A Sáng
Có ông nhà văn sau khi thấy trên mạng xuất hiện một bài viết không hay về mình thì lập tức đùng đùng nổi giận, viết ngay một bài to sụ để chửi lại, dù ông không biết tác giả đó là ai, và những kiểu bài viết như thế chẳng có giá trị gì. Giới văn chương vẫn thiếu một cái gì đó gọi là tính văn nhân, rất dễ bị kích động, nổi đoá như dân hàng thịt.
Internet ra đời và kèm theo đó là sự thay đổi kỳ diệu của cuộc sống con người. Giới văn chương bắt đầu thoả sức "xuất bản" những tác phẩm của mình mà không hề lệ thuộc vào bất cứ nhà xuất bản hay tờ báo nào. Chưa bao giờ những người cầm bút được tự do - hết sức tự do để công bố tác phẩm của mình trước bàn dân thiên hạ như vậy. Họ tự lập trang Web, Blog... và thoả sức sáng tác. Đã xuất hiện nhiều trang Web xuất sắc, thu hút rất bạn đọc và trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu với cư dân nghiền mạng.
Thế nhưng cũng bắt đầu từ đó, mạng trở thành mảnh đất để những kẻ cầm bút thiếu bản lĩnh, vô trách nhiệm, hèn kém, hoặc có thể nói là vô văn hoá lợi dụng. Họ dấu tên hoặc mượn một bút danh nào đó và bắt đầu viết những bài báo thiếu lành mạnh. Họ bắt đầu công kích ông A, bà B, anh C... hết sức thoải mái. Thậm chí, nhiều cây bút còn kể những chuyện hết sức kém, hoặc bịa tạc câu chuyện nào đó nhằm hạ nhục một người khác. Và chẳng thiếu gì những bài phê bình văn chương cực kỳ độc đoán nhằm đè bẹp nhà thơ X, nhà văn Y vì trong họ đã sẵn lòng đố kỵ, hay ganh ghét.
Có những bài viết hết sức công phu, dẫn chứng hùng hồn, quy chụp mạnh mẽ... nhưng tất cả tác giả đều giấu tên, hoặc mượn bút danh nào đó. Điều này cho thấy giới văn chương của chúng ta vẫn thích ném đá giấu tay, hay nói nôm na là thiếu bản lĩnh. Nếu chúng ta không thích thơ hay văn của ai đó tại sao không thẳng thắn viết ra những ý kiến riêng của mình và chịu trách nhiệm trước những lời lẽ ấy? Chỉ có những người hèn, yếu bóng vía, hoặc bất tài mới núp đằng sau công nghệ mạng để công kích người khác. Người đó biết rõ ràng rằng, những bài viết kiểu thế sẽ không được bất cứ tờ báo chính thống nào đăng tải, nếu có họ cũng sẽ yêu cầu biết chính xác tác giả để còn chịu trách nhiệm, vì thế họ mượn Web, Blog hay một cái gì đó ở trên mạng để công bố. Như thế người ta gọi là núp trong bụi rậm chửi ra, đứng ngoài bóng tối ném đá vào... làm như vậy chỉ hợp với những người không đàng hoàng mà thôi.
Chắc hẳn mọi người còn nhớ trước kỳ Đại hội Nhà văn toàn quốc, những trang Web, Bolg cá nhân nóng lên hừng hực vì những bài viết kiểu thế. Và chỉ cần ngửi qua cũng biết đó là những nhà văn của chúng ta tự viết. Họ nói xấu nhau, dè bỉu nhau, lên án nhau, hạ bệ nhau bằng một thứ được gọi là "văn chương" nhưng tất cả đều núp sau bụi rậm, chỉ rất ít những cây bút lấy tên thật đàng hoàng và nếu có cũng hết viết hết sức lố bịch. Cái dòng thông tin không chính thống ấy chẳng có tác dụng gì, nhưng xem ra nó rất hấp dẫn với những cây bút hèn hạ. Thế nhưng khi vào thảo luận trong đại hội, tất cả họ im re, chẳng ai lên tiếng một cách mạnh mẽ như đã từng viết trên mạng. Hèn! Đó là kết luận của những ai quan tâm tới văn chương mạng.
Có người phải thốt lên rằng, sao các nhà văn, nhà thơ của mình có nhiều thời gian cho việc viết những thể loại nhăng nhít thế? Cái thời gian ấy nếu để sáng tác có lẽ được cả rổ tác phẩm chứ chẳng đùa. Đáng buồn thay, suốt nhiều năm qua bạn đọc chẳng được thưởng thức tác phẩm văn chương nào ra hồn, vẫn chỉ những tác phẩm lẹt đẹt, hoặc thể loại "dâm thư" rẻ tiền. Không ít các nhà văn vì ấm ức chuyện gì đó với thủ trưởng, bạn bè, hay xã hội đã tự "xổ" vào Blog của mình. Nhưng nếu chỉ viết để giải toả, hoặc giữ cho riêng mình thì chẳng sao, nhưng ngay lập tức họ cho nó nổi lên mạng để người khác đọc.
