Thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp nổi danh trong trào lưu Thơ Mới những năm 30 thế kỷ trước với chất giọng tươi trẻ, hài hước, hiền lành mà có duyên như nhận xét của Hoài Thanh: “Đọc thơ Nguyễn Nhược Pháp, lúc nào cũng thoáng thấy bóng một người đang khúc khích cười”.
Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp là một trí thức con nhà dòng dõi. Cha ông là nhà văn, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh, từng dịch tập thơ “Ngụ ngôn” của La Fontaine ra tiếng Việt rất đặc sắc. Nguyễn Nhược Pháp sinh năm 1914 tại Hà Nội, đỗ bằng Tú tài Tây, làm thơ từ năm 16 tuổi. Ngoài ra, ông còn sáng tác kịch, truyện ngắn và viết báo. Ông viết báo tiếng Pháp khá nhiều, năm 1935 xuất bản tập thơ “Ngày xưa”, trong đó có bài thơ “Chùa Hương” rất nổi tiếng. Nhưng tiếc thay, thi sĩ tài danh Nguyễn Nhược Pháp mất đột ngột khi mới 24 tuổi, vào năm 1938.
Bạn thân nhất với nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp từ lúc còn trẻ là nhà thơ Nguyễn Bính. Sau khi Nguyễn Nhược Pháp mất, Nguyễn Bính đã viết một bài thơ khóc bạn.
Bài thơ “Chùa Hương”, nguyên bản của bài hát “Hôm qua em đi chùa Hương” có một lai lịch khá kỳ thú. Mùa xuân năm ấy, Nguyễn Nhược Pháp cùng Nguyễn Vỹ và hai cô bạn đi hội Chùa Hương. Trèo lên đến rừng Mơ thì họ gặp một cô bé rất xinh đi cùng mẹ lên chùa. Hai mẹ con đang vừa đi vừa chắp tay niệm Phật, thấy hai chàng bước bên cạnh, cô bé bỗng nhìn họ trân trối rồi bẽn lẽn không niệm Phật nữa.
Nguyễn Nhược Pháp và Nguyễn Vỹ liền hỏi tại sao cô bé không niệm Phật nữa thì cô bé liền đỏ bừng đôi má, tỏ vẻ bối rối muốn khóc. Nguyễn Nhược Pháp thấy vậy thích lắm liền cố bắt chuyện để an ủi cô bé. Và câu chuyện vẩn vơ đã diễn ra cùng họ cho đến chùa Ngoài. Mải chuyện với người đẹp, Nguyễn Nhược Pháp và Nguyễn Vỹ bị hai cô bạn gái đi cùng bỏ rơi lúc nào không hay.
Không tìm được hai cô bạn trong đám đông trẩy hội, đêm ấy hai chàng liền ngủ lại trong chùa Hương cùng hai mẹ con cô bé quê. Sáng hôm sau gặp lại hai cô bạn, Nguyễn Vỹ phải xin lỗi mãi, còn Nguyễn Nhược Pháp chỉ tủm tỉm cười. Về đến Hà Nội được mấy hôm, Nguyễn Nhược Pháp sáng tác nên bài thơ “Chùa Hương” (Theo Nguyễn Vỹ thì trong bản chép tay đầu tiên, bài thơ có tên là “Cô gái Chùa Hương”).
Bài thơ dài 34 khổ 144 dòng, lấy cuộc gặp gỡ lý thú của tác giả với cô gái quê ở Chùa Hương làm đề tài và tưởng tượng thêm. Điều đặc biệt là dưới tên bài thơ, Nguyễn Nhược Pháp mở ngoặc đơn dòng chữ “Thiên ký sự của một cô bé ngày xưa”. Cuối bài thơ còn ghi thêm: “Thiên ký sự đến đây là hết. Tôi tin rồi hai người sẽ lấy nhau, vì không lấy được nhau thì cô gái còn viết nhiều. Lấy nhau rồi là hết chuyện”.
Trước năm 1945, bài thơ đã được nhạc sĩ Trần Văn Khê phổ nhạc thành bài hát “Đi chơi Chùa Hương”, bài hát này khá dài, chỉ có ca sĩ Mộc Lan ở Huế hát thành công nhất, được nhiều người hâm mộ nhất. Giữa những năm 1980, ca sĩ Trung Đức phỏng theo mấy đoạn thơ phổ thành bài hát “Em đi Chùa Hương” và được phổ biến rộng rãi hơn vì nó mộc mạc chân thành, đậm chất dân ca xứ Nghệ, dễ hát và dễ nhớ.
