất động. May mắn làm sao khi tôi còn ở tuổi thiếu niên thì cách mạng đã thành công, cuộc kháng chiến chống Pháp bắt đầu. Suốt tám năm kháng chiến tôi đã lớn lên về tuổi đời, lại thêm tuổi Đảng, có thêm chút ít học vấn, chút ít từng trải để dám theo đòi nghề làm báo, viết văn. Cũng lại phải mất nhiều năm tháng trong hòa bình làm phóng viên của tạp chí Văn nghệ Quân đội, được sống trong không khí tranh luận văn học, cùng lúc học được nghề văn, học luôn cả nhân cách nhà văn. Rồi cũng từ đó mới dần dần nhận ra cái bản lai diện mục của mình, sẽ là gương mặt riêng, là tiếng nói riêng trong cái làng văn tuy còn trẻ nhưng đã có nhiều bậc văn tài.
Những năm còn nhỏ tôi sống rất buồn. Những người thân nhất của tôi đều có một số phận rất buồn. Họ gánh vác mọi nỗi buồn một cách nhẫn nhục, cam chịu vì đã xem đó là định mệnh. Cuộc đời của những con người bé nhỏ với những vui buồn, lo lắng vặt vãnh ám ảnh tôi suốt một đời. Cho đến tận bây giờ những số phận bất hạnh, những cuộc đời ngang trái, những trớ trêu trong nhiều cảnh ngộ luôn quyến rũ tôi. Bởi ở đó tôi đã gặp lại chính tôi, gặp lại những người thân thiết nhất của tôi, để có dịp được nhìn lại ngẫm nghĩ lại những cuộc vật lộn thầm lặng, đau đớn để tự khẳng định những giá trị chả thua kém ai của mỗi người trong bọn họ. Mỗi lần có cơ hội để viết về họ là tôi vui lắm, tâm trạng như xuất thần. Họ là phần vượt cao lên; phần toả rộng ra của cuộc đời tôi vốn tẻ nhạt, chật hẹp so với nhiều bạn bè cùng trang lứa. Cặp nhân vật văn học đầu tiên của tôi là Môn và Nhàn trong tiểu thuyết Xung đột đều có cái phần riêng của tôi cả. Tính cách mạnh mẽ, dứt khoát của Môn là ao ước của tôi. Còn tính cách phân vân, dao động của Nhàn là những dằn vặt luôn có trong tôi. Những người đàn bà xấu xí bị chế giễu, bị bỏ quên lại có một tâm hồn trong sáng, vị tha trong các truyện ngắn Mùa lạc, Chuyện một người tổ trưởng máy kéo, Gia đình lớn, Nắng chiều đều có ít nhiều bóng dáng của mẹ tôi, của các dì và cũng còn của chính tôi nữa. Truyện ngắn Đứa con nuôi và mấy chục năm sau trong truyện ngắn Hai ông già ở Đồng Tháp Mười đã trộn lẫn nhiều kỷ niệm không vui của tôi những năm còn nhỏ.
Tôi là người có chí nhưng kém tài, may mà được gặp thời, rồi được gặp thầy, gặp bạn mà nên sự nghiệp. Bởi thế tôi rất dễ xúc động khi nghe chuyện hoặc tiếp xúc với những người có tâm và có tài nhưng không gặp thời, không gặp may, hoặc lầm lẫn trong lựa chọn ban đầu đến nỗi thêm bại danh liệt lúc cuối đời. Những khắc khoải, đau đớn trong lựa chọn, trong thất bại và cô đơn không hiểu sao rất quen thuộc và thân thiết với tôi, giúp tôi xây dựng các tính cách được tự nhiên và chân thật. Cứ như có người cầm tay viết hộ, không mất bao nhiêu công sức. Những tiểu thuyết Gặp gỡ cuối năm, Điều tra về một cái chết, và Một cõi nhân gian bé tý đã được viết theo dòng cảm hứng đó.
Tôi vốn là người nhút nhát, nhu nhược nên có khuynh hướng sùng bái những tính cách mạnh mẽ, những con người kiên nghị dám dâng hiến trọn đời cho một niềm tin, một lẽ sống, không dao động trước bất kỳ một trở lực nào. Người chiến sĩ lái xe tăng bị lạc đơn vị trong tiểu thuyết Chiến sĩ, ông linh mục trẻ trong Cha và Con và..., nhiều nhân vật trong các tiểu thuyết Thời gian của người và Vòng sóng đến vô cùng là những mẫu người lý tưởng của tôi. Chỉ tiếc nội lực của tôi còn yếu nên không thể hà hơi tiếp sức cho các nhân vật đó có sức hấp dẫn lâu bền đối với đông đảo bạn đọc.
Những số phận bất hạnh, những con người không gặp thời, những cảnh ngộ trớ trêu đã được nhiều nhà văn trước Cách mạng viết đi viết lại trong nhiều tác phẩm. Phải nói một cách thành thật rằng, lai lịch các nhân vật văn học ấy đều xoàng xĩnh, đơn điệu, tẻ nhạt, mà sao trong cái đám người hư hư thật thật ấy lại có dăm bảy gương mặt vẫn còn sống đến hôm nay. Vẫn gần gũi, vẫn trẻ trung, kết bạn được cả với lớp bạn đọc thuộc thế hệ cháu chắt. Chí Phèo của Nam Cao, chị Dậu của Ngô Tất Tố, ông Huấn Cao của Nguyễn Tuân, Xuân Tóc Đỏ của Vũ Trọng Phụng, thậm chí đến con Dế Mèn có máu phiên lưu của Tô Hoài là bao nhiêu tuổi? Thì ra những con người xoàng xĩnh của một xã hội đang tan rữa chỉ nhờ vào văn tài của người cầm bút mà trở nên bất tử! Chúng tôi được sống một thời chả có ai là xoàng cả. Một người bình thường, gặp bất cứ đâu cũng có một lai lịch không tầm thường chút nào với nhiều mất mát, nhiều chia ly và một nghị lực to lớn để băng qua những chông gai của một thời sóng gió. Những con người tuyệt vời của những năm tháng rất tiểu thuyết lại không thể sản sinh ra những nhân vật văn học bất tử là nghĩa làm sao? Có nhiều nguyên nhân, nhưng với riêng tôi, cách đây hơn hai chục năm, tôi chợt nhận ra những ảo tưởng của mình trong sự tìm kiếm những mẫu người Việt Nam hoàn toàn mới, có tham vọng góp phần đặt nền móng cho một nền văn học khác hẳn với những dòng văn học trước đây. Thật ra, những gì thuộc về con người Việt Nam hôm nay đều có gốc gác từ rất xa xưa và sẽ có tác động tới nhiều thế hệ sau này. Cái tốt và cái xấu, cái mạnh và cái yếu đều có mầm mống sẵn từ trong mỗi người, từ trong sâu thẳm của một dân tộc. Gặp thời thịnh trị thì những mầm tốt có cơ hội phát triển nhanh. Gặp buổi tối tăm, hỗn loạn thì những cái xấu mặc sức hoành hành. Nhưng vẫn là thuộc về con người của một dân tộc cụ thể không thể thêm hay bớt, lại càng không thể nhào nặn theo những mẫu hình mà ta mong được thế, muốn được thế. Vào khoảng năm 70, một bạn văn có nói với tôi, đại ý, muốn đi đâu thì đi muốn đọc gì thì đọc nhưng cứ phải giẫm nát mảnh đất dưới chân mình mới mong có được những trang viết thật hay. Nói thế là rất đúng, bây giờ nghĩ lại cũng vẫn đúng nhưng chưa đủ. Sống ở một thời có nhiều biến động lớn, phức tạp, quyết định vận mệnh nhiều quốc gia, nhiều dân tộc, nếu người viết bị trói buộc vào cái thật hằng ngày, cái thật của đời người, của một vùng đất sẽ khó có thể vươn tới những hình tượng nghệ thuật có tầm vóc lớn, khái quát được những biểu trưng tinh thần của một dân tộc, một thời đại thông qua những nhân vật sống động, quen thuộc và thân thiết với nhiều thế hệ bạn đọc. Nhưng muốn tới được cái cõi ấy hình như lại phải có sự hỗ trợ của tầm văn hóa chung, của triết học và chính trị.