Cũng có ông nhà văn sau khi thấy trên mạng xuất hiện một bài viết không hay về mình thì lập tức đùng đùng nổi giận, viết ngay một bài to sụ để chửi lại, dù ông không biết tác giả đó là ai, và những kiểu bài viết như thế chẳng có giá trị gì. Giới văn chương vẫn thiếu một cái gì đó gọi là tính văn nhân, rất dễ bị kích động, nổi đoá như dân hàng thịt. Sự tranh luận nếu có xuất hiện ở những tờ báo chính thống và mang tên tác giả đàng hoàng cũng chỉ nhằm công kích cá nhân. Rất hiếm hoi bạn đọc được chứng kiến một cuộc tranh luận trên diễn đàn để đi đến một sự khai mở nào đó trong học thuật. Nhà văn A viết phê bình về vấn đề của nhà văn B, và ngay lập tức nhà văn B nổi đoá không thèm để ý hay phân biệt đâu là tranh luận, đâu là cãi vã, cứ thế viết ào ào chửi lại.
Ở tờ tuần báo Văn nghệ - cơ quan ngôn luận chính thống của Hội Nhà văn Việt Nam đã không ít lần chứng kiến cảnh các nhà văn chúng ta ầm ầm lao đến toà soạn, bắt phải in bài tranh luận. Nhưng khi công bố, các biên tập viên thường phải cắt bớt, hoặc chỉnh sửa cho nghiêm chỉnh, hoặc có văn hoá hơn... thì ngay lập tức họ lao tới chửi bới rằng, chữ nghĩa của tao là chuẩn mực không được cắt xén, chỉnh sửa. Tao kiện! Nhưng nếu đăng nguyên văn bài viết kiểu ấy sẽ thấy nó là một bài chửi ngoa ngoắt, thậm chí hết sức tục tĩu. Thế mới thấy cái chất văn nhân của một số nhà văn còn quá nghiệp dư và cách xa văn hóa. Việc bạn đọc phải đợi mãi chưa thấy tác phẩm nào đàng hoàng xuất hiện cũng là điều dễ hiểu, nhiều tác phẩm chỉ nhăng nhít, oằn èo.
Và thứ ấy nó đầy rẫy trên mạng. Ôi! Các văn nhân! Xin hãy dùng thời gian vàng ngọc vào sáng tác, nếu bế tắc thì về quê làm ruộng, hoặc ra quán uống bia cho sướng cái thân, tội gì mò mẫm bên bàn phím để viết ra những thứ như thế làm gì. Và nếu dũng cảm hơn thì gặp nhau mà nói chuyện đàng hoàng, cùng lắm oánh nhau một trận cho ra chất hảo hán. Đằng này cứ núp sau bụi rậm, âm mưu trong bóng tối, mượn công nghệ tiên tiến của nhân loại để thoả mãn sự hèn làm gì. Ôi! Đáng thương! Đáng hổ thẹn!
________________________________________________
Hiển thị các bài đăng có nhãn chuyện Làng văn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chuyện Làng văn. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Bảy, 21 tháng 8, 2010
Thứ Bảy, 14 tháng 8, 2010
Nhà văn nhà veo
(TNTS) Kỳ này mình ra Hà Nội gần nửa tháng, ra để giải quyết việc nhà, kỳ thực không nghĩ gì đến Đại hội nhà văn. Từ lâu rồi mình không quan tâm đến các đại hội của các hội, hội nào cũng thế chứ chẳng cứ gì Hội nhà văn.
Mình có tên trong bốn năm hội, khi còn trẻ mỏ thì hăng lắm, bây giờ già rồi, và nói thật cũng nản rồi, chẳng muốn dự bất kỳ đại hội nào nữa. Đến dự thì cũng vui, được gặp bạn bè tứ xứ ôm vai hót cổ hỏi han năm điều ba chuyện để biết thêm chút về nhau cũng không phải là dở...
Hồi còn trẻ thì máu me lắm. Sắp đến kỳ đại hội trong lòng rộn rã, xôn xao trước cả tháng. Mình nhớ Đại hội nhà văn lần thứ IV vào cuối năm 1989, hồi đó mình đang ở Huế, anh em nhà văn ngày nào cũng gặp nhau khi thì quán rượu chị Phước, khi thì quán rượu chị Hiếu, sôi sục bàn chuyện đại hội. Người nói tôi sẽ nói cái này, người nói tôi sẽ nói cái kia, ai nấy mặt mày phừng phừng như sắp ra chốn sa trường.
Đoàn nhà văn Bình Trị Thiên được Tỉnh ủy gặp gỡ, mời cơm trước khi đi đại hội, còn cho tiền cấp xe đi ra Hà Nội, rất oách. Ra đến Bến Thủy trúng mùa nước lũ, kẹt phà, xe dồn nhau dài đến mấy cây số, anh em trình cả giấy triệu tập của Ban bí thư cũng không được ưu tiên. Bí thế, mấy anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Minh, Nguyễn Trọng Tạo kẻ đọc thơ, người hát nhạc nịnh mấy ông canh phà suốt đêm, sáng ra mới được ưu tiên cho qua phà trước, mừng hết lớn.