Nhưng nếu Nguyễn Nhược Pháp sống lại để nghe bài hát này, chắc ông sẽ lại tủm tỉm cười khi thấy câu thơ “Chân đi đôi dép cong” của ông đã bị đổi thành “Chân em đi đôi guốc cao cao” bởi vì đi Chùa Hương phải leo dốc, xuống hang rất ghập ghềnh, đi guốc cao thì làm sao mà đi nổi.
Hôm qua em đi chùa Hương
Hoa cỏ còn mờ hơi sương
Cùng thầy mẹ em dậy
Em vấn đầu soi gương.
Nho nhỏ đuôi gà cao;
Em đeo dải yếm đào;
Quần lĩnh, áo the mới;
Tay cầm nón quai thao...
Thuyền đi qua Bến Đục
Mỗi lúc gặp người ra,
Thẹn thùng em không nói
"Nam mô A Di Đà"...
(sưu tầm)
________________________________________________________________
Hiển thị các bài đăng có nhãn bài thơ được phổ nhạc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bài thơ được phổ nhạc. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 8 tháng 6, 2011
Trò chuyện cùng tác giả bài thơ 'Tổ quốc nhìn từ biển'
"Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển/ Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa/ Ngàn năm trước con theo cha xuống biển/ Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa", những vần thơ được Nguyễn Việt Chiến viết ra từ năm 2009, đang được lan truyền mạnh mẽ trong cộng đồng.
Dưới đây là cuộc trò chuyện giữa nhà thơ Nguyễn Việt Chiến với VnExpress.
- Sau khi được đăng tải trên báo Thanh Niên, bài thơ “Tổ quốc nhìn từ biển” của ông được lan truyền mạnh mẽ trên mạng. Ông có thể chia sẻ về sự ra đời của bài thơ?
- Sau khi bài thơ “Tổ quốc nhìn từ biển” đăng trên báo Thanh Niên ngày 29/5, tôi cũng không ngờ nó lại có sức lan tỏa nhanh đến thế. Bài thơ đã được rất nhiều trang mạng điện tử trong và ngoài nước cùng hàng nghìn blog đưa lại.
Người ta vẫn nói, nhà thơ thường có những câu thơ tiên tri. Tôi nghĩ giản đơn hơn, nhà thơ phải nói lên tiếng nói của nỗi đau và khát vọng dân tộc mình. “Tổ quốc nhìn từ biển” là bài thơ đầu tiên tôi viết sau chuỗi ngày hoạn nạn. Ba tháng sau khi trở về tiếp tục nghề báo tại Báo Thanh Niên, tháng 4/2009, tôi được mời đi dự trại sáng tác văn học của Quân đội Nhân dân Việt Nam tại Hạ Long. Trại sáng tác do Tạp chí Văn nghệ Quân đội phối hợp với Cục chính trị quân chủng Hải quân tổ chức với đề tài sáng tác "Biển, đảo và người chiến sĩ hải quân” với sự tham gia của đông đảo các cây bút sung sức trong và ngoài quân đội. Hôm khai mạc trại sáng tác, một sĩ quan cao cấp của quân chủng hải quân đã nói chuyện cả một buổi sáng với các nhà văn về tình hình biển - đảo của chúng ta hiện nay. Có lẽ đã rất lâu, tôi và một số nhà văn mới tiếp cận được những thông tin có thể gọi là khá nhạy cảm và nóng bỏng từ nhiều phía về đề tài này.
Tôi nghĩ, đối với những người cầm bút hôm nay, vượt lên trên tất cả vấn đề thời sự nhạy cảm ấy là tình yêu Tổ quốc. Tình yêu đó được nuôi dưỡng trong tâm hồn mỗi con người Việt Nam qua nhiều thăng trầm, và hình như lại đang được khơi dậy trong những tháng năm này. Chính tình yêu đó đã thôi thúc tôi viết bài thơ “Tổ quốc nhìn từ biển” ngay trong ngày đầu dự trại sáng tác văn học Hạ Long.
- Ông sáng tác bài thơ trong bao lâu?