Những năm gần đây tôi vẫn viết đều đặn nhưng cũng là múa võ trên mảnh đất quen thuộc. Tôi vẫn muốn viết khác trước nhưng chưa tìm ra được những hình tượng nghệ thuật kết tinh sự từng trải cả về tuổi đời lẫn tuổi nghề của mình. Nó vừa là hình thức vừa là nội dung, không có một nghệ thuật tiểu thuyết đẹp và mới thì sẽ không có bạn đọc, không thể lưu truyền được lâu dài. Nhưng có được một nghệ thuật diễn tả phù hợp không phải cứ tìm mà có. Nó không ở ngoài ta mà ở trong ta. Cái nghệ thuật đích thực phải là nhu cầu cấp thiết từ bên trong, từ ngọn lửa bùng cháy từ bên trong. Và khi nó đã phá ra được một cửa mở để câu chữ, hình ảnh, cách bố cục tràn ngập trên trang giấy thì chính người sinh thành ra nó cũng không biết là mới, là lạ, là đẹp, chỉ thấy phải như thế, bắt buộc là như thế. Đó là cách nghĩ của tôi về một hình thức nghệ thuật mới. Nó là sự từng trải già ẩn trong cái vỏ bọc trẻ. Là sự tích lũy dài ngày, một đời chạm được vệt sáng vĩnh cửu chói lòa trong giây phút. Thật là khó lắm, nhưng tôi vẫn chưa hết hy vọng.
Nguồn: Nguyễn Khải tác phẩm chọn lọc - NXB Giáo dục Việt Nam
________________________________________________________________
Ở lứa tuổi tôi đã nói tới nghề văn là nói tới đời văn. Đã nói tới đời văn là phải nói tới những điều kiện lịch sử, xã hội đã đưa đẩy mình đến với nghề cầm bút. Đã nhiều lần tôi tự hỏi nếu không có Cách mạng tháng Tám thì đời mình sẽ ra sao nhỉ? Chắc chắn tôi vẫn là người lao động lương thiện nhưng tầm thường, xoàng xĩnh hơn bây giờ nhiều.
Bởi vì tôi tự biết có những nhược điểm rất lớn lại thêm chỗ đứng ban đầu thua kém, khó có thể tự đẩy mình lên cao hơn cái biển người thờ ơ của một xã hội bất động. May mắn làm sao khi tôi còn ở tuổi thiếu niên thì cách mạng đã thành công, cuộc kháng chiến chống Pháp bắt đầu. Suốt tám năm kháng chiến tôi đã lớn lên về tuổi đời, lại thêm tuổi Đảng, có thêm chút ít học vấn, chút ít từng trải để dám theo đòi nghề làm báo, viết văn. Cũng lại phải mất nhiều năm tháng trong hòa bình làm phóng viên của tạp chí Văn nghệ Quân đội, được sống trong không khí tranh luận văn học, cùng lúc học được nghề văn, học luôn cả nhân cách nhà văn. Rồi cũng từ đó mới dần dần nhận ra cái bản lai diện mục của mình, sẽ là gương mặt riêng, là tiếng nói riêng trong cái làng văn tuy còn trẻ nhưng đã có nhiều bậc văn tài.
Những năm còn nhỏ tôi sống rất buồn. Những người thân nhất của tôi đều có một số phận rất buồn. Họ gánh vác mọi nỗi buồn một cách nhẫn nhục, cam chịu vì đã xem đó là định mệnh. Cuộc đời của những con người bé nhỏ với những vui buồn, lo lắng vặt vãnh ám ảnh tôi suốt một đời. Cho đến tận bây giờ những số phận bất hạnh, những cuộc đời ngang trái, những trớ trêu trong nhiều cảnh ngộ luôn quyến rũ tôi. Bởi ở đó tôi đã gặp lại chính tôi, gặp lại những người thân thiết nhất của tôi, để có dịp được nhìn lại ngẫm nghĩ lại những cuộc vật lộn thầm lặng, đau đớn để tự khẳng định những giá trị chả thua kém ai của mỗi người trong bọn họ. Mỗi lần có cơ hội để viết về họ là tôi vui lắm, tâm trạng như xuất thần. Họ là phần vượt cao lên; phần toả rộng ra của cuộc đời tôi vốn tẻ nhạt, chật hẹp so với nhiều bạn bè cùng trang lứa. Cặp nhân vật văn học đầu tiên của tôi là Môn và Nhàn trong tiểu thuyết Xung đột đều có cái phần riêng của tôi cả. Tính cách mạnh mẽ, dứt khoát của Môn là ao ước của tôi. Còn tính cách phân vân, dao động của Nhàn là những dằn vặt luôn có trong tôi. Những người đàn bà xấu xí bị chế giễu, bị bỏ quên lại có một tâm hồn trong sáng, vị tha trong các truyện ngắn Mùa lạc, Chuyện một người tổ trưởng máy kéo, Gia đình lớn, Nắng chiều đều có ít nhiều bóng dáng của mẹ tôi, của các dì và cũng còn của chính tôi nữa. Truyện ngắn Đứa con nuôi và mấy chục năm sau trong truyện ngắn Hai ông già ở Đồng Tháp Mười đã trộn lẫn nhiều kỷ niệm không vui của tôi những năm còn nhỏ.