Tâm trạng đi dự đại hội hồi đó lạ lắm, giống như đi lễ hội lớn vậy, ai nấy ngây ngất con cà cưỡng, tâm niệm đến đấy vừa để chơi vừa để giải quyết việc lớn văn chương nước nhà. Ai nấy đều đinh ninh nếu đại hội thành công, bầu được Ban chấp hành (BCH) ưa ý thì văn chương nước nhà nhất định sẽ khởi sắc. Mình cũng đinh ninh như thế. Chẳng biết từ khi nào anh em nhà văn đã đánh đồng nền văn chương với công tác hội, đinh ninh sở dĩ nền văn chương Việt xập xệ là do BCH hội mà ra. Mọi yếu kém của nền văn chương cũng do mấy anh BCH đầu têu hết. Bây giờ vẫn nhiều người đinh ninh như thế chứ chẳng phải ngày xưa.
Kỳ thực Hội là nơi động viên giúp đỡ anh em sáng tác cho tốt, thế thôi. Chẳng có hội nào lại chỉ đạo được nhà văn viết cái gì, viết như thế nào. Phàm là nhà văn chẳng ai chỉ đạo được ai, ông nào ông nấy cái tôi to bằng cái bồ, văn mình vợ người xưa nay đều thế cả, chẳng làm sao thay đổi được. Vả, tự do sáng tác là thứ nhà văn cần chứ không phải người ta cần Hội bắt tay chỉ ngón cho người ta viết, nếu bị bắt tay chỉ ngón thì đố ai còn viết văn được đấy.
Có ai đó ví von chuyện con rết rất hay. Con rết có hai dãy chân đến cả trăm chân, mỗi lần nó chạy hai dãy chân chuyển động nhịp nhàng. Con chuột hỏi con rết ông làm sao điều khiển được hai dãy chân nhịp nhàng đến thế. Con rết nói có gì đâu, đầu tiên giơ chân này nhé, rồi giơ chân này nhé… Đến khi nó làm như nó nói thì nó không đi được nữa.
Hôm qua Vi Thùy Linh gọi điện phỏng vấn mình, nó nói theo chú BCH có cần những người thực tài không. Mình nói có chứ sao không. Nhưng đó là các nhà văn có tài quản lý, tài điều hành, tài tổ chức sự kiện hội nghị hội thảo… chứ không phải tài viết văn. Bầu mấy ông có tài viết văn vào BCH để làm gì, để họ viết văn mẫu cho mọi người viết theo hay sao?
Nói chuyện BCH cũng buồn cười. Không rõ các kỳ đại hội I, II, III thì thế nào, từ đại hội IV trở đi trên cho bầu bán tự do thoải mái, thì danh sách đề cử cả đến mấy trăm người, nhiều người xin rút rồi vẫn còn hơn hai trăm người, thất kinh. Lâu nay cứ nghĩ nhà văn thì chẳng ai mê quyền lực, thậm chí ghét bỏ khinh miệt nữa, té ra không phải. Quá nhiều người mê dù đó chỉ là cái quyền hão, danh hão và cũng quá nhiều người ảo tưởng về bản thân.
Về cái sự ảo tưởng bản thân thì ai cũng mắc, mình cũng không thoát được. Đại hội V mình có tên trong danh sách đề cử, kỳ thực thì 500 đại biểu có đến 250 ông được đề cử rồi chứ chẳng vinh dự gì. Khi đó bao nhiêu người rủ rê tán tỉnh mình. Kẻ kéo áo, nói ông không được rút nhé; người rỉ tai, nói đợt này ông phải vào đấy, cấm có chạy làng. Ngoài mặt ra vẻ không quan tâm nhưng trong bụng sướng củ tỉ, bèn tắc lưỡi nói ừ thì không rút, vào được BCH cũng tốt, nếu chẳng vào được cũng biết thực có bao nhiêu người yêu mình. Đến khi bầu mình chỉ có 156 phiếu, còn gần trăm phiếu nữa mới trúng, xấu hổ chết được. Buồn đúng một tháng, không phải buồn vì trật BCH mà buồn vì nhận ra quá ít người yêu quý mình thật sự.
Sau nghĩ lại thấy chẳng việc gì mà buồn, người ta bầu BCH là bầu những người có năng lực điều hành chứ đâu bầu kẻ mình yêu, người mình phục văn tài. Ông Thiệp (Nguyễn Huy Thiệp) hồi đó tên tuổi nổi như cồn, nhiều người nói nếu gọi Hội nhà văn là một gánh thì đầu này là cả Hội nhà văn, đầu kia là Nguyễn Huy Thiệp. Chắc ông Thiệp cũng nghĩ thế nên ông chẳng rút, kết quả ông chỉ có hơn trăm phiếu bầu cho ông thôi.
Mình nhớ đại hội IV mình ở trong ban kiểm phiểu, ông nào ông nấy hằm hè nhau, ông này nghi ông kia lậu phiếu, rất căng thẳng. Bầu lần đầu được 5 người, lại bầu lần nữa được 6 người. Kiểm phiếu đến nửa đêm mới xong, mệt bã người. Điều lạ là giờ đó vẫn còn rất nhiều nhà văn ngồi phủ phục chờ kết quả bầu cử, khi tụi mình ra khỏi phòng kiểm phiếu xuống hội trường thì mọi người chạy rật rật đến, nói sao rồi sao rồi. Hi hi, bầu BCH Hội nhà văn mà hồi hộp căng thẳng không khác gì bầu tổng thống.
