Hiển thị các bài đăng có nhãn sử thi Tây Nguyên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sử thi Tây Nguyên. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 17 tháng 3, 2010

Tây Nguyên, mảnh đất giàu cảm xúc

Ngọc Thành

Tây Nguyên, một dải núi non hùng vĩ của Tổ Quốc, mảnh đất từng sản sinh ra nhưng người anh hùng đã đi vào huyền thoại và trở thành cảm hứng để nhân dân các dân tộc Tây Nguyên viết nên những bản trường ca bất tận truyền mãi tới muôn đời sau.


Tây nguyên ơi, ai một lần qua
Suốt một đời hồ dễ đã quên nhau


Không biết câu ca dao đó xuất hiện từ bao giờ, nhưng với những người lính từng có một thời tham gia chiến đấu trên chiến trường Tây Nguyên thời kháng chiến chống Mỹ thì đó là câu cửa miệng. Câu để tiễn người đi và cũng là câu thường nói với những người mới từ hậu phương vào.

Những năm gần đây mỗi khi có dịp vào Tây Nguyên tôi vẫn thường được nghe lại chính câu ca đó. Thì ra cái tình người cao nguyên không chỉ nồng nàn, bền chặt trong khói lửa chiến tranh mà nó đã trở thành một nét đặc sắc trong tâm hồn mỗi con người đã sống, chiến đấu và lao động vì mảnh đất thiêng liêng này. Trong những năm đánh Mỹ có một nhà thơ đã từng có mặt trên vùng đất này và ông yêu vùng đất huyền thoại này tới nỗi biến tình yêu ấy thành máu thịt, thành thơ ca. Đó là nhà thơ Thu Bồn. Bản trường ca Bài ca chim Chrao của ông khi đọc lên cứ như nghe thấy tiếng vang vọng của những bài Khan mà các già làng Tây Nguyên đọc thâu đêm bên dống lửa, cứ như là tiếng vang vọng của bản trường ca huyền thoại kể về chàng Đam san đi tìm thần mặt trời.

Lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên.
Quê hương lạnh đắp chăn bằng lửa
Con đại bàng nhắm mắt ngủ trong mây...

Con đại bàng ngủ trong mây ấy chính là những binh đoàn chủ lực được đại ngàn Trường Sơn nuôi dưỡng, chở che để rồi vào một ngày đẹp trời giữa mùa xuân Tây Nguyên bỗng đột ngột tung cánh,ầm ào như thác đổ triều dâng, chỉ trong vòng một tuần trăng đã quét sạch bóng dáng kẻ thù trên mảnh đất này. Ngày nay, mỗi khi có dịp đi qua ngã sáu thành phố Buôn Mê Thuột, nhìn lên bức tượng đài có chiếc xe tăng của quân giải phóng nằm phủ phục trên đó, tôi cứ ngỡ đó chính là con đại bàng trong thơ Thu Bồn đang nằm đó mơ màng lim dim ngủ. Nhưng câu chuyện về những võ công của quân dân Tây Nguyên, về con đại bàng Tây Nguyên tháng ba năm ấy bỗng đột ngột tỉnh giấc, khởi phát toàn bộ tinh lực để “đánh một trận sạch không kình ngạc”, nay cũng đã xa xôi lắm, đã nhuốm màu huyền thoại rồi. Em bé Ba na, Jrai, Mơ nông nào may mắn được sinh ra vào tháng ba năm ấy thì nay cũng đã ba mươi lăm tuổi tròn, đã vào cái tuổi phải lập thân lập nghiệp, thành gia lập thất rồi. Vậy là, đã có những câu chuyện khac, những huyền thoại khác,những người anh hùng khác , những bản trường ca khác được hát lên trên mảnh đất này.

Nhưng vẫn có một cái gạch nối giữa quá khứ và hiện tại- đó vẫn là Thu Bồn, người đại diện cho thế hệ những người cầm súng đánh giặc trên Tây Nguyên, khi hết giặc vẫn nặng lòng, không nỡ để mảnh đất thiêng này sau bao năm bị đạn bom dày xéo đang trở nên xơ xác, nghèo nàn, thành những vùng đất “Bazan khát. Hàng vạn người lính đã rời cây súng để cầm cuốc, cầm cày, cầm búa, cùng với họ là hàng vạn nam thanh nữ tú từ khắp đất nước đổ về quyết tâm xây dựng Tây Nguyên trở thành vùng kinh tế chiến lược của đất nước.