Tôi là người có chí nhưng kém tài, may mà được gặp thời, rồi được gặp thầy, gặp bạn mà nên sự nghiệp. Bởi thế tôi rất dễ xúc động khi nghe chuyện hoặc tiếp xúc với những người có tâm và có tài nhưng không gặp thời, không gặp may, hoặc lầm lẫn trong lựa chọn ban đầu đến nỗi thêm bại danh liệt lúc cuối đời. Những khắc khoải, đau đớn trong lựa chọn, trong thất bại và cô đơn không hiểu sao rất quen thuộc và thân thiết với tôi, giúp tôi xây dựng các tính cách được tự nhiên và chân thật. Cứ như có người cầm tay viết hộ, không mất bao nhiêu công sức. Những tiểu thuyết Gặp gỡ cuối năm, Điều tra về một cái chết, và Một cõi nhân gian bé tý đã được viết theo dòng cảm hứng đó.
Tôi vốn là người nhút nhát, nhu nhược nên có khuynh hướng sùng bái những tính cách mạnh mẽ, những con người kiên nghị dám dâng hiến trọn đời cho một niềm tin, một lẽ sống, không dao động trước bất kỳ một trở lực nào. Người chiến sĩ lái xe tăng bị lạc đơn vị trong tiểu thuyết Chiến sĩ, ông linh mục trẻ trong Cha và Con và..., nhiều nhân vật trong các tiểu thuyết Thời gian của người và Vòng sóng đến vô cùng là những mẫu người lý tưởng của tôi. Chỉ tiếc nội lực của tôi còn yếu nên không thể hà hơi tiếp sức cho các nhân vật đó có sức hấp dẫn lâu bền đối với đông đảo bạn đọc.
Những số phận bất hạnh, những con người không gặp thời, những cảnh ngộ trớ trêu đã được nhiều nhà văn trước Cách mạng viết đi viết lại trong nhiều tác phẩm. Phải nói một cách thành thật rằng, lai lịch các nhân vật văn học ấy đều xoàng xĩnh, đơn điệu, tẻ nhạt, mà sao trong cái đám người hư hư thật thật ấy lại có dăm bảy gương mặt vẫn còn sống đến hôm nay. Vẫn gần gũi, vẫn trẻ trung, kết bạn được cả với lớp bạn đọc thuộc thế hệ cháu chắt. Chí Phèo của Nam Cao, chị Dậu của Ngô Tất Tố, ông Huấn Cao của Nguyễn Tuân, Xuân Tóc Đỏ của Vũ Trọng Phụng, thậm chí đến con Dế Mèn có máu phiên lưu của Tô Hoài là bao nhiêu tuổi? Thì ra những con người xoàng xĩnh của một xã hội đang tan rữa chỉ nhờ vào văn tài của người cầm bút mà trở nên bất tử! Chúng tôi được sống một thời chả có ai là xoàng cả. Một người bình thường, gặp bất cứ đâu cũng có một lai lịch không tầm thường chút nào với nhiều mất mát, nhiều chia ly và một nghị lực to lớn để băng qua những chông gai của một thời sóng gió. Những con người tuyệt vời của những năm tháng rất tiểu thuyết lại không thể sản sinh ra những nhân vật văn học bất tử là nghĩa làm sao? Có nhiều nguyên nhân, nhưng với riêng tôi, cách đây hơn hai chục năm, tôi chợt nhận ra những ảo tưởng của mình trong sự tìm kiếm những mẫu người Việt Nam hoàn toàn mới, có tham vọng góp phần đặt nền móng cho một nền văn học khác hẳn với những dòng văn học trước đây. Thật ra, những gì thuộc về con người Việt Nam hôm nay đều có gốc gác từ rất xa xưa và sẽ có tác động tới nhiều thế hệ sau này. Cái tốt và cái xấu, cái mạnh và cái yếu đều có mầm mống sẵn từ trong mỗi người, từ trong sâu thẳm của một dân tộc. Gặp thời thịnh trị thì những mầm tốt có cơ hội phát triển nhanh. Gặp buổi tối tăm, hỗn loạn thì những cái xấu mặc sức hoành hành. Nhưng vẫn là thuộc về con người của một dân tộc cụ thể không thể thêm hay bớt, lại càng không thể nhào nặn theo những mẫu hình mà ta mong được thế, muốn được thế. Vào khoảng năm 70, một bạn văn có nói với tôi, đại ý, muốn đi đâu thì đi muốn đọc gì thì đọc nhưng cứ phải giẫm nát mảnh đất dưới chân mình mới mong có được những trang viết thật hay. Nói thế là rất đúng, bây giờ nghĩ lại cũng vẫn đúng nhưng chưa đủ. Sống ở một thời có nhiều biến động lớn, phức tạp, quyết định vận mệnh nhiều quốc gia, nhiều dân tộc, nếu người viết bị trói buộc vào cái thật hằng ngày, cái thật của đời người, của một vùng đất sẽ khó có thể vươn tới những hình tượng nghệ thuật có tầm vóc lớn, khái quát được những biểu trưng tinh thần của một dân tộc, một thời đại thông qua những nhân vật sống động, quen thuộc và thân thiết với nhiều thế hệ bạn đọc. Nhưng muốn tới được cái cõi ấy hình như lại phải có sự hỗ trợ của tầm văn hóa chung, của triết học và chính trị.
Những năm gần đây tôi vẫn viết đều đặn nhưng cũng là múa võ trên mảnh đất quen thuộc. Tôi vẫn muốn viết khác trước nhưng chưa tìm ra được những hình tượng nghệ thuật kết tinh sự từng trải cả về tuổi đời lẫn tuổi nghề của mình. Nó vừa là hình thức vừa là nội dung, không có một nghệ thuật tiểu thuyết đẹp và mới thì sẽ không có bạn đọc, không thể lưu truyền được lâu dài. Nhưng có được một nghệ thuật diễn tả phù hợp không phải cứ tìm mà có. Nó không ở ngoài ta mà ở trong ta. Cái nghệ thuật đích thực phải là nhu cầu cấp thiết từ bên trong, từ ngọn lửa bùng cháy từ bên trong. Và khi nó đã phá ra được một cửa mở để câu chữ, hình ảnh, cách bố cục tràn ngập trên trang giấy thì chính người sinh thành ra nó cũng không biết là mới, là lạ, là đẹp, chỉ thấy phải như thế, bắt buộc là như thế. Đó là cách nghĩ của tôi về một hình thức nghệ thuật mới. Nó là sự từng trải già ẩn trong cái vỏ bọc trẻ. Là sự tích lũy dài ngày, một đời chạm được vệt sáng vĩnh cửu chói lòa trong giây phút. Thật là khó lắm, nhưng tôi vẫn chưa hết hy vọng.