Hồi đó mình chỉ 33 tuổi, cái tuổi ưa nổi danh thích được chứng tỏ, nhảy lên diễn đàn phát biểu ba bốn lần, được vỗ tay hoan hô càng ăn to nói lớn. Đại hội văn chương chẳng thấy bàn văn chương, chỉ toàn tranh cãi nhau ông này tham ông kia hèn, ông này bất tài ông kia cơ hội. Anh Trần Dần ra khỏi hội trường, dập dập cái gậy chống, mắt trợn miệng nói tợn, đại hội tợn quá.
Mấy bác Phùng Quán, Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt… ba chục năm trở lại văn đàn, tưởng các bác sẽ đăng đàn nói những điều hệ trọng, té ra không. Các bác toàn rủ nhau ra căng-tin phía sau hội trường uống bia, uống say thì về. Anh Phùng Quán cứ đến chiều là chân nam đá chân chiêu trở về nhà. Chị Trâm vợ anh hỏi đại hội có chuyện gì vui, anh chỉ nhăn răng cười, nói ua chầu, cãi nhau như mổ bò.
Cụ Hoàng Trung Thông khi đó đã già rồi, chẳng hiểu sao không thấy cụ vào ghế ngồi, chỉ đứng ở cửa trông vào. Tính mình ngồi không nóng chỗ, lúc lúc lại nhảy ra ngoài hút thuốc. Mỗi lần qua cửa cụ lại túm tay giật lại, nói sao rồi sao rồi. Mình cười, nói thì vẫn đang cãi nhau đó mà anh. Cụ cười cái hậc, nói đại hội với đại heo, Hội nhà văn cãi nhau mấy chuyện này à. Mình chỉ cười hì hì chẳng biết nói sao.
Khi đó mình nghĩ các cụ hết hơi rồi, viết lách không màng, hội hè cũng đã chán. Đến đại hội để tìm bạn uống ba chén rượu thôi. Bây giờ mới thấy các cụ có lý, nhà văn lại đi cãi nhau ỏm tỏi ba chuyện phi văn chương thật quá phí thời giờ. Đa phần các cụ đều dạt ra hết cho mấy anh trẻ tranh hùng, tóm lại cũng chỉ để tranh cái chân BCH. Các cụ đến đây chỉ để vui, vui bạn vui bè, vui nghề vui nghiệp, và đó mới đúng là đại hội nhà văn. Mấy thứ phi văn các cụ ớn lắm, sợ lắm.
_______________________________________
Mình có tên trong bốn năm hội, khi còn trẻ mỏ thì hăng lắm, bây giờ già rồi, và nói thật cũng nản rồi, chẳng muốn dự bất kỳ đại hội nào nữa. Đến dự thì cũng vui, được gặp bạn bè tứ xứ ôm vai hót cổ hỏi han năm điều ba chuyện để biết thêm chút về nhau cũng không phải là dở...
Hồi còn trẻ thì máu me lắm. Sắp đến kỳ đại hội trong lòng rộn rã, xôn xao trước cả tháng. Mình nhớ Đại hội nhà văn lần thứ IV vào cuối năm 1989, hồi đó mình đang ở Huế, anh em nhà văn ngày nào cũng gặp nhau khi thì quán rượu chị Phước, khi thì quán rượu chị Hiếu, sôi sục bàn chuyện đại hội. Người nói tôi sẽ nói cái này, người nói tôi sẽ nói cái kia, ai nấy mặt mày phừng phừng như sắp ra chốn sa trường.
Đoàn nhà văn Bình Trị Thiên được Tỉnh ủy gặp gỡ, mời cơm trước khi đi đại hội, còn cho tiền cấp xe đi ra Hà Nội, rất oách. Ra đến Bến Thủy trúng mùa nước lũ, kẹt phà, xe dồn nhau dài đến mấy cây số, anh em trình cả giấy triệu tập của Ban bí thư cũng không được ưu tiên. Bí thế, mấy anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Minh, Nguyễn Trọng Tạo kẻ đọc thơ, người hát nhạc nịnh mấy ông canh phà suốt đêm, sáng ra mới được ưu tiên cho qua phà trước, mừng hết lớn.
Tâm trạng đi dự đại hội hồi đó lạ lắm, giống như đi lễ hội lớn vậy, ai nấy ngây ngất con cà cưỡng, tâm niệm đến đấy vừa để chơi vừa để giải quyết việc lớn văn chương nước nhà. Ai nấy đều đinh ninh nếu đại hội thành công, bầu được Ban chấp hành (BCH) ưa ý thì văn chương nước nhà nhất định sẽ khởi sắc. Mình cũng đinh ninh như thế. Chẳng biết từ khi nào anh em nhà văn đã đánh đồng nền văn chương với công tác hội, đinh ninh sở dĩ nền văn chương Việt xập xệ là do BCH hội mà ra. Mọi yếu kém của nền văn chương cũng do mấy anh BCH đầu têu hết. Bây giờ vẫn nhiều người đinh ninh như thế chứ chẳng phải ngày xưa.
Kỳ thực Hội là nơi động viên giúp đỡ anh em sáng tác cho tốt, thế thôi. Chẳng có hội nào lại chỉ đạo được nhà văn viết cái gì, viết như thế nào. Phàm là nhà văn chẳng ai chỉ đạo được ai, ông nào ông nấy cái tôi to bằng cái bồ, văn mình vợ người xưa nay đều thế cả, chẳng làm sao thay đổi được. Vả, tự do sáng tác là thứ nhà văn cần chứ không phải người ta cần Hội bắt tay chỉ ngón cho người ta viết, nếu bị bắt tay chỉ ngón thì đố ai còn viết văn được đấy.