- Tôi viết bài thơ khá nhanh. Tôi dự trại viết có một ngày, hôm sau phải về Hà Nội vì có công việc báo chí. Trên đường về, có nhà văn quân đội hỏi tôi: “Ông đi dự trại sáng tác có một ngày thì liệu viết được gì?”. Tôi tự tin nói: “Tôi sẽ có một bài thơ để đời về đề tài biển - đảo vì tôi đã nghĩ ra một tứ thơ khá hay và độc đáo. Điều quan trọng là vốn sống văn học đã được tích lũy nhiều năm và trên hết là tài năng, sự hứng khởi và tấm lòng của người cầm bút đối với đất nước”. Chỉ cần một buổi sáng nghe lãnh đạo hải quân thuyết trình về những hiểm họa đang rình rập đất nước, tôi đã thấy mình như lên cơn sốt, muốn viết ngay một khúc tráng ca về những người con của Tổ quốc đã hy sinh ở Hoàng Sa và Trường Sa. Bài thơ tôi hoàn thành trong có một ngày.
- Tâm trạng của ông khi viết ra những câu thơ trong "Tổ quốc nhìn từ biển"?
- Đó là sự thao thức, bồn chồn trước những hiểm họa đang đến gần trên các vùng biển đảo của Tổ quốc thân yêu. Đất nước của chúng ta liên miên trận mạc suốt bao đời, những nỗi đau thương chiến tranh còn ghi dấu nơi rừng sâu, biển thẳm. Và qua nhiều thế kỷ, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc chúng ta đã dâng hiến tuổi thanh xuân của mình, đã vĩnh viễn nằm dưới cỏ để gìn giữ non sông này, để mang lại tự do và hạnh phúc cho thế hệ mai sau... Những cảm xúc trên đã thao thức trong tôi suốt một ngày dài ở trại sáng tác văn học Hạ Long.
- Những câu thơ nào khiến ông phải day dứt nhất khi viết ra?
- Ngay câu thơ đầu tiên mở đầu bài thơ “Tổ quốc nhìn từ biển” tôi đã phải cân nhắc rất kỹ, nâng bút lên, đặt bút xuống nhiều lần. Câu thơ nguyên bản ban đầu là: “Nếu Tổ quốc bị xâm lăng từ biển / Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa” - ba chữ “bị xâm lăng” ở đây nghe có vẻ rất phù hợp vì Hoàng Sa của ta bị chiếm cứ rồi. Nhưng sau khi xem xét lại, tôi cho rằng, nếu để ba chữ “bị xâm lăng” ở đây thì câu thơ nghe có vẻ hơi nặng nề, nên tôi quyết định thay ba chữ ấy bằng “đang bão giông”. Do vậy khi in ra, câu thơ chính thức trên mặt báo là: “Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển / Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa”. Tương tự như vậy, có nhiều câu thơ khác tôi cũng phải suy ngẫm và xem xét khá kỹ trước khi cho công bố.
- Bài thơ đã được nhạc sĩ Phạm Minh Thuận phổ nhạc. Ông nhận xét thế nào về bản nhạc này?
- Thật ra, tôi không biết ký xướng âm và cũng chỉ nghe nhạc sĩ Phạm Minh Thuận hát cho nghe đôi câu qua máy điện thoại nên cũng chưa dám có nhận xét gì về bản nhạc phổ bài thơ của tôi. Điều quý giá là tấm lòng của người nhạc sĩ phổ thơ tôi. Nhạc sĩ Phạm Minh Thuận cho rằng “Bài thơ này đã quá nổi tiếng rồi nên khi phổ nhạc cũng phải cân nhắc lắm”. Tuy nhạc sĩ đã cắt bỏ một số đoạn trong bài thơ và có sửa một số chữ, nhưng nhìn chung vẫn giữ được cái tinh thần cốt lõi của bài thơ.
- Tổ quốc và đất nước là nguồn cảm hứng lớn trong thơ ông. Sau “Thời đất nước gian lao”, ông lại tiếp tục gây xúc động với “Tổ quốc nhìn từ biển”. Theo ông, điều quan trọng nhất để những bài thơ Tổ quốc trở nên gần gũi, đi vào lòng người là gì?
- Có người cho rằng, có thể tình yêu Tổ quốc đồng nghĩa với trách nhiệm công dân của mỗi một con người trước số phận của dân tộc, của đất nước mình. Thôi, xin hãy bớt nói những điều lớn lao, những lời vĩ đại như vậy. Chúng ta là con dân của đất Việt, ông cha ta từ ngàn năm trước đã lên rừng, đã xuống biển để khai phá, dựng xây non nước này. Và, biển đảo ấy là một phần gia tài nghèo khó mà ông cha ta tự ngàn xưa đã không tiếc máu xương, công sức để giữ gìn, để truyền đời lại cho cháu con hôm nay.