Nguồn: Nguyễn Khải tác phẩm chọn lọc - NXB Giáo dục Việt Nam
________________________________________________________________
Chủ Nhật, 2 tháng 5, 2010
Nhà văn Chu Lai: Gã lãng tử đa tình
Trần Mỹ Hiền
Ngày còn nhỏ, khi tôi đang mơ màng khép những trang cuối cùng của cuốn tiểu thuyết "Nắng đồng bằng", rồi hình dung ra dung nhan đẹp đẽ của thần tượng thì chú tôi bảo: "Dung nhan của Chu Lai rất bất thường. Tóc ông xoăn tít, da ông ngăm đen không giống người Việt mình. Chính vì thế mới có giai thoại về cái bút danh lạ lẫm này. Trông dữ dằn vậy nhưng ông lại xuề xòa, hiền lành và tốt bụng nữa...".
Trong những nhà văn quân đội, tôi có cảm tình đặc biệt với Chu Lai. Bởi lẽ khi còn nhỏ ở cùng phố với ông - phố Lý Nam Đế, mà sau này người ta đã bỏ hẳn cái tên vốn có và gọi nó bằng tên trong truyện của ông là “Phố Nhà Binh”. Con phố với cái tên sặc mùi súng đạn lại lung linh một màu xanh lãng mạn của hai hàng sấu cổ thụ bên đường và tiếng ve kêu râm ran mùa hè, là nơi cư trú của hàng trăm gia đình cán bộ cao cấp Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Truyện của Chu Lai được nhiều người đọc, ông nổi tiếng đến độ, ở trời Tây xa xôi có hẳn một giai thoại về nhà văn Chu Lai. Người ta đồn rằng, ngày xưa Tây rạch mặt về càn ở làng ông, mẹ ông luýnh quýnh chạy chậm, lại còn bị vấp ngã nữa. Huyền thoại người đàn bà trinh tiết giẫm phải vết chân thần bỗng dưng mang thai ra đời từ đấy. Nhờ câu chuyện “nhảm nhí” này mà mấy chục năm sau văn đàn Việt Nam mới có một nhà văn bút hiệu Chu "Lai" chuyên viết về đề tài chiến tranh.
Run rủi làm sao nhiều năm sau tôi gặp thần tượng của mình, tôi giấu nhẹm cái chuyện giai thoại nghe kể kia đi vì tôi biết rất rõ ông là con trai của cụ Học Phi, một nhà viết kịch có tiếng thời sân khấu là “thánh đường”. Lần đầu chiêm ngưỡng ông, tôi thấy đúng quá, thiên hạ nói quả không sai. Từ đầu đến chân ông rặt một màu đen, tóc ông đen nhánh, da ông đen giòn, đen ngọt, áo quần đen, cả bộ ria đen kỳ lạ làm nên phong một cách Chu Lai. Ông nói năng vâm váp và bặm trợn, lời lẽ rất ngầu của một người lính đã vào sinh ra tử... Sau lần đầu gặp gỡ đó, chúng tôi còn gặp nhau đôi ba lần nữa, mới đây tôi lại vô tình gặp ông trong không khí cả nước nhộn nhịp, tưng bừng chào mừng 35 năm Ngày Giải phóng miền Nam 30-4.
Câu chuyện của chúng tôi loay hoay thế nào, lại bắt đầu bằng cái sự yêu và nghiệp viết của nhà văn, dù rằng giờ ông ở tuổi 65.
- Nhà văn Chu Lai: Năm tôi học lớp 6, lớp 7 đã bắt đầu biết láng máng yêu những cô bạn học. Tôi không phải là con người của học đường. Ngày nhỏ lãng mạn và hay buồn lắm. Sông Hồng hồi đó nguyên thủy hoang mạc, bé tí tẹo bỏ học lang thang ra đê, hút thuốc lá Trường Sơn nặng trịch, buồn man mác với sông Hồng. Đó là dấu hiệu của văn chương. Rồi tôi viết, không phải là viết văn mà viết tin. Tin như thế này: "Phố tôi máy nước chảy tràn trề mà không có ai chăm sóc cả bây giờ nhà tôi không có nước còn ngoài đường thì nước rất nhiều". Viết thế, làm gì có nhuận bút đâu.
Sau đó chiến tranh bùng nổ, tôi bỏ lại "thánh đường" sân khấu, bỏ cả Đại học Quân y ở cầu Tó, bỏ sau mình các cô người yêu thôn nữ, những mùa đông trôi qua lặng lẽ cảm thấy vô nghĩa, thế là lại bỏ tất cả đi lên đường chiến đấu. Có cô bạn học tiễn dọc sông Nhuệ nước mắt lã chã thành kỷ niệm. Cái buồn hiu hắt của tuổi thơ cộng với cái lãng tử của dòng tộc nhập vào chiến cuộc, biến thành cái lãng mạn trong chết chóc. Và có một khí lực tự trọng của chàng trai Hà Nội không chịu đầu hàng, không chịu nhục nhã thế là trở thành một người cầm súng chuyên nghiệp cho đến khi đất nước hoàn toàn giải phóng, năm 1975. Mầm mống văn chương len lỏi, ngọ nguậy ở những năm tháng chiến tranh.
Cứ đến 6 tháng binh đoàn lại thay quân một lần, thế là tôi ở trong rừng một mình lủi thủi nghe tiếng vượn hót, chim kêu để chờ quân hậu phương tới. Những ngày chờ đợi đó buồn quá lấy giấy ra viết truyện ngắn. Viết xong cũng không biết gửi đi đâu, vì mất liên lạc, thế là cứ viết lại xé, cứ xé lại viết liên tục. Những năm tháng chiến tranh đánh nhau mù mịt đó, viết để tồn tại, viết để lấp đầy chỗ trống, viết để lấp đầy khoảng vắng ghê rợn như một thứ lý liệu pháp. Sau này thời kỳ bao cấp nhưng không viết thì không tồn tại, viết chính là để neo mình vào cuộc đời. Ngày xưa viết để neo mình vào trong chiến tranh...
- PV: Là một người lính cầm súng và chiến đấu cho đến ngày đất nước thống nhất, cảm xúc, tâm trạng của ông trong những ngày này ra sao?
- Nhà văn Chu Lai: Đoạn đời đẹp nhất của tôi là năm tháng đi chiến đấu ở chiến trường, và ngày đất nước thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà. Hãy nói về quá khứ ngày này cách đây 35 năm. Khoảng 10 ngày sau giải phóng dân tộc, đó là những khoảnh khắc thời gian ăn sâu vào mỗi người lính chúng tôi, con người trở thành ánh hào quang của những vùng mình giải phóng. Có anh bộ đội Cụ Hồ đi vào quán hủ tiếu, người ta bê ra không lấy một xu, nhìn như nhìn thần tượng. Đi ra ngoài đường các xe lam, xe đò, dừng lại, người ta hỏi: "Chú đi đâu chú?"; "Thầy đi đâu thầy?". Oai lắm, và đặc biệt là trong trái tim các cô gái. Hồi đó ông Chu Lai làm trong Ban quân quản thì có ít nhất 5 đến 7 cô, Bách khoa có, Văn khoa có, Luật khoa có... Tất cả đều nhìn ông Chu Lai một cái nhìn đầy nữ tính. Lúc đó tôi chỉ nhìn vào mắt cô nào lâu độ nửa giây thôi là cô ấy thuộc về mình. Không phải giá trị của tôi mà giá trị của Quân giải phóng, hào quang của Quân giải phóng. Bởi vì các cô gái vùng tạm chiếm chỉ thích mô típ người hùng. Đã đàn ông phải là người hùng.
