Hiển thị các bài đăng có nhãn Tự lực Văn đoàn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tự lực Văn đoàn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 12 tháng 5, 2010

Nhà văn Thạch Lam: Mạnh hơn cái chết

Phạm Thành Chung

Trong các nhà văn thành viên của Tự Lực văn đoàn, Thạch Lam là người có số lượng đầu sách thuộc loại ít ỏi. Không chỉ bởi ông viết kỹ, đến độ... khó tính, mà còn bởi ông mất sớm, lúc chưa đầy 32 tuổi. Nhưng, mượn cách của Hoài Thanh khi vinh danh Nguyễn Nhược Pháp, ta có thể nói: "Văn in ra rất ít mà được người ta mến rất nhiều, tưởng không ai bằng Thạch Lam".

Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của tác giả những thiên tuyệt bút "Gió đầu mùa", "Hà Nội băm sáu phố phường", xin góp cùng bạn đọc một số mẩu chuyện với những tình tiết còn ít người biết về con người giàu lòng trắc ẩn: Thạch Lam
Mảnh mai nhưng không yếu đuối.

Trong bài tùy bút "Một đêm họp đưa ma Phụng" viết năm 1939, nhà văn Nguyễn Tuân đã có mấy dòng cho thấy thể chất "cầm lỏng được cái chết" của Thạch Lam: "Thế Lữ, Tchya, Lưu Trọng Lư, Lan Khai, Đoàn Phú Tứ, Thạch Lam... đều là những người đủ tư cách để sớm lên đường lắm. Ngực người nào cũng lép như cái đồng hồ Ômêga trông nghiêng. Những người trẻ trung này nếu có nằm xuống cũng nhẹ nhàng lắm đây".
Quả thực, theo những gì mà người thân của Thạch Lam kể lại, mặc dù cao tới 1m70, nhưng sức khỏe của Thạch Lam lại rất không tương xứng với chiều cao của ông. Có thể nói, ông thuộc dạng "thể chất yếu". Hẳn là vì thế mà ông rất năng chơi thể thao (ông chơi tennis vào loại khá), và có thời kỳ, ông cùng người anh rể tương lai tên gọi Nguyễn Kim Hoàn đi học võ nghệ.

Tuy vậy, theo bà Nguyễn Thị Thế, chị gái Thạch Lam từng kể lại thì: "Hồi nhỏ, tôi dút dát bao nhiêu thì Vinh (tên thật của Thạch Lam là Nguyễn Tường Sáu, sau đổi thành Nguyễn Tường Vinh, rồi Nguyễn Tường Lân - PTC ) bạo dạn bấy nhiêu. Tuy tôi hơn nó một tuổi nhưng việc gì cũng phải nghe theo nó cả. Cũng nhờ tính bạo dạn này, Vinh đã giúp đỡ mẹ tôi được nhiều việc. Nhưng cũng làm cả nhà hoảng hồn nhiều lần...".

Và, một trong những việc ông làm cả nhà hoảng hồn là việc cưới xin của ông. Khác với tất cả các anh trai đều lấy vợ qua mai mối, được bố mẹ chấp thuận mới coi mặt nhau, rồi cưới, Thạch Lam lấy vợ hoàn toàn do sự lựa chọn của cá nhân ông. Không những vậy, vợ ông (bà Nguyễn Thị Sáu, người Ninh Bình) trước khi đến với Thạch Lam đã có một đời chồng. Bởi vậy, Thạch Lam quyết định cưới trước rồi mới nhờ chị gái "về trình với gia đình sau". Đến nước này gia đình Thạch Lam đành chỉ còn cách ưng thuận.

Rất may, vợ Thạch Lam là một người đàn bà rất mực chu toàn với chồng con. Theo bà Nguyễn Thị Thế thì về đường ăn uống, Thạch Lam rất khó tính "cà phê bao giờ cũng phải do tay vợ pha, người khác pha là không bao giờ uống". Sau khi Thạch Lam mất, mặc dù còn trẻ đẹp, bà Sáu vẫn ở vậy nuôi con. Trong ba người con của bà với nhà văn Thạch Lam, người con gái cả Nguyễn Thị Kim Dung sau này là vợ của Trung tướng chính quyền Sài Gòn Ngô Quang Trưởng và người con trai út Nguyễn Tường Giang mặc dù tốt nghiệp bác sĩ song cũng nối nghiệp cha viết văn làm thơ...