Có thể nói, khi viết bài thơ này, tôi đã vượt được qua nỗi đau đời thường của riêng mình để nghĩ về Tổ quốc, để xúc động theo cách một nhà thơ khi cảm nhận tự do trong mỗi ngày đang sống. Không hiểu đấy có phải là điều đáng mừng hay đáng lo, bởi bài thơ đầu tiên khi tôi trở lại cầm bút lại là bài thơ viết về Tổ quốc - một đề tài lớn lao. Tôi nghĩ rằng hình tượng Tổ quốc trong thơ tôi (và trong thơ của nhiều nhà thơ Việt Nam yêu nước) là một chủ đề bất tận, có tính sử thi xuyên suốt qua nhiều năm tháng. Điều quan trọng là nhà thơ phải thở hơi thở đời sống của dân tộc mình và trái tim nhà thơ phải đập cùng nhịp với những khổ đau, mơ ước của nhân dân mình.
Tổ quốc nhìn từ biển
Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển
Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa
Ngàn năm trước con theo cha xuống biển
Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa
Đất Tổ quốc khi chập chờn bóng giặc
Các con nằm thao thức phía Trường Sơn
Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả
Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn
Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển
Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng
Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa
Trong hồn người có ngọn sóng nào không
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao quần đảo
Lạc Long cha nay chưa thấy trở về
Lời cha dặn phải giữ từng thước đất
Máu xương này con cháu vẫn nhớ ghi
Đêm trằn trọc nỗi mưa nguồn chớp bể
Thương Lý Sơn đảo khuất giữa mây mù
Thương Cồn Cỏ gối đầu lên sóng dữ
Thương Hòn Mê bão tố phía âm u
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao thương tích
Những đau thương trận mạc đã qua rồi
Bao dáng núi còn mang hình goá phụ
Vọng phu buồn vẫn dỗ trẻ, ru nôi
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao hiểm họa
Đã mười lần giặc đến tự biển Đông
Những ngọn sóng hoá Bạch Đằng cảm tử
Lũ Thoát Hoan bạc tóc khiếp trống đồng
Thương đất nước trên ba ngàn hòn đảo
Suốt ngàn năm bóng giặc vẫn chập chờn
Máu đã đổ ở Trường Sa ngày ấy
Bạn tôi nằm dưới sóng mặn vùi thân
Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả
Những chàng trai ra đảo đã quên mình
Một sắc chỉ về Hoàng Sa thuở trước *
Còn truyền đời con cháu mãi đinh ninh
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát
Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời
Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất
Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi
(Trại viết Văn nghệ Quân đội Hạ Long 4/2009)
Nguyễn Việt Chiến
----------
* Mới đây người dân huyện đảo Lý Sơn đã tìm thấy một sắc chỉ của vua triều Nguyễn năm 1835 cử dân binh ra canh giữ đảo Hoàng Sa.
Theo Lưu Hà
__________________________________________________________
Dưới đây là cuộc trò chuyện giữa nhà thơ Nguyễn Việt Chiến với VnExpress.
- Sau khi được đăng tải trên báo Thanh Niên, bài thơ “Tổ quốc nhìn từ biển” của ông được lan truyền mạnh mẽ trên mạng. Ông có thể chia sẻ về sự ra đời của bài thơ?
- Sau khi bài thơ “Tổ quốc nhìn từ biển” đăng trên báo Thanh Niên ngày 29/5, tôi cũng không ngờ nó lại có sức lan tỏa nhanh đến thế. Bài thơ đã được rất nhiều trang mạng điện tử trong và ngoài nước cùng hàng nghìn blog đưa lại.
Người ta vẫn nói, nhà thơ thường có những câu thơ tiên tri. Tôi nghĩ giản đơn hơn, nhà thơ phải nói lên tiếng nói của nỗi đau và khát vọng dân tộc mình. “Tổ quốc nhìn từ biển” là bài thơ đầu tiên tôi viết sau chuỗi ngày hoạn nạn. Ba tháng sau khi trở về tiếp tục nghề báo tại Báo Thanh Niên, tháng 4/2009, tôi được mời đi dự trại sáng tác văn học của Quân đội Nhân dân Việt Nam tại Hạ Long. Trại sáng tác do Tạp chí Văn nghệ Quân đội phối hợp với Cục chính trị quân chủng Hải quân tổ chức với đề tài sáng tác "Biển, đảo và người chiến sĩ hải quân” với sự tham gia của đông đảo các cây bút sung sức trong và ngoài quân đội. Hôm khai mạc trại sáng tác, một sĩ quan cao cấp của quân chủng hải quân đã nói chuyện cả một buổi sáng với các nhà văn về tình hình biển - đảo của chúng ta hiện nay. Có lẽ đã rất lâu, tôi và một số nhà văn mới tiếp cận được những thông tin có thể gọi là khá nhạy cảm và nóng bỏng từ nhiều phía về đề tài này.