Có một đôi sinh viên ngồi học với nhau, sinh viên nam tỏ tình với sinh viên nữ không được, nhưng bỗng một ngày sinh viên nam đi quân dịch, hai năm sau trở về thành một chàng sĩ quan trung úy đội mũ lệch, ria mép, giầy bốt đờ xô, ngồi xe Zép phóng vi vu trên đường, cô này chao đảo rung động.
Năm 1965, lại có một loại người hùng khác, đánh át cái loại người hùng nội địa. Hắn to cao, mắt xanh lơ, phóng ôtô trên đường Sài Gòn, bay như tia nắng chui xuống gầm xe, cao bồi Tếch-dát, các cô gái vùng tạm chiếm lại thấy ngơ ngác lạ.
Nhưng đến năm 1975, ngày 30-4, lại có người hùng khác, mỏng manh, da xanh xao, vì 10 năm ở trong rừng có nắng đâu mà hồng hào, trở thành hộ lý hết, nói rất nhẹ, đi rất khẽ. Trông cậu nào cũng thư sinh bảng lảng, các cô gái thấy lạ nhỉ, người hùng gì mà đánh bạt hai người hùng kia, trông lại thư sinh thế này, bắt đầu các cô ấy rung động. Vớ phải kiểu đại đội trưởng đặc công Chu Lai nói dẻo miệng, mà hồi đó sĩ quan mình toàn những người văn hóa cao, đa phần là những sinh viên lên đường đi chiến đấu...
- PV: Anh là người có khí chất văn chương nhưng tâm hồn lại "có" gươm đao súng ống. Thường thì những tâm hồn văn chương nghệ thuật đa cảm, mỏng manh rất sợ mùi của chiến tranh. Anh ngoại lệ chăng?
- Nhà văn Chu Lai: Chẳng có ngoại lệ nào cả, phần lớn ai cũng sợ chiến tranh và không phải đi là tốt nhất. Hồi đó rất nhiều người xung phong ra nhập quân ngũ, có một cái gì nó mơ hồ, trận gió của lịch sử, trận gió của trận mạc, thổi rì rầm ở phía sau lưng của cả một thế hệ khiến cho thế hệ đó khi nhà có biến mà không ra đi vào cõi xa trường thì cảm giác có lỗi với đất nước. Điều đấy còn lớn hơn là giác ngộ, hô hào khẩu hiệu vớ va vớ vẩn nhé. Lúc đó có một điều rất lạ, nếu khỏe mạnh, chân tay lành lặn mà ở lại hậu phương với người yêu thì cô người yêu sẽ rất xúc động nhưng đôi mắt cô ta nhìn anh cứ mỗi ngày mỗi lùn dần đi, dường như anh không còn là anh. Lúc này trai tráng nam nhi chọn một con đường duy nhất, ra trận.
- PV: Với lý tưởng giải phóng dân tộc, khi con người ta xông pha trận mạc giữa sự sống và cái chết, lòng người vẫn thấy phơi phới vì hoài bão lớn lao.
- Nhà văn Chu Lai: Phơi phới hoài bão đó là thơ nhé. Động cơ ra đi mãnh liệt, nhưng cuộc sống khổ chứ không phơi phới. Vì đến đơn vị, bập ngay vào những điều khủng khiếp của một con người phải trải qua. Một đêm hành quân chân đi rướm máu, triền miên đói... Cả đại đội của tôi đóng quân ở Thanh Hóa, 300 con người bị hắc lào, ngứa điên dại. Khổ khủng khiếp làm gì có phơi phới, nhưng có một sự tự trọng vô bờ thôi thúc. Vì không đi trong lòng cảm thấy bất ổn, nông thôn làng xóm vắng tanh, trai tráng lên đường ra chiến trận hết rồi chỉ còn người già và phụ nữ làm ruộng. Ở Hà Nội hỏi đến ai "Đi chưa?" "Đi rồi", "Còn không?" "Đi rồi". Bạn bè đi hết cả, mình không đi ở lại thì bẽ bàng. Mình muốn hòa mình vào dòng đại cuộc. Đơn vị đặc công của tôi đóng cách Sài Gòn 15 cây số nhưng phải đi 10 năm trời mới đến nơi. Như vậy mỗi năm chỉ đi một cây số rưỡi, chỉ có điều mỗi cây số rưỡi đó phải để lại hàng ngàn đồng đội. Cuộc chiến thắng này là cuộc hành binh trên những nấm mồ đẫm máu và ca khúc khải hoàn tức tưởi giữa thành đô. Đẫm máu và nước mắt.
- PV: Bi tráng và hào sảng.
- Nhà văn Chu Lai: Bi tráng thì đúng hơn. Khi đến đầu dãy núi Trường Sơn hành quân qua bản làng ở Quảng Bình các cô gái nhìn ngưỡng mộ thì đấy là một niềm vui kiêu hãnh, đến khi vào rừng bắt đầu đủ các thứ bệnh tật. Hết hào sảng nhưng lúc đó lòng tự trọng, kiêu hãnh của thằng đàn ông kéo mình đi, cụ thể là mình bị sốt rét ác tính ở dọc đường. Lúc đó mình là trung đội trưởng có quyền trở ra hết đau ốm lại vào. Nhưng mình đã bỏ văn công, bỏ đại học, đi chiến trận, bây giờ lại trở thành một thằng đau ốm bệnh tật mà quay trở ra thì còn ra cái gì. Thế là hai tay chống hai cái gậy lẻo khoẻo cứ đi. Trường Sơn hồi đó kiêu hùng, những đoàn quân đi nườm nượp, những đoàn thương binh sặc mùi dầu lèo.
Đi theo đoàn quân còn có một cô bác sĩ, mình thì cũng thật lãng mạn. Đến một buổi trưa thấy bắp chân cô gái cứ xanh dần theo màu lá rừng vì thiếu chất, lấm tấm những giọt mồ hôi, khi đó tôi muốn cúi xuống hôn những giọt mồ hôi đó. Chẳng ai nghĩ được rằng trong chiến tranh khốc liệt như vậy mà mình vẫn “đĩ” được. Qua trận ốm sốt rét nằm li bì hai ngày, tỉnh dậy đuổi theo đơn vị hỏi cô bác sĩ ấy đâu. Được tin, cô ấy rẽ về miền Trung rồi, bỗng chốc cảm thấy cuộc đời tan nát. Sau này, tôi xuống Lái Thiêu, Thủ Đức tiếp xúc những cô gái giao liên du kích, y tế, kể cả đặc công làm cho mình vỡ ra một mảng văn chương.