Có ai đó ví von chuyện con rết rất hay. Con rết có hai dãy chân đến cả trăm chân, mỗi lần nó chạy hai dãy chân chuyển động nhịp nhàng. Con chuột hỏi con rết ông làm sao điều khiển được hai dãy chân nhịp nhàng đến thế. Con rết nói có gì đâu, đầu tiên giơ chân này nhé, rồi giơ chân này nhé… Đến khi nó làm như nó nói thì nó không đi được nữa.
Hôm qua Vi Thùy Linh gọi điện phỏng vấn mình, nó nói theo chú BCH có cần những người thực tài không. Mình nói có chứ sao không. Nhưng đó là các nhà văn có tài quản lý, tài điều hành, tài tổ chức sự kiện hội nghị hội thảo… chứ không phải tài viết văn. Bầu mấy ông có tài viết văn vào BCH để làm gì, để họ viết văn mẫu cho mọi người viết theo hay sao?
Nói chuyện BCH cũng buồn cười. Không rõ các kỳ đại hội I, II, III thì thế nào, từ đại hội IV trở đi trên cho bầu bán tự do thoải mái, thì danh sách đề cử cả đến mấy trăm người, nhiều người xin rút rồi vẫn còn hơn hai trăm người, thất kinh. Lâu nay cứ nghĩ nhà văn thì chẳng ai mê quyền lực, thậm chí ghét bỏ khinh miệt nữa, té ra không phải. Quá nhiều người mê dù đó chỉ là cái quyền hão, danh hão và cũng quá nhiều người ảo tưởng về bản thân.
Về cái sự ảo tưởng bản thân thì ai cũng mắc, mình cũng không thoát được. Đại hội V mình có tên trong danh sách đề cử, kỳ thực thì 500 đại biểu có đến 250 ông được đề cử rồi chứ chẳng vinh dự gì. Khi đó bao nhiêu người rủ rê tán tỉnh mình. Kẻ kéo áo, nói ông không được rút nhé; người rỉ tai, nói đợt này ông phải vào đấy, cấm có chạy làng. Ngoài mặt ra vẻ không quan tâm nhưng trong bụng sướng củ tỉ, bèn tắc lưỡi nói ừ thì không rút, vào được BCH cũng tốt, nếu chẳng vào được cũng biết thực có bao nhiêu người yêu mình. Đến khi bầu mình chỉ có 156 phiếu, còn gần trăm phiếu nữa mới trúng, xấu hổ chết được. Buồn đúng một tháng, không phải buồn vì trật BCH mà buồn vì nhận ra quá ít người yêu quý mình thật sự.
Sau nghĩ lại thấy chẳng việc gì mà buồn, người ta bầu BCH là bầu những người có năng lực điều hành chứ đâu bầu kẻ mình yêu, người mình phục văn tài. Ông Thiệp (Nguyễn Huy Thiệp) hồi đó tên tuổi nổi như cồn, nhiều người nói nếu gọi Hội nhà văn là một gánh thì đầu này là cả Hội nhà văn, đầu kia là Nguyễn Huy Thiệp. Chắc ông Thiệp cũng nghĩ thế nên ông chẳng rút, kết quả ông chỉ có hơn trăm phiếu bầu cho ông thôi.
Mình nhớ đại hội IV mình ở trong ban kiểm phiểu, ông nào ông nấy hằm hè nhau, ông này nghi ông kia lậu phiếu, rất căng thẳng. Bầu lần đầu được 5 người, lại bầu lần nữa được 6 người. Kiểm phiếu đến nửa đêm mới xong, mệt bã người. Điều lạ là giờ đó vẫn còn rất nhiều nhà văn ngồi phủ phục chờ kết quả bầu cử, khi tụi mình ra khỏi phòng kiểm phiếu xuống hội trường thì mọi người chạy rật rật đến, nói sao rồi sao rồi. Hi hi, bầu BCH Hội nhà văn mà hồi hộp căng thẳng không khác gì bầu tổng thống.
Hồi đó mình chỉ 33 tuổi, cái tuổi ưa nổi danh thích được chứng tỏ, nhảy lên diễn đàn phát biểu ba bốn lần, được vỗ tay hoan hô càng ăn to nói lớn. Đại hội văn chương chẳng thấy bàn văn chương, chỉ toàn tranh cãi nhau ông này tham ông kia hèn, ông này bất tài ông kia cơ hội. Anh Trần Dần ra khỏi hội trường, dập dập cái gậy chống, mắt trợn miệng nói tợn, đại hội tợn quá.
Mấy bác Phùng Quán, Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt… ba chục năm trở lại văn đàn, tưởng các bác sẽ đăng đàn nói những điều hệ trọng, té ra không. Các bác toàn rủ nhau ra căng-tin phía sau hội trường uống bia, uống say thì về. Anh Phùng Quán cứ đến chiều là chân nam đá chân chiêu trở về nhà. Chị Trâm vợ anh hỏi đại hội có chuyện gì vui, anh chỉ nhăn răng cười, nói ua chầu, cãi nhau như mổ bò.