Tôi nghĩ, đối với những người cầm bút hôm nay, vượt lên trên tất cả vấn đề thời sự nhạy cảm ấy là tình yêu Tổ quốc. Tình yêu đó được nuôi dưỡng trong tâm hồn mỗi con người Việt Nam qua nhiều thăng trầm, và hình như lại đang được khơi dậy trong những tháng năm này. Chính tình yêu đó đã thôi thúc tôi viết bài thơ “Tổ quốc nhìn từ biển” ngay trong ngày đầu dự trại sáng tác văn học Hạ Long.
- Ông sáng tác bài thơ trong bao lâu?
- Tôi viết bài thơ khá nhanh. Tôi dự trại viết có một ngày, hôm sau phải về Hà Nội vì có công việc báo chí. Trên đường về, có nhà văn quân đội hỏi tôi: “Ông đi dự trại sáng tác có một ngày thì liệu viết được gì?”. Tôi tự tin nói: “Tôi sẽ có một bài thơ để đời về đề tài biển - đảo vì tôi đã nghĩ ra một tứ thơ khá hay và độc đáo. Điều quan trọng là vốn sống văn học đã được tích lũy nhiều năm và trên hết là tài năng, sự hứng khởi và tấm lòng của người cầm bút đối với đất nước”. Chỉ cần một buổi sáng nghe lãnh đạo hải quân thuyết trình về những hiểm họa đang rình rập đất nước, tôi đã thấy mình như lên cơn sốt, muốn viết ngay một khúc tráng ca về những người con của Tổ quốc đã hy sinh ở Hoàng Sa và Trường Sa. Bài thơ tôi hoàn thành trong có một ngày.
- Tâm trạng của ông khi viết ra những câu thơ trong "Tổ quốc nhìn từ biển"?
- Đó là sự thao thức, bồn chồn trước những hiểm họa đang đến gần trên các vùng biển đảo của Tổ quốc thân yêu. Đất nước của chúng ta liên miên trận mạc suốt bao đời, những nỗi đau thương chiến tranh còn ghi dấu nơi rừng sâu, biển thẳm. Và qua nhiều thế kỷ, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc chúng ta đã dâng hiến tuổi thanh xuân của mình, đã vĩnh viễn nằm dưới cỏ để gìn giữ non sông này, để mang lại tự do và hạnh phúc cho thế hệ mai sau... Những cảm xúc trên đã thao thức trong tôi suốt một ngày dài ở trại sáng tác văn học Hạ Long.
- Những câu thơ nào khiến ông phải day dứt nhất khi viết ra?
- Ngay câu thơ đầu tiên mở đầu bài thơ “Tổ quốc nhìn từ biển” tôi đã phải cân nhắc rất kỹ, nâng bút lên, đặt bút xuống nhiều lần. Câu thơ nguyên bản ban đầu là: “Nếu Tổ quốc bị xâm lăng từ biển / Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa” - ba chữ “bị xâm lăng” ở đây nghe có vẻ rất phù hợp vì Hoàng Sa của ta bị chiếm cứ rồi. Nhưng sau khi xem xét lại, tôi cho rằng, nếu để ba chữ “bị xâm lăng” ở đây thì câu thơ nghe có vẻ hơi nặng nề, nên tôi quyết định thay ba chữ ấy bằng “đang bão giông”. Do vậy khi in ra, câu thơ chính thức trên mặt báo là: “Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển / Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa”. Tương tự như vậy, có nhiều câu thơ khác tôi cũng phải suy ngẫm và xem xét khá kỹ trước khi cho công bố.
- Bài thơ đã được nhạc sĩ Phạm Minh Thuận phổ nhạc. Ông nhận xét thế nào về bản nhạc này?