- PV: Cái đẹp của tâm hồn đa cảm văn chương kết hợp với cái đẹp thuần khiết, trong sáng của các cô gái trong cuộc chiến sinh tử làm những trang văn của người lính cầm bút thêm sinh động, phong phú và vô cùng lãng mạn...
- Nhà văn Chu Lai: Cuộc chiến tranh này sẽ nghèo đi nhiều lắm nếu không có những cô gái lẫn khuất trong rừng già, bóng dáng mềm mại của các cô làm mềm đi cả chết chóc. Nó làm tươi xanh lại những cánh rừng bom đạn. Các cô gái pháo binh 16, 17 tuổi trẻ trung, đeo khẩu pháo cối trên vai đi trong cánh rừng hoàng hôn đẹp như xinema. Đêm về bên ngọn đèn dầu, đặc công và các cô gái trò chuyện cùng nhau, trong sáng không xảy ra điều gì. Giải phóng Sài Gòn về tập kết ra Bắc mấy chục năm sau tôi mới có dịp trở lại thăm, gặp lại các cô gái, xe vừa đỗ thì một đàn mặc áo bà ba đen chạy ra ôm hôn, chát chúa hai bên mặt. Mình mở mắt ra, toàn bà nội, bà ngoại tóc bạc, người lấy chồng, người không lấy chồng, tiêu điều đi một thế hệ con gái. Kể ra mình đừng gặp lại thì các cô ấy sống mãi trong mình y như tiên nữ ở trong rừng.
- PV: Vậy là không công bằng, làm sao tránh được thời gian, ai cũng phải già, ngay kể cả bản thân anh cũng phải già chứ...
- Nhà văn Chu Lai: Không, mình già kệ mình. Nhưng hình ảnh tươi rói ở trong lòng mình đừng để bị già. Hồi xưa tôi đọc truyện ngắn của Jack London, chuyện kể về một thuyền trưởng da trắng lạc trên hoang đảo gặp một cô gái da đỏ, có nước da màu ôliu. Hai người yêu nhau nồng nhiệt. Đến khi con tàu sửa chữa được, trong lúc chia tay, chàng thuyền trưởng hứa sẽ quay trở lại cưới cô gái, nhưng về đến Tây Ban Nha, nhịp sống cuộn đi, và chàng quên lời hứa. Phải 30 năm sau, người thuyền trưởng bắt đầu sống lại tình cảm, giong buồm một mình đi các hoang đảo xa xôi tìm bằng được cô gái ngày nào. Khi tìm đến nơi thì từ trong một chiếc lều bước ra một bà già da đỏ vú dài đến rốn. Chàng rất sửng sốt lên tàu về thẳng. Hết. Kinh nghiệm đừng gặp lại.
Sau khi chia tay với nhà văn Chu Lai, tôi lặng lẽ mở túi xách lôi chiếc gương nhỏ ra soi... và băn khoăn nghĩ, liệu rồi 30 năm nữa, tôi cũng sẽ giống như tất cả các bạn có nên gặp một ai đó nữa hay không?!...
___________________________________________
Ngày còn nhỏ, khi tôi đang mơ màng khép những trang cuối cùng của cuốn tiểu thuyết "Nắng đồng bằng", rồi hình dung ra dung nhan đẹp đẽ của thần tượng thì chú tôi bảo: "Dung nhan của Chu Lai rất bất thường. Tóc ông xoăn tít, da ông ngăm đen không giống người Việt mình. Chính vì thế mới có giai thoại về cái bút danh lạ lẫm này. Trông dữ dằn vậy nhưng ông lại xuề xòa, hiền lành và tốt bụng nữa...".
Trong những nhà văn quân đội, tôi có cảm tình đặc biệt với Chu Lai. Bởi lẽ khi còn nhỏ ở cùng phố với ông - phố Lý Nam Đế, mà sau này người ta đã bỏ hẳn cái tên vốn có và gọi nó bằng tên trong truyện của ông là “Phố Nhà Binh”. Con phố với cái tên sặc mùi súng đạn lại lung linh một màu xanh lãng mạn của hai hàng sấu cổ thụ bên đường và tiếng ve kêu râm ran mùa hè, là nơi cư trú của hàng trăm gia đình cán bộ cao cấp Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Truyện của Chu Lai được nhiều người đọc, ông nổi tiếng đến độ, ở trời Tây xa xôi có hẳn một giai thoại về nhà văn Chu Lai. Người ta đồn rằng, ngày xưa Tây rạch mặt về càn ở làng ông, mẹ ông luýnh quýnh chạy chậm, lại còn bị vấp ngã nữa. Huyền thoại người đàn bà trinh tiết giẫm phải vết chân thần bỗng dưng mang thai ra đời từ đấy. Nhờ câu chuyện “nhảm nhí” này mà mấy chục năm sau văn đàn Việt Nam mới có một nhà văn bút hiệu Chu "Lai" chuyên viết về đề tài chiến tranh.
Run rủi làm sao nhiều năm sau tôi gặp thần tượng của mình, tôi giấu nhẹm cái chuyện giai thoại nghe kể kia đi vì tôi biết rất rõ ông là con trai của cụ Học Phi, một nhà viết kịch có tiếng thời sân khấu là “thánh đường”. Lần đầu chiêm ngưỡng ông, tôi thấy đúng quá, thiên hạ nói quả không sai. Từ đầu đến chân ông rặt một màu đen, tóc ông đen nhánh, da ông đen giòn, đen ngọt, áo quần đen, cả bộ ria đen kỳ lạ làm nên phong một cách Chu Lai. Ông nói năng vâm váp và bặm trợn, lời lẽ rất ngầu của một người lính đã vào sinh ra tử... Sau lần đầu gặp gỡ đó, chúng tôi còn gặp nhau đôi ba lần nữa, mới đây tôi lại vô tình gặp ông trong không khí cả nước nhộn nhịp, tưng bừng chào mừng 35 năm Ngày Giải phóng miền Nam 30-4.
Câu chuyện của chúng tôi loay hoay thế nào, lại bắt đầu bằng cái sự yêu và nghiệp viết của nhà văn, dù rằng giờ ông ở tuổi 65.