Nhân nói về tính quyết đoán, tư duy "độc lập tự chủ" của Thạch Lam, ta có thể thấy: Mặc dù là em trai của hai nhà văn danh tiếng Nhất Linh và Hoàng Đạo, song Thạch Lam không để cuộc sống cũng như quan điểm sáng tác của mình bị cuốn theo đường hướng của các anh. Chẳng thế mà, khi so sánh cốt cách và sự nghiệp sáng tác của Thạch Lam với Nhất Linh, Hoàng Đạo (và cả Khái Hưng), từ năm 1972, nhà văn Vũ Bằng đã đưa ra nhận xét: "muốn nói đến một người tôn thờ nhân bản thực sự, một người thương yêu xót xa đồng bào từ tâm can tì phế thương ra thì người ấy chính là Thạch Lam".

Thích nhẹ nhàng, ưa tĩnh mịch

Vẫn nhà văn Vũ Bằng, khi nhận xét về lối sống tao nhã của Thạch Lam, đã viết rằng: "Nghĩ lại thì trong suốt cuộc đời anh, cái gì cũng nhẹ nhàng: Nhẹ nhàng từ cử chỉ, từ tiếng nói, nhẹ nhàng từ câu nói, từ bước đi... dường như nếu bước mạnh thì đất nó đau".

Nhà văn Đỗ Đức Thu nhận thấy "Thạch Lam rất thận trọng trong việc giao du. Bạn bè của anh có thể đếm trên đầu ngón tay. Thỉnh thoảng mới có người lui tới cái nhà cạnh Tây Hồ. Khách phần nhiều cũng yên lặng như chủ, đó là những người có thể ngồi im hàng giờ cạnh khay chè, đã đạt đến cái thuật "đối diện đàm tâm" của các bậc túc nho".

Bà Nguyễn Thị Thế kể lại những năm tháng cuối cùng của người em trai (Thạch Lam mất ngày 27/6/1942 vì bệnh lao): "Đau ốm, chú không cho bất cứ bạn bè hay họ hàng nào vào thăm. Chỉ người thân trong nhà mới được vào phòng thôi. Vì thích cây liễu nên chú bắt kê giường làm sao cho chú nằm, vẫn nhìn thấy cành liễu rủ xuống khung cửa sổ. Một hôm thằng người nhà không biết, dứt xuống mấy cành lòa xòa sát đầu. Khi tôi sang, chú kể chuyện và cứ tiếc mãi. Từ đó về sau, tôi phải dặn tất cả mọi người không ai được dứt một cái lá nào của chú". Tình tiết làm tôi không thể không nhớ tới bối cảnh trong truyện ngắn "Chiếc lá cuối cùng" của nhà văn Mỹ O.Henry.
Cũng theo hồi ức của bà Nguyễn Thị Thế thì bản tính Thạch Lam "ưa tĩnh mịch nên khi có con, vú em được lệnh cấm không được ru và cũng cấm không được để nó khóc. Ngoài cổng, có khi chú còn cho treo một cái biển đề: "Ai hỏi gì xin lên tòa soạn". Và bà Thế kết luận, những tháng ngày cuối đời, Thạch Lam "khó tính đến nỗi hầu như chỉ có thím là chiều chuộng được chú, còn tôi và mẹ tôi cũng đành chịu".

Thẳng thắn và minh bạch

Cách đây ít năm, Nhà xuất bản Văn học của ta có cho ấn hành cuốn tiểu thuyết "Đi tìm thời gian đã mất" của nhà văn Pháp Marcel Proust. Hẳn ít người biết rằng, ngay từ cuối những năm những năm 30 của thế kỉ trước, Thạch Lam đã dịch và giới thiệu với bạn đọc Hà thành cuốn tiểu thuyết này.
Chỉ có điều, ở bản dịch này, Thạch Lam đã dịch sai một số chi tiết. Chẳng hạn, trong nguyên bản có câu chuyện "La Petite Madeleine", Thạch Lam dịch là "Cô bé Madeleine". Thực ra, xem chuyện người ta có thể thấy "La Petite Madeleine", có nghĩa là "Cái bánh Madeleine".
Điều đáng nói hơn cả là sau một thời gian dài (đến gần ba tuần) bản dịch đó được in trên báo Ngày Nay, vẫn chưa có ai phát hiện và lên tiếng về sai sót đó cả. Chợt một ngày, cũng trên tờ báo đó, Thạch Lam thẳng thắn nêu cái nhầm của mình. Ông thú nhận điều sai lầm đó ông biết được là nhờ sự mách bảo của một độc giả. Tác giả ngỏ ý cảm ơn độc giả nọ và mong sẽ nhận được nhiều chỉ dẫn về những khiếm khuyết khác.
Nếu đối chiếu với việc ngày nay, có những trường hợp sai sót rành rành, mặc dù được bạn đọc viết thư góp ý kỹ càng, chi tiết, song nhiều người vẫn muốn lờ đi, cho qua, ta sẽ thấy động thái trên của Thạch Lam thực đáng quý.