Công cuộc này cũng hùng vĩ không kém gì công cuộc đi tìm nữ thần mặt trời của chàng Đam san. Công trường thủy nông Ayun Hạ được khởi công khá sớm với mục tiêu biến hàng ngàn héc ta đất đai khô cằn thành vựa lúa của Tây Nguyên. Rồi sau đó là các công trường, nông trường nhà máy, là thủy điện Yaly, thủy điện Đanhim…Thu Bồn đã đi khắp các làng buôn, các công trường và đã viết lên khát vọng về sự vươn mình mạnh mẽ để thoát khỏi đói nghèo của người dân các dân tộc Tây Nguyên. Trường ca Bazan khát đã ra đời như vậy. Đây thực sự là một bài khan của thời đại mới, của tình yêu và khát vọng. Nhà thơ - người lính ấy đã chắt đến giọt cuối cùng của sức lực, của năng lực sáng tạo cho mảnh đất thiêng liêng này.

Vì thế mà những người dân Tây Nguyên, những người lính Tây Nguyên, những người lao động đi xóa dần những vùng “bazan khát”, những vùng tăm tối, đói nghèo trên mảnh đất Tây Nguyên đều yêu mến ông. Khi ông mất, đại diện các làng buôn Tây Nguyên đã về viếng ông, mang theo cả cồng chiêng, ghè rượu, đàn đinhnam, đinh pút tới “chia phần cho ông “. Đồng chí bí thư Huyện ủy Huyện Đăkuy mang xuống trước linh sàng của ông một lọ nước và một nắm đất bazan đỏ rực như lửa, như máu.

Đó không chỉ là vinh quang của nhà thơ mà còn là vinh quang dành cho những người đi giải phóng, đi mở mang khai khẩn vùng đất Tây Nguyên hoang vu nay đang trở thành một vùng kinh tế trù phú. Tôi muốn nhắc đến ngay tại đây, câu chuyện về chương trình phủ sóng cho các làng buôn xa xôi của Tổng công ty viễn thông quân đội, khiến ngày hôm nay tôi có thể ngồi tại Hà Nội mà nói chuyện với bạn bè người thân đang sống và làm việc tận trển đỉnh ChưMoray, vùng ngã ba biên giới. Và mới đây nhất là câu chuyện về chương trình đưa điện đến 100 % các làng buôn của EVN vừa hoàn tất tại Lâm Đồng trước Tết Canh Dần. Chương trình này đang được thực hiện trên địa bàn cả 5 tỉnh Tây Nguyên. Cái ngày toàn cao nguyên không còn khát, không còn đói nghèo tăm tối không xa xôi nữa.

Có thể bạn chưa một lần đến Tây Nguyên, nhưng tôi biết trong trái tim bạn luôn có vùng đất này. Chỉ cần nghe một vài hồi chiêng là bạn sẽ rung động. Ấy là chưa nói đến rượu cần, cà phê và tiếng đàn Tơ rưng, đàn Klong Put trong vắt như nước suối đầu nguồn.

___________________________________________________

Thứ Hai, 15 tháng 3, 2010

Có hay không một vùng sử thi Tây Nguyên?


Ngọc Thành

Để trả lời câu hỏi này, Đất Việt xin giới thiệu bài viết của Nhà nghiên cứu dân gian Phạm Cao Đạt, người đã trực tiếp tham gia Dự án Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng Sử thi Tây Nguyên.

Nhiều người vẫn nghĩ, sử thi Tây Nguyên đã được khám phá xong, trong đó, có hai trường ca nổi tiếng là Đam San và Xing Nhã. Thế nhưng, những điều tra gần đây lại cho thấy, sử thi còn rất nhiều.

Câu hỏi này được nêu ra từ năm 1997 tại Buôn Ma Thuột, trong Lễ kỷ niệm 70 năm ngày học giả người Pháp Sabatier công bố Sử thi Đam San, sử thi đầu tiên phát hiện ở Tây Nguyên. Những người quan tâm đến sử thi đều có nguyện vọng chung là làm sao để trả lời có hay không một “Vùng Sử thi Tây Nguyên?”

Lúc này ở vùng dân tộc M’Nông, ranh giới giữa Đắc Nông và Bình Phước ngày nay, các nhà khoa học của Viện nghiên cứu văn hóa (thuộc viện KHXH Việt Nam) đã phát hiện và sưu tầm được số lượng lớn tác phẩm sử thi, thể loại này, tiếng M’Nông gọi là Otdrong. Sau một thời gian được các nhà chuyên môn xây dựng và cơ quan hữu trách đề nghị, Dự án Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng Sử thi Tây Nguyên, đã được Chính phủ giao cho Viện KHXH Việt Nam thực hiện.