- Nhà văn Chu Lai: Năm tôi học lớp 6, lớp 7 đã bắt đầu biết láng máng yêu những cô bạn học. Tôi không phải là con người của học đường. Ngày nhỏ lãng mạn và hay buồn lắm. Sông Hồng hồi đó nguyên thủy hoang mạc, bé tí tẹo bỏ học lang thang ra đê, hút thuốc lá Trường Sơn nặng trịch, buồn man mác với sông Hồng. Đó là dấu hiệu của văn chương. Rồi tôi viết, không phải là viết văn mà viết tin. Tin như thế này: "Phố tôi máy nước chảy tràn trề mà không có ai chăm sóc cả bây giờ nhà tôi không có nước còn ngoài đường thì nước rất nhiều". Viết thế, làm gì có nhuận bút đâu.
Sau đó chiến tranh bùng nổ, tôi bỏ lại "thánh đường" sân khấu, bỏ cả Đại học Quân y ở cầu Tó, bỏ sau mình các cô người yêu thôn nữ, những mùa đông trôi qua lặng lẽ cảm thấy vô nghĩa, thế là lại bỏ tất cả đi lên đường chiến đấu. Có cô bạn học tiễn dọc sông Nhuệ nước mắt lã chã thành kỷ niệm. Cái buồn hiu hắt của tuổi thơ cộng với cái lãng tử của dòng tộc nhập vào chiến cuộc, biến thành cái lãng mạn trong chết chóc. Và có một khí lực tự trọng của chàng trai Hà Nội không chịu đầu hàng, không chịu nhục nhã thế là trở thành một người cầm súng chuyên nghiệp cho đến khi đất nước hoàn toàn giải phóng, năm 1975. Mầm mống văn chương len lỏi, ngọ nguậy ở những năm tháng chiến tranh.
Cứ đến 6 tháng binh đoàn lại thay quân một lần, thế là tôi ở trong rừng một mình lủi thủi nghe tiếng vượn hót, chim kêu để chờ quân hậu phương tới. Những ngày chờ đợi đó buồn quá lấy giấy ra viết truyện ngắn. Viết xong cũng không biết gửi đi đâu, vì mất liên lạc, thế là cứ viết lại xé, cứ xé lại viết liên tục. Những năm tháng chiến tranh đánh nhau mù mịt đó, viết để tồn tại, viết để lấp đầy chỗ trống, viết để lấp đầy khoảng vắng ghê rợn như một thứ lý liệu pháp. Sau này thời kỳ bao cấp nhưng không viết thì không tồn tại, viết chính là để neo mình vào cuộc đời. Ngày xưa viết để neo mình vào trong chiến tranh...
- PV: Là một người lính cầm súng và chiến đấu cho đến ngày đất nước thống nhất, cảm xúc, tâm trạng của ông trong những ngày này ra sao?
- Nhà văn Chu Lai: Đoạn đời đẹp nhất của tôi là năm tháng đi chiến đấu ở chiến trường, và ngày đất nước thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà. Hãy nói về quá khứ ngày này cách đây 35 năm. Khoảng 10 ngày sau giải phóng dân tộc, đó là những khoảnh khắc thời gian ăn sâu vào mỗi người lính chúng tôi, con người trở thành ánh hào quang của những vùng mình giải phóng. Có anh bộ đội Cụ Hồ đi vào quán hủ tiếu, người ta bê ra không lấy một xu, nhìn như nhìn thần tượng. Đi ra ngoài đường các xe lam, xe đò, dừng lại, người ta hỏi: "Chú đi đâu chú?"; "Thầy đi đâu thầy?". Oai lắm, và đặc biệt là trong trái tim các cô gái. Hồi đó ông Chu Lai làm trong Ban quân quản thì có ít nhất 5 đến 7 cô, Bách khoa có, Văn khoa có, Luật khoa có... Tất cả đều nhìn ông Chu Lai một cái nhìn đầy nữ tính. Lúc đó tôi chỉ nhìn vào mắt cô nào lâu độ nửa giây thôi là cô ấy thuộc về mình. Không phải giá trị của tôi mà giá trị của Quân giải phóng, hào quang của Quân giải phóng. Bởi vì các cô gái vùng tạm chiếm chỉ thích mô típ người hùng. Đã đàn ông phải là người hùng.
Có một đôi sinh viên ngồi học với nhau, sinh viên nam tỏ tình với sinh viên nữ không được, nhưng bỗng một ngày sinh viên nam đi quân dịch, hai năm sau trở về thành một chàng sĩ quan trung úy đội mũ lệch, ria mép, giầy bốt đờ xô, ngồi xe Zép phóng vi vu trên đường, cô này chao đảo rung động.
Năm 1965, lại có một loại người hùng khác, đánh át cái loại người hùng nội địa. Hắn to cao, mắt xanh lơ, phóng ôtô trên đường Sài Gòn, bay như tia nắng chui xuống gầm xe, cao bồi Tếch-dát, các cô gái vùng tạm chiếm lại thấy ngơ ngác lạ.
Nhưng đến năm 1975, ngày 30-4, lại có người hùng khác, mỏng manh, da xanh xao, vì 10 năm ở trong rừng có nắng đâu mà hồng hào, trở thành hộ lý hết, nói rất nhẹ, đi rất khẽ. Trông cậu nào cũng thư sinh bảng lảng, các cô gái thấy lạ nhỉ, người hùng gì mà đánh bạt hai người hùng kia, trông lại thư sinh thế này, bắt đầu các cô ấy rung động. Vớ phải kiểu đại đội trưởng đặc công Chu Lai nói dẻo miệng, mà hồi đó sĩ quan mình toàn những người văn hóa cao, đa phần là những sinh viên lên đường đi chiến đấu...
- PV: Anh là người có khí chất văn chương nhưng tâm hồn lại "có" gươm đao súng ống. Thường thì những tâm hồn văn chương nghệ thuật đa cảm, mỏng manh rất sợ mùi của chiến tranh. Anh ngoại lệ chăng?
- Nhà văn Chu Lai: Chẳng có ngoại lệ nào cả, phần lớn ai cũng sợ chiến tranh và không phải đi là tốt nhất. Hồi đó rất nhiều người xung phong ra nhập quân ngũ, có một cái gì nó mơ hồ, trận gió của lịch sử, trận gió của trận mạc, thổi rì rầm ở phía sau lưng của cả một thế hệ khiến cho thế hệ đó khi nhà có biến mà không ra đi vào cõi xa trường thì cảm giác có lỗi với đất nước. Điều đấy còn lớn hơn là giác ngộ, hô hào khẩu hiệu vớ va vớ vẩn nhé. Lúc đó có một điều rất lạ, nếu khỏe mạnh, chân tay lành lặn mà ở lại hậu phương với người yêu thì cô người yêu sẽ rất xúc động nhưng đôi mắt cô ta nhìn anh cứ mỗi ngày mỗi lùn dần đi, dường như anh không còn là anh. Lúc này trai tráng nam nhi chọn một con đường duy nhất, ra trận.