Còn có một "ông đồ" trong truyện ngắn của Thạch Lam

Bạn đọc yêu văn học nước ta hẳn không mấy ai không biết đến tên tuổi nhà thơ Vũ Đình Liên và bài thơ bất hủ "Ông đồ". Bài thơ này cho thấy sự biến thiên của thời cuộc đã tác động lớn lao đến một số phận người trong xã hội. Vì bài thơ có nói đến mưa xuân, đến hoa đào nở, đến câu đối, đến giấy đỏ... cho nên cũng có rất nhiều duyên cớ để người ta nhắc tới, điểm tới vào các dịp Tết Nguyên đán, gợi cho ta nhớ tới một tầng lớp người đáng kính mà các bạn trẻ ngày nay dường như ít có cơ gặp lại...

Bài thơ "Ông đồ" của Vũ Đình Liên ra mắt lần đầu năm 1936, trên báo Tinh hoa. Nhiều bạn trẻ hôm nay sẽ lấy làm ngạc nhiên khi biết rằng, trên báo Phong hóa số ra vào tháng giêng năm ấy, có đăng truyện ngắn "Ông đồ nho" của nhà văn Thạch Lam, một truyện ngắn khi đọc ta có cảm tưởng như đó chính là xuất xứ cho bài thơ của Vũ Đình Liên, hoặc giả - là sự triển khai bằng văn xuôi bài thơ nói trên. Bởi đối chiếu hai tác phẩm nói trên, ta thấy chúng có ý tưởng và tinh thần khá gần gũi nhau.

Vì nhiều bạn đã thuộc bài thơ "Ông đồ", tôi chỉ xin trích ra ở đây một số nội dung, một số đoạn trong truyện ngắn "Ông đồ nho" của Thạch Lam. Ví dụ: "Mỗi năm tết đến, ngày phiên chợ cuối năm, bao giờ cũng có một ông đồ đến thuê cái hiên nhà tôi để viết câu đối bán. Ông là người đã già, râu tóc đã bạc phơ cả và chữ viết rất tốt. Vì vậy, chữ ông viết ra bán rất chạy, và người ta tranh nhau mua".
Có một điểm hơi khác với bài thơ của Vũ Đình Liên (ông đồ chịu sự tác động của một xã hội đang trên đà Âu hóa, bút lông được thay bằng bút sắt), ông đồ trong truyện của Thạch Lam đã bị mất khách vì một người bán tranh Tàu. Tranh của anh chàng này vẽ những cô gái hồng hào, mũm mĩm, giá lại rẻ, khiến không ai thiết gì mua câu đối của ông cụ nữa.

Nhà văn Thạch Lam đã viết về tình cảnh này của ông cụ bằng một đoạn văn thật cảm động: "Cụ ngồi suốt buổi chợ mà không bán được tí gì. Cụ thu xếp bút nghiên gọi tôi đến (tức tác giả, bấy giờ còn bé - PTC) ẵm vào lòng rồi bảo rằng: "Năm nay không có xu nào cho em ăn quà em ạ!". Tôi ngẩng lên thì thấy ông cụ rơm rớm nước mắt. Đến tối, thầy tôi ra đòi tiền thuê hiên, ông cụ không có, thầy tôi bắt ngay cái bút và hai vế câu đối rồi đuổi ông cụ đi. Từ năm sau, tôi không thấy cụ đem bán chữ nữa. Hỏi người vú tôi thì vú bảo nghe đâu ông cụ nghèo túng đã chết từ tháng giêng kia rồi và không có con cái gì cả".

Tuy có một vài tiểu tiết khác nhau, nhưng ở bài thơ của Vũ Đình Liên và truyện ngắn của Thạch Lam đều có một điểm chung: Đó là lòng thương người vô tận. Đọc xong hai tác phẩm nói trên, chúng ta không thể giấu được lòng thương cảm.