Những khám phá bất ngờ

Khi họp chung để triển khai dự án này, tôi rất bức xúc khi nghe một nhận định rằng, sử thi chỉ có ở nam Tây Nguyên. Nếu vậy, Kon Tum là cửa ngõ phía bắc của Tây Nguyên sẽ không có sử thi? Và tôi đã phát biểu rằng, có hay không thì phải điều tra mới biết được. Kết quả của điều tra, có hay không đều giá trị như nhau và yêu cầu Ban điều hành đưa Kon Tum vào kế hoạch điều tra. Yêu cầu được chấp nhận, tôi được tham gia vào công việc này dưới sự phụ trách của PGS TS Võ Quang Trọng (Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa, hiện ông là Giám đốc Bảo tàng dân tộc Việt Nam).

Điều bất ngờ là chỉ một thời gian ngắn, sử thi đầu tiên ở Kon Tum đã được phát hiện và khẳng định. Đó là sử thi của dân tộc Xơ Đăng Sơ Drá, nghệ nhân hát kể là cụ A Ar (vào năm 2001 cụ hơn 70 tuổi). Địa bàn phát hiện là làng Kongu 1, xã Ngọc Wang, huyện Đắc Hà. Bất ngờ tiếp theo là một Sử thi liên hoàn đã được nhận diện, một hệ thống những tác phẩm độc lập xoay quanh nhân vật trung tâm - người anh hùng. Lâu nay ta vẫn quen gọi sử thi là Anh hùng ca có thể xuất phát từ đây. Sử thi liên hoàn được các nhà khoa học tìm thấy ở Otdrong, dân tộc M’Nông. Người anh hùng trong sử thi Xơ Đăng là Duông.

Mở rộng diện điều tra sang vùng lân cận, nơi cư trú của dân tộc Bahnar R’ngao, một hệ thống Sử thi liên hoàn khác cũng được xác định với nhân vật trung tâm là Đăm Giông. Như vậy, các dân tộc Xơ Đăng và Bahnar ở Kon Tum đã có sử thi, bắc Tây Nguyên cũng có sử thi mà lại là sử thi độc đáo (liên hoàn) chứ không phải như nhận định ban đầu.

Chúng tôi khẩn trương vừa sưu tầm (ghi âm) những gì đã xác định, vừa mở rộng tiếp diện điều tra ra toàn tỉnh Kon Tum với các nhánh khác của dân tộc Xơ Đăng và các dân tộc Bahnar, Giẻ-Triêng, B’râu, Rơ Mâm, Giarai... Thời gian cho công việc này được dự án xếp vào Tiểu dự án 1, từ 2001-2004. Sau gần 4 năm triển khai, vùng sử thi Kon Tum được xác định: Chỉ có các dân tộc Xơ Đăng Sơ Drá và Bahnar, gồm các nhóm Rơ ngao, Di lâng. Địa bàn có sử thi là các huyện Đắc Hà, Kon Rẫy và TP.Kon Tum. Còn lại, hoặc là không có, hoặc chỉ là những dấu vết, mảnh vụn... Riêng với dân tộc Giarai Aráp hầu như không có nghệ nhân biết hát kể (Hơ ri).

Cần có quyết tâm cao hơn

Kon Tum đã đóng góp vào kho tàng chung của sử thi Tây Nguyên với hai hệ thống Sử thi liên hoàn gồm gần 300 tác phẩm độc lập đã ghi âm được, trong đó nhiều tác phẩm đã được biên dịch, biên tập, xuất bản theo kế hoạch của Viện KHXH. Năm 2006 và 2009, hội Văn nghệ dân gian Việt nam đã tôn vinh 6 trong 10 nghệ nhân của Kon Tum (lĩnh vực hát kể Sử thi - Hơ amon) danh hiệu Nghệ nhân dân gian. Rất tiếc, hai trong 6 cụ (nghệ nhân A Đen và A Lứi, dân tộc Bahnar) đã qua đời, mang theo nhiều tác phẩm sử thi mà chúng tôi chưa kịp ghi âm.

Cái khó nhất của sử thi Kon Tum hiện nay là dịch thô, công đoạn gỡ băng, từ tiếng ra văn bản bằng chữ dân tộc và dịch từ đối từ. Người có năng lực làm việc này rất hiếm. Khó khăn khác nữa là dự án của Chính phủ đã khép lại, không còn kinh phí để tiếp tục sưu tầm, trong khi các nghệ nhân tuổi ngày càng cao, sức khỏe yếu dần.

Tây Nguyên đã có Không gian văn hóa cồng chiêng là Di sản văn hóa của nhân loại, những nét văn hóa nổi trội khác như Đàn đá, Nhà Rông và đặc biệt là Sử thi... chúng tôi nghĩ, rất xứng đáng được quan tâm, ứng xử đúng mức.

Phạm Cao Đạt

_______________________________________________