Cụ Hoàng Trung Thông khi đó đã già rồi, chẳng hiểu sao không thấy cụ vào ghế ngồi, chỉ đứng ở cửa trông vào. Tính mình ngồi không nóng chỗ, lúc lúc lại nhảy ra ngoài hút thuốc. Mỗi lần qua cửa cụ lại túm tay giật lại, nói sao rồi sao rồi. Mình cười, nói thì vẫn đang cãi nhau đó mà anh. Cụ cười cái hậc, nói đại hội với đại heo, Hội nhà văn cãi nhau mấy chuyện này à. Mình chỉ cười hì hì chẳng biết nói sao.
Khi đó mình nghĩ các cụ hết hơi rồi, viết lách không màng, hội hè cũng đã chán. Đến đại hội để tìm bạn uống ba chén rượu thôi. Bây giờ mới thấy các cụ có lý, nhà văn lại đi cãi nhau ỏm tỏi ba chuyện phi văn chương thật quá phí thời giờ. Đa phần các cụ đều dạt ra hết cho mấy anh trẻ tranh hùng, tóm lại cũng chỉ để tranh cái chân BCH. Các cụ đến đây chỉ để vui, vui bạn vui bè, vui nghề vui nghiệp, và đó mới đúng là đại hội nhà văn. Mấy thứ phi văn các cụ ớn lắm, sợ lắm.
_______________________________________
Thứ Hai, 31 tháng 5, 2010
Người hóm hỉnh sót lại của làng văn
Nguyễn Việt Chiến
(TNTT>) Nhà văn Đỗ Chu (sinh năm 1944, quê Bắc Ninh) là một con người khá đặc biệt và thật thú vị. Đặc biệt là bởi tài năng văn chương của Đỗ Chu đã “vang bóng” từ thời ông mới in tập truyện ngắn đầu tay Hương cỏ mật năm 1963 và tập truyện ngắn Phù sa năm 1967.
Đến nay, với hơn chục tác phẩm để đời, Đỗ Chu có hẳn một bộ sưu tập các giải thưởng văn chương, từ giải thưởng Hội Nhà văn VN, giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đến giải thưởng ASEAN. Còn thú vị là bởi, ông luôn xem nhẹ các giải thưởng văn chương này và chỉ có thú vui thích ngồi kể những câu chuyện khôi hài theo kiểu “châm chọc” cho bạn bè nghe.
Dạo này, tôi thường xuyên gặp ông ngồi uống nước chè, hút thuốc lào vặt và kể chuyện phiếm “miễn phí” ở phòng làm việc của tạp chí Thơ, Hội Nhà văn Việt Nam. Hình như, đến tạp chí Thơ mà không gặp Đỗ Chu là thấy buồn hẳn. Bởi nếu Hội Nhà văn VN mở cuộc thi kể chuyện khôi hài hấp dẫn nhất về “làng văn” thì ở nước ta bây giờ, có lẽ khó ai theo kịp Đỗ Chu. Trong đầu ông chứa bên trong cả một kho tàng “linh tinh mục” đủ các thứ chuyện trên giời dưới bể, chuyện văn chương, chuyện thế sự, chuyện xã hội, chuyện thành thị, chuyện làng quê, chuyện quá khứ, chuyện tương lai… chuyện nào cũng độc đáo, khôi hài cả. Có người biết khá nhiều chuyện “bếp núc” thú vị về làng văn ở nước ta nhưng lúc kể ra, không hiểu vì sao cứ thấy nhạt phèo. Còn nếu chuyện ấy mà nghe Đỗ Chu kể, chắc chắn mang một phong vị khác hẳn. Cái hấp dẫn ấy có lẽ cũng là do cách kể chuyện, cách thong thả, nhâm nhi, nhấn nhá các tình tiết quan trọng với vẻ mặt rất đặc biệt hóm hỉnh của Đỗ Chu. Lúc ấy, con mắt tinh ranh của ông sau cặp kính dày cộp, tròn xoe giống đít chai, cứ như muốn nhảy xổ ra, chụp lấy người nghe mà đè sấp xuống, bảo rằng “Chuyện ông kể là sự thật một trăm phần trăm, ông nghe chúng nó kể, rồi ông kể lại cho chúng mày nghe ở một cấp độ hay hơn nhiều cái sự thật giản đơn lúc ban đầu”. Rồi Đỗ Chu cười, nụ cười mới thật sung sướng, rạng rỡ, hể hả làm sao.
Sở dĩ Đỗ Chu thường hay ngồi kể chuyện phiếm “miễn phí” trong phòng khách của tạp chí Thơ là vì ông rất quý trọng nhà thơ Ngô Thế Oanh, Phó tổng biên tập ở đây. Nể nhau vì tài đã đành, còn quý hóa nhau là vì chuyện nhân cách, chuyện tình nghĩa tri âm, tri kỷ. Khi Đỗ Chu kể chuyện, ông trở thành một nhà “độc tài”, ông chỉ cho phép mỗi mình ông nói và không bắt tay ai trong lúc kể chuyện.
Có điều khá lạ, không hiểu vì sao vốn là một nhà văn xuôi nổi tiếng, nhưng ông không ít lần tỏ ra coi thường người viết văn xuôi và thường ngả mũ khâm phục người làm thơ.