- PV: Với lý tưởng giải phóng dân tộc, khi con người ta xông pha trận mạc giữa sự sống và cái chết, lòng người vẫn thấy phơi phới vì hoài bão lớn lao.
- Nhà văn Chu Lai: Phơi phới hoài bão đó là thơ nhé. Động cơ ra đi mãnh liệt, nhưng cuộc sống khổ chứ không phơi phới. Vì đến đơn vị, bập ngay vào những điều khủng khiếp của một con người phải trải qua. Một đêm hành quân chân đi rướm máu, triền miên đói... Cả đại đội của tôi đóng quân ở Thanh Hóa, 300 con người bị hắc lào, ngứa điên dại. Khổ khủng khiếp làm gì có phơi phới, nhưng có một sự tự trọng vô bờ thôi thúc. Vì không đi trong lòng cảm thấy bất ổn, nông thôn làng xóm vắng tanh, trai tráng lên đường ra chiến trận hết rồi chỉ còn người già và phụ nữ làm ruộng. Ở Hà Nội hỏi đến ai "Đi chưa?" "Đi rồi", "Còn không?" "Đi rồi". Bạn bè đi hết cả, mình không đi ở lại thì bẽ bàng. Mình muốn hòa mình vào dòng đại cuộc. Đơn vị đặc công của tôi đóng cách Sài Gòn 15 cây số nhưng phải đi 10 năm trời mới đến nơi. Như vậy mỗi năm chỉ đi một cây số rưỡi, chỉ có điều mỗi cây số rưỡi đó phải để lại hàng ngàn đồng đội. Cuộc chiến thắng này là cuộc hành binh trên những nấm mồ đẫm máu và ca khúc khải hoàn tức tưởi giữa thành đô. Đẫm máu và nước mắt.
- PV: Bi tráng và hào sảng.
- Nhà văn Chu Lai: Bi tráng thì đúng hơn. Khi đến đầu dãy núi Trường Sơn hành quân qua bản làng ở Quảng Bình các cô gái nhìn ngưỡng mộ thì đấy là một niềm vui kiêu hãnh, đến khi vào rừng bắt đầu đủ các thứ bệnh tật. Hết hào sảng nhưng lúc đó lòng tự trọng, kiêu hãnh của thằng đàn ông kéo mình đi, cụ thể là mình bị sốt rét ác tính ở dọc đường. Lúc đó mình là trung đội trưởng có quyền trở ra hết đau ốm lại vào. Nhưng mình đã bỏ văn công, bỏ đại học, đi chiến trận, bây giờ lại trở thành một thằng đau ốm bệnh tật mà quay trở ra thì còn ra cái gì. Thế là hai tay chống hai cái gậy lẻo khoẻo cứ đi. Trường Sơn hồi đó kiêu hùng, những đoàn quân đi nườm nượp, những đoàn thương binh sặc mùi dầu lèo.
Đi theo đoàn quân còn có một cô bác sĩ, mình thì cũng thật lãng mạn. Đến một buổi trưa thấy bắp chân cô gái cứ xanh dần theo màu lá rừng vì thiếu chất, lấm tấm những giọt mồ hôi, khi đó tôi muốn cúi xuống hôn những giọt mồ hôi đó. Chẳng ai nghĩ được rằng trong chiến tranh khốc liệt như vậy mà mình vẫn “đĩ” được. Qua trận ốm sốt rét nằm li bì hai ngày, tỉnh dậy đuổi theo đơn vị hỏi cô bác sĩ ấy đâu. Được tin, cô ấy rẽ về miền Trung rồi, bỗng chốc cảm thấy cuộc đời tan nát. Sau này, tôi xuống Lái Thiêu, Thủ Đức tiếp xúc những cô gái giao liên du kích, y tế, kể cả đặc công làm cho mình vỡ ra một mảng văn chương.
- PV: Cái đẹp của tâm hồn đa cảm văn chương kết hợp với cái đẹp thuần khiết, trong sáng của các cô gái trong cuộc chiến sinh tử làm những trang văn của người lính cầm bút thêm sinh động, phong phú và vô cùng lãng mạn...
- Nhà văn Chu Lai: Cuộc chiến tranh này sẽ nghèo đi nhiều lắm nếu không có những cô gái lẫn khuất trong rừng già, bóng dáng mềm mại của các cô làm mềm đi cả chết chóc. Nó làm tươi xanh lại những cánh rừng bom đạn. Các cô gái pháo binh 16, 17 tuổi trẻ trung, đeo khẩu pháo cối trên vai đi trong cánh rừng hoàng hôn đẹp như xinema. Đêm về bên ngọn đèn dầu, đặc công và các cô gái trò chuyện cùng nhau, trong sáng không xảy ra điều gì. Giải phóng Sài Gòn về tập kết ra Bắc mấy chục năm sau tôi mới có dịp trở lại thăm, gặp lại các cô gái, xe vừa đỗ thì một đàn mặc áo bà ba đen chạy ra ôm hôn, chát chúa hai bên mặt. Mình mở mắt ra, toàn bà nội, bà ngoại tóc bạc, người lấy chồng, người không lấy chồng, tiêu điều đi một thế hệ con gái. Kể ra mình đừng gặp lại thì các cô ấy sống mãi trong mình y như tiên nữ ở trong rừng.
- PV: Vậy là không công bằng, làm sao tránh được thời gian, ai cũng phải già, ngay kể cả bản thân anh cũng phải già chứ...
- Nhà văn Chu Lai: Không, mình già kệ mình. Nhưng hình ảnh tươi rói ở trong lòng mình đừng để bị già. Hồi xưa tôi đọc truyện ngắn của Jack London, chuyện kể về một thuyền trưởng da trắng lạc trên hoang đảo gặp một cô gái da đỏ, có nước da màu ôliu. Hai người yêu nhau nồng nhiệt. Đến khi con tàu sửa chữa được, trong lúc chia tay, chàng thuyền trưởng hứa sẽ quay trở lại cưới cô gái, nhưng về đến Tây Ban Nha, nhịp sống cuộn đi, và chàng quên lời hứa. Phải 30 năm sau, người thuyền trưởng bắt đầu sống lại tình cảm, giong buồm một mình đi các hoang đảo xa xôi tìm bằng được cô gái ngày nào. Khi tìm đến nơi thì từ trong một chiếc lều bước ra một bà già da đỏ vú dài đến rốn. Chàng rất sửng sốt lên tàu về thẳng. Hết. Kinh nghiệm đừng gặp lại.
Sau khi chia tay với nhà văn Chu Lai, tôi lặng lẽ mở túi xách lôi chiếc gương nhỏ ra soi... và băn khoăn nghĩ, liệu rồi 30 năm nữa, tôi cũng sẽ giống như tất cả các bạn có nên gặp một ai đó nữa hay không?!...
___________________________________________
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)