- Thật ra, tôi không biết ký xướng âm và cũng chỉ nghe nhạc sĩ Phạm Minh Thuận hát cho nghe đôi câu qua máy điện thoại nên cũng chưa dám có nhận xét gì về bản nhạc phổ bài thơ của tôi. Điều quý giá là tấm lòng của người nhạc sĩ phổ thơ tôi. Nhạc sĩ Phạm Minh Thuận cho rằng “Bài thơ này đã quá nổi tiếng rồi nên khi phổ nhạc cũng phải cân nhắc lắm”. Tuy nhạc sĩ đã cắt bỏ một số đoạn trong bài thơ và có sửa một số chữ, nhưng nhìn chung vẫn giữ được cái tinh thần cốt lõi của bài thơ.
- Tổ quốc và đất nước là nguồn cảm hứng lớn trong thơ ông. Sau “Thời đất nước gian lao”, ông lại tiếp tục gây xúc động với “Tổ quốc nhìn từ biển”. Theo ông, điều quan trọng nhất để những bài thơ Tổ quốc trở nên gần gũi, đi vào lòng người là gì?
- Có người cho rằng, có thể tình yêu Tổ quốc đồng nghĩa với trách nhiệm công dân của mỗi một con người trước số phận của dân tộc, của đất nước mình. Thôi, xin hãy bớt nói những điều lớn lao, những lời vĩ đại như vậy. Chúng ta là con dân của đất Việt, ông cha ta từ ngàn năm trước đã lên rừng, đã xuống biển để khai phá, dựng xây non nước này. Và, biển đảo ấy là một phần gia tài nghèo khó mà ông cha ta tự ngàn xưa đã không tiếc máu xương, công sức để giữ gìn, để truyền đời lại cho cháu con hôm nay.
Có thể nói, khi viết bài thơ này, tôi đã vượt được qua nỗi đau đời thường của riêng mình để nghĩ về Tổ quốc, để xúc động theo cách một nhà thơ khi cảm nhận tự do trong mỗi ngày đang sống. Không hiểu đấy có phải là điều đáng mừng hay đáng lo, bởi bài thơ đầu tiên khi tôi trở lại cầm bút lại là bài thơ viết về Tổ quốc - một đề tài lớn lao. Tôi nghĩ rằng hình tượng Tổ quốc trong thơ tôi (và trong thơ của nhiều nhà thơ Việt Nam yêu nước) là một chủ đề bất tận, có tính sử thi xuyên suốt qua nhiều năm tháng. Điều quan trọng là nhà thơ phải thở hơi thở đời sống của dân tộc mình và trái tim nhà thơ phải đập cùng nhịp với những khổ đau, mơ ước của nhân dân mình.
Tổ quốc nhìn từ biển
Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển
Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa
Ngàn năm trước con theo cha xuống biển
Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa
Đất Tổ quốc khi chập chờn bóng giặc
Các con nằm thao thức phía Trường Sơn
Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả
Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn
Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển
Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng
Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa
Trong hồn người có ngọn sóng nào không
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao quần đảo
Lạc Long cha nay chưa thấy trở về
Lời cha dặn phải giữ từng thước đất
Máu xương này con cháu vẫn nhớ ghi
Đêm trằn trọc nỗi mưa nguồn chớp bể
Thương Lý Sơn đảo khuất giữa mây mù
Thương Cồn Cỏ gối đầu lên sóng dữ
Thương Hòn Mê bão tố phía âm u
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao thương tích
Những đau thương trận mạc đã qua rồi
Bao dáng núi còn mang hình goá phụ
Vọng phu buồn vẫn dỗ trẻ, ru nôi
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao hiểm họa
Đã mười lần giặc đến tự biển Đông
Những ngọn sóng hoá Bạch Đằng cảm tử
Lũ Thoát Hoan bạc tóc khiếp trống đồng
Thương đất nước trên ba ngàn hòn đảo
Suốt ngàn năm bóng giặc vẫn chập chờn
Máu đã đổ ở Trường Sa ngày ấy
Bạn tôi nằm dưới sóng mặn vùi thân
Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả
Những chàng trai ra đảo đã quên mình
Một sắc chỉ về Hoàng Sa thuở trước *
Còn truyền đời con cháu mãi đinh ninh
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát
Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời
Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất
Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi
(Trại viết Văn nghệ Quân đội Hạ Long 4/2009)
Nguyễn Việt Chiến
----------
* Mới đây người dân huyện đảo Lý Sơn đã tìm thấy một sắc chỉ của vua triều Nguyễn năm 1835 cử dân binh ra canh giữ đảo Hoàng Sa.
Theo Lưu Hà
__________________________________________________________
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)