Có lần Đỗ Chu nheo mắt, ví von so sánh bảo với mấy nhà thơ chúng tôi đang ngồi xung quanh hóng chuyện ông: “Thi ca nó sang trọng lắm chứ, nó như viên ngọc quý lấp lánh trên vương miện của nữ hoàng văn chương. Nó hơn hẳn cái anh văn xuôi cứ phải hì hục viết suốt ngày, suốt đêm đến ho lao, thối phổi. Tôi kính trọng người làm thơ vô cùng. Vừa qua, đọc được chùm thơ mới của ông Nguyễn Khoa Điềm ở Huế gửi ra, tôi thấy xúc động vì cái “tôi” trong thơ của ông ấy nó sang trọng quá, sâu sắc quá. Nó chẳng hề véo von, vay mượn, sáo rỗng như mấy anh “cười thuê khóc mướn” khác. Nhất là vừa rồi, tôi đọc được một chùm thơ của Ý Nhi mới in trên tạp chí Thơ thì mới thấy, thơ của cô ấy hiện nay là hay nhất nước, nó vượt qua các cậu rồi. Thơ kiểu ấy là nó “ngồi” lên mặt mấy ông nhà văn đương đại ấy chứ và chả đùa với thơ của nó được đâu, các cậu nghe chưa!”.
Nghe nhà văn Đỗ Chu hào hứng nhảy sang “chiếu” phê bình thơ, tôi cùng hai nhà thơ Ngô Thế Oanh và Nguyễn Đức Mậu cứ há hốc mồm ra mà cười. Với vẻ mặt nghiêm trọng, Đỗ Chu hóm hỉnh nói tiếp: “Các cậu đừng tưởng bở chỉ có các cậu mới là nhà thơ chính hiệu đâu nhé, tất cả cánh viết văn xuôi chúng tớ, thằng nào thằng ấy cũng đều âm thầm quyết liệt làm thơ ngay từ lúc chưa làm văn xuôi. Tớ cũng làm thơ từ rất lâu rồi, trường ca, đoản ca, độc ca…tớ đều viết cả, chỉ có cái chưa bao giờ thèm in ra thôi! Vì thật ra, thơ của tớ cũng không có gì hay ho hơn thơ của các cậu, vả lại, có in ra, nó cũng không đóng góp gì được cho nền thi ca hiện đại, nên tớ “đếch” thèm in, cho các cậu biết tay. Chuyện tớ làm thơ, “cu” Thỉnh, “cu” Oanh, cu “Mậu”…đều biết cả đấy chứ. Tớ chỉ cho phép các “cu” thơ ấy đọc thơ của tớ để biết tài thơ của tớ mà thôi, chứ dứt khoát tớ không cho in!”.
Chúng tôi được một mẻ cười nghiêng ngả. Tôi chất vấn “Tại sao, bác lại gọi mấy nhà thơ là “cu” nọ, “cu” kia, thế bác không sợ các nhà thơ phật lòng à?”. Đỗ Chu cười toác loác phân giải “Tao yêu lắm lắm thì tao mới gọi là mấy thằng cu chứ! Chúng nó hồn nhiên thành thực dâng hiến cả cuộc đời cho nàng thơ sang trọng. Thế thì làm sao tao lại không yêu mấy thằng cu ấy được nhỉ, mày cũng là một thằng cu thơ đáng yêu đấy em nhé!”.
Đỗ Chu lại tít mắt cười.
_________________________________________________
(TNTT>) Nhà văn Đỗ Chu (sinh năm 1944, quê Bắc Ninh) là một con người khá đặc biệt và thật thú vị. Đặc biệt là bởi tài năng văn chương của Đỗ Chu đã “vang bóng” từ thời ông mới in tập truyện ngắn đầu tay Hương cỏ mật năm 1963 và tập truyện ngắn Phù sa năm 1967.
Đến nay, với hơn chục tác phẩm để đời, Đỗ Chu có hẳn một bộ sưu tập các giải thưởng văn chương, từ giải thưởng Hội Nhà văn VN, giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đến giải thưởng ASEAN. Còn thú vị là bởi, ông luôn xem nhẹ các giải thưởng văn chương này và chỉ có thú vui thích ngồi kể những câu chuyện khôi hài theo kiểu “châm chọc” cho bạn bè nghe.
Dạo này, tôi thường xuyên gặp ông ngồi uống nước chè, hút thuốc lào vặt và kể chuyện phiếm “miễn phí” ở phòng làm việc của tạp chí Thơ, Hội Nhà văn Việt Nam. Hình như, đến tạp chí Thơ mà không gặp Đỗ Chu là thấy buồn hẳn. Bởi nếu Hội Nhà văn VN mở cuộc thi kể chuyện khôi hài hấp dẫn nhất về “làng văn” thì ở nước ta bây giờ, có lẽ khó ai theo kịp Đỗ Chu. Trong đầu ông chứa bên trong cả một kho tàng “linh tinh mục” đủ các thứ chuyện trên giời dưới bể, chuyện văn chương, chuyện thế sự, chuyện xã hội, chuyện thành thị, chuyện làng quê, chuyện quá khứ, chuyện tương lai… chuyện nào cũng độc đáo, khôi hài cả. Có người biết khá nhiều chuyện “bếp núc” thú vị về làng văn ở nước ta nhưng lúc kể ra, không hiểu vì sao cứ thấy nhạt phèo. Còn nếu chuyện ấy mà nghe Đỗ Chu kể, chắc chắn mang một phong vị khác hẳn. Cái hấp dẫn ấy có lẽ cũng là do cách kể chuyện, cách thong thả, nhâm nhi, nhấn nhá các tình tiết quan trọng với vẻ mặt rất đặc biệt hóm hỉnh của Đỗ Chu. Lúc ấy, con mắt tinh ranh của ông sau cặp kính dày cộp, tròn xoe giống đít chai, cứ như muốn nhảy xổ ra, chụp lấy người nghe mà đè sấp xuống, bảo rằng “Chuyện ông kể là sự thật một trăm phần trăm, ông nghe chúng nó kể, rồi ông kể lại cho chúng mày nghe ở một cấp độ hay hơn nhiều cái sự thật giản đơn lúc ban đầu”. Rồi Đỗ Chu cười, nụ cười mới thật sung sướng, rạng rỡ, hể hả làm sao.