__________________________________________________________

Chủ Nhật, 28 tháng 3, 2010

Những bóng hồng trong đời thơ Nguyễn Bính

Tú UyênMang một tâm hồn hết sức nhạy cảm, cho nên việc trái tim của chàng thi sĩ chân quê luôn vương vấn những bóng hồng trên từng bước phiêu lãng kể cũng không có gì là lạ. Nhà văn Hoàng Tấn đã từng nhận xét về người bạn thân: “Cái anh thi sĩ này là chúa đa tình!”.

Tên Nguyễn Bính xuất hiện trên văn đàn bằng giải khuyến khích của nhóm Tự Lực Văn Đoàn trao cho tập thơ Tâm hồn tôi của chàng thanh niên 22 tuổi (1940). Ở ngay tập thơ ấy, “tâm hồn tôi” đã được Nguyễn Bính ghi tặng cho cô Oanh - một người đẹp đất Hà Đông: “Tâm hồn tôi là một bình rượu nhỏ/Rót dần dần, rót mãi xuống nàng Oanh/Không say sưa, nàng vẫn vô tình/Hắt ly rượu hồn tôi qua cửa sổ...”. Cho nên, “ghi tặng” cho... oai vậy thôi, chứ giai nhân này chưa hề trao đổi, chưa hề ước hẹn nửa câu với anh chàng thi sĩ đa tình. “Cô ấy” chỉ là người mà chàng thầm yêu trộm nhớ. “Nhưng yêu Oanh quá cho nên phải/Mơ chuyện thần tiên để dối mình...”.
Năm 1941, Nguyễn Bính ra mắt tập thơ Hương cố nhân, trong tập thơ này có nhiều bài thơ dành tặng cho một người con gái tài hoa, mà Nguyễn Bính gọi nàng dưới nhiều cái tên: Hương, Mai Thơ, Tây Thi... thực ra đó là nữ sĩ Anh Thơ (tên thật là Vương Kiều Ân, do đó Nguyễn Bính còn lấy bút hiệu là Vương Kiều Mộc). Nàng cũng làm thơ, cũng viết về đề tài nông thôn và tập thơ Bức tranh quê của nàng cũng được nhóm Tự Lực Văn Đoàn trao giải khuyến khích. Những cái “cũng” hết sức tương đồng ấy đã đưa hai tâm hồn “vướng nợ thi nhân” này lại gần nhau. Một mối tình rất... thơ, nhưng cũng đầy trắc trở: “Em tôi be bé làm thơ/Tôi lo tiền cưới bao giờ cho xong...”. Nàng là cô tiểu thư vùng Phủ Lạng - Bắc Giang, nơi có con sông Thương “nước chảy đôi dòng”, còn chàng chỉ là thi nhân “khăn gói giang hồ”: “Em là con gái nhà giời/Tôi là con cái nhà người thường dân/Yêu em có vạn có ngàn/Nhưng cha không chứng cho bàn tay khôn!”. Rồi cay đắng: “Ai thề như mới hôm qua/Lấy nhau không được chẳng thà chết đi/ Mà thôi nhắc lại làm gì/Thế gian chán vạn kẻ thề có sao!”. Trách móc là vậy nhưng tâm hồn của nhà thơ cứ tơ tưởng về người con gái Phủ Lạng: “Cô Thơ, cô đẹp nhất làng/Nghe trời đổ gió may quàng áo bông/Lạnh rồi! Sắp sửa mùa đông/Người ta sắp sửa lấy chồng hay chưa?/Vội vàng chi mấy cô Thơ/Áo bông tuy ấm nhưng chưa bằng chồng/Tôi cầu trời mất mùa đông/Cố nhân xa lắm, áo bông rách rồi...”. Nhà văn Hoàng Tấn nhận xét : “Đây có lẽ là mối tình đau khổ nhất của Bính, cái khổ đau nó kéo dài suốt cả đời người, vì không khi nào viết văn làm thơ có dịp là Nguyễn Bính không nhắc đến Hương cố nhân: “Xây bao nhiêu mộng thế mà/Đến nay phải gọi người là cố nhân!”.
Ít ai biết ngoài làm thơ, Nguyễn Bính còn viết 3 tập văn xuôi, đó là những tập Ngậm miệng, Hai người điên ở kinh thành và Không nhan sắc... Trong tập Ngậm miệng, Nguyễn Bính đã nói rõ hơn về “mối tương tư” cô Oanh Hà Đông, còn ở tập Hai người điên ở kinh thành là những bộc bạch về những gì Nguyễn Bính chưa nói hết trong Hương cố nhân. Riêng cuốn Không nhan sắc chỉ là viết để đùa ông anh ruột Trúc Đường (Nguyễn Mạnh Phác) nhằm “phản pháo” khi ông anh viết cuốn Nhan sắc.