Sở dĩ Đỗ Chu thường hay ngồi kể chuyện phiếm “miễn phí” trong phòng khách của tạp chí Thơ là vì ông rất quý trọng nhà thơ Ngô Thế Oanh, Phó tổng biên tập ở đây. Nể nhau vì tài đã đành, còn quý hóa nhau là vì chuyện nhân cách, chuyện tình nghĩa tri âm, tri kỷ. Khi Đỗ Chu kể chuyện, ông trở thành một nhà “độc tài”, ông chỉ cho phép mỗi mình ông nói và không bắt tay ai trong lúc kể chuyện.
Có điều khá lạ, không hiểu vì sao vốn là một nhà văn xuôi nổi tiếng, nhưng ông không ít lần tỏ ra coi thường người viết văn xuôi và thường ngả mũ khâm phục người làm thơ.
Có lần Đỗ Chu nheo mắt, ví von so sánh bảo với mấy nhà thơ chúng tôi đang ngồi xung quanh hóng chuyện ông: “Thi ca nó sang trọng lắm chứ, nó như viên ngọc quý lấp lánh trên vương miện của nữ hoàng văn chương. Nó hơn hẳn cái anh văn xuôi cứ phải hì hục viết suốt ngày, suốt đêm đến ho lao, thối phổi. Tôi kính trọng người làm thơ vô cùng. Vừa qua, đọc được chùm thơ mới của ông Nguyễn Khoa Điềm ở Huế gửi ra, tôi thấy xúc động vì cái “tôi” trong thơ của ông ấy nó sang trọng quá, sâu sắc quá. Nó chẳng hề véo von, vay mượn, sáo rỗng như mấy anh “cười thuê khóc mướn” khác. Nhất là vừa rồi, tôi đọc được một chùm thơ của Ý Nhi mới in trên tạp chí Thơ thì mới thấy, thơ của cô ấy hiện nay là hay nhất nước, nó vượt qua các cậu rồi. Thơ kiểu ấy là nó “ngồi” lên mặt mấy ông nhà văn đương đại ấy chứ và chả đùa với thơ của nó được đâu, các cậu nghe chưa!”.
Nghe nhà văn Đỗ Chu hào hứng nhảy sang “chiếu” phê bình thơ, tôi cùng hai nhà thơ Ngô Thế Oanh và Nguyễn Đức Mậu cứ há hốc mồm ra mà cười. Với vẻ mặt nghiêm trọng, Đỗ Chu hóm hỉnh nói tiếp: “Các cậu đừng tưởng bở chỉ có các cậu mới là nhà thơ chính hiệu đâu nhé, tất cả cánh viết văn xuôi chúng tớ, thằng nào thằng ấy cũng đều âm thầm quyết liệt làm thơ ngay từ lúc chưa làm văn xuôi. Tớ cũng làm thơ từ rất lâu rồi, trường ca, đoản ca, độc ca…tớ đều viết cả, chỉ có cái chưa bao giờ thèm in ra thôi! Vì thật ra, thơ của tớ cũng không có gì hay ho hơn thơ của các cậu, vả lại, có in ra, nó cũng không đóng góp gì được cho nền thi ca hiện đại, nên tớ “đếch” thèm in, cho các cậu biết tay. Chuyện tớ làm thơ, “cu” Thỉnh, “cu” Oanh, cu “Mậu”…đều biết cả đấy chứ. Tớ chỉ cho phép các “cu” thơ ấy đọc thơ của tớ để biết tài thơ của tớ mà thôi, chứ dứt khoát tớ không cho in!”.
Chúng tôi được một mẻ cười nghiêng ngả. Tôi chất vấn “Tại sao, bác lại gọi mấy nhà thơ là “cu” nọ, “cu” kia, thế bác không sợ các nhà thơ phật lòng à?”. Đỗ Chu cười toác loác phân giải “Tao yêu lắm lắm thì tao mới gọi là mấy thằng cu chứ! Chúng nó hồn nhiên thành thực dâng hiến cả cuộc đời cho nàng thơ sang trọng. Thế thì làm sao tao lại không yêu mấy thằng cu ấy được nhỉ, mày cũng là một thằng cu thơ đáng yêu đấy em nhé!”.
Đỗ Chu lại tít mắt cười.
_________________________________________________
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)