Năm 1942, Nguyễn Bính lại có tập thơ Người con gái ở lầu hoa, dành tặng Tú Uyên, “địa chỉ” của nàng được nhà thơ tiết lộ: “Nhà nàng ở gốc cây mai trắng/Trên xóm mai vàng, dưới đế kinh/Có một buổi chiều qua lối ấy/Tôi về dệt mãi mộng ba sinh”. Nhà văn Hoàng Tấn “giải mã”: “ Nhà nàng ở Bạch Mai (gốc mai trắng), trên xóm mai vàng (Hoàng Mai), còn dưới đế kinh là dưới... Phố Huế!”. Hóa ra nàng Tú Uyên ấy chính là em gái của nhà văn Nguyễn Đình Lạp (tác giả Ngoại ô), tên thật là Nguyễn Thị Tuyên. Mỗi ngày đến tòa soạn, Nguyễn Bính đều phải đi qua nhà nàng, thế rồi cứ tự hỏi: “Ô hay, lòng cứ làm sao ấy/Có phải là yêu hỡi Tú Uyên?”. Tự hỏi như thế bởi thực ra nhà thơ và người đẹp cũng... chưa có gì! Chỉ là “để ý” thương thầm thế thôi, thế nhưng nàng Tú Uyên đã hiện diện trong khá nhiều bài thơ: “Nàng Tú Uyên ơi!/Cả một mùa mai trắng rụng rồi/Cả dạo đò sen đang nở rộ/Bốn mùa trơ lại một thân tôi” (Nàng Tú Uyên), hoặc: “Đêm đã khuya mà đường lại xa/Gió cuồng đổ xuống trận mưa hoa/Gió ơi, trời khóc hay tôi khóc/Nàng Tú Uyên ơi, cực lắm mà!” (Mơ tiên). Cho đến cuối năm 1943, Nguyễn Bính vẫn không thôi “khóc” nàng Tú Uyên: “Cây nào cũng đứng bóng trưa/Chuông nào cũng đổ trúng giờ mười hai/Rừng nào cũng nở hoa mai/Nơi nào cũng có hai người yêu nhau/Nhưng mà bất cứ ở đâu/riêng tôi vẫn đắp mối sầu thành non/Vẫn hằng khóc phấn than son/Vì trong thiên hạ không còn Tú Uyên” (Trường hận ca).
Cuối năm 1943, Nguyễn Bính “hành phương Nam”, nơi đất khách quê người này trái tim đa tình kia lại thổn thức bởi một “đôi mắt nhung”. Đó là một cô gái có gốc gác hoàng tộc: Tôn Nữ Hoàng Trân. Nàng đẹp, nhất là đôi mắt như có hấp lực khiến cho thi sĩ cẩn bút: “Bao năm đi giữa kinh thành/Bao năm lẻ bóng, lẻ hình, lẻ đôi/Cả kinh thành có những ai?/Cả kinh thành có một người mắt nhung” (Đôi mắt nhung). Nàng Tôn Nữ cũng biết làm thơ, cho nên ít lâu sau trên tờ Đàn Bà của Thụy An (xuất bản ở Hà Nội) người ta thấy xuất hiện nhiều bài thơ đối đáp giữa Nguyễn Bính và Tôn Nữ Hoàng Trân. Tuy nhiên, mối tình này chỉ được một thời gian ngắn, rồi thì: “Người ngọc trao tay mảnh quạt vàng/Mở lòng một buổi gió thu sang/Tình yêu không cứ mùa mưa nắng/Những tưởng muôn năm Phượng sánh Hoàng... Nào ngờ duyên số vốn chia phôi/Quạt ước còn đây, hẹn lỡ rồi/Ai biết tình anh khi khép lại/Cũng là mảnh quạt cuối thu thôi...”.
Rồi Nguyễn Bính trẩy đi Hà Tiên, ghé thăm cặp tri kỷ Đông Hồ - Mộng Tuyết. Tại đây nhà thơ đã có những ngày thật thơ mộng bên cô gái gốc Minh hương (những người gốc Hoa, theo phong trào “phản Thanh, phục Minh” phiêu dạt qua Việt Nam - NV), cháu ruột của nữ sĩ Mộng Tuyết, tên là Ngọc (chi tiết này đã được nhắc tới trong bài Từ gác Nam Phong đến bài thơ Xóm Rẫy )...

Theo Hà Đình Nguyên - TN
______________________________________________________________