truyện ngắn của Hồ Anh Thái
Cánh Hà Nội bảo nhau: anh Năm sắp ra đấy.
Anh Năm từ Sài Gòn ra Hà Nội là một sự kiện. Người ta truyền nhau thông tin. Người ta náo nức. Người ta rục rịch chuẩn bị. Sẽ tổ chức một buổi sinh hoạt câu lạc bộ, các thành viên ở Hà Nội sẽ có mặt để chào mừng anh Năm.
Nói là chào mừng e có vẻ khách khí. Thực ra là thêm một dịp để anh em thành viên gặp nhau, thăm hỏi nhau. Và hơn hết thảy, đem khoe con xe của nhau. Như là đem khoe con, nó xinh tươi khoẻ mạnh ra sao, nó có áo mới áo đẹp thế nào.
Tuổi sáu mươi, dịp ngàn năm Thăng Long, anh Năm đã lái xe con bọ từ Sài Gòn ra Hà Nội, rồi đi tuốt lên Điện Biên, qua đường Phong Thổ Lai Châu mà sang Sa Pa. Hai ngàn rưỡi cây số đi. Hai ngàn rưỡi cây số về. Chuyến caravan lữ hành của câu lạc bộ xe hơi Volkswagen, loại Beetle, còn gọi là xe con bọ. Đúng là xe con bọ. Cả một đoàn như một dây bọ cánh cứng. Gần hai chục chiếc xe xênh xang trên đường. Như một đám rước diễu hành. Như một đám cưới tưng bừng sặc sỡ. Mỗi xe mỗi màu, diêm dúa và lộng lẫy. Mỗi xe mỗi kiểu, mảnh mai và yểu điệu. Mỗi xe mỗi phong cách, cổ kính tôn nghiêm mà trẻ trung bóng bẩy. Mỗi xe mỗi chủ, luật sư và bác sĩ, quân nhân và dân sự, nhà ngoại giao và giảng viên, kỹ sư cơ khí và thợ điện thợ máy… Cả đoàn xe tưng bừng khắp khu Bắc bộ phủ, nối đuôi nhau dung dăng dung dẻ quanh hồ Gươm, thêm sắc màu cho cái đại lễ ngàn năm.
Anh Năm không phải là người sớm gia nhập câu lạc bộ. Không hề sớm. Nhưng anh lại chính gốc là thợ máy của hãng Volkswagen từ trước năm bảy lăm. Người cha là biệt động thành, ông gửi đứa con trai vào gia đình một cơ sở. Cơ sở này là ông chủ của một hãng Volkswagen ở Sài Gòn. Thế là chàng thanh niên được học nghề sửa chữa đám xe hiện diện khắp miền Nam thời ấy. Rồi người cha biệt động Sài Gòn hy sinh trong một trận đánh. Chú thợ cũng trưởng thành dần trong cái nghề định mệnh của mình. Gọi là nghề định mệnh vì nó là kế sinh nhai, cuốn vào đấy mọi đam mê, mọi gửi gắm, mọi kỳ vọng cứ như có thể ăn đời ở kiếp. Nhưng rồi mọi thứ thay đổi. Sau năm bảy lăm, xe mới không nhập vào, xe cũ tàn tạ, dần dần chỉ còn là kỷ niệm, là bóng dáng xưa, ì ạch kéo lê thân già trên đường rồi chết già xó cửa lúc nào chẳng rõ. Anh Năm cũng thôi nghề lúc nào chẳng rõ. Lên vùng kinh tế mới, làm ăn không được, lại bồng bế nhau về. Trải bao thứ nghề kiếm sống. Rồi mở mày mở mặt trở lại. Rồi làm ăn phát đạt trở lại. Con cái gửi đi học Âu Mỹ đều đã trưởng thành. Bắt đầu nghĩ chuyện hai ông bà thảnh thơi ngồi nhìn nhau dưỡng già.
Đùng một cái có ông luật sư trẻ tìm đến. Anh Năm, câu lạc bộ xe cổ mới thành lập không thể thiếu anh. Không thể thiếu. Thì ra từ lâu nay anh em vẫn có người âm thầm chơi xe Volkswagen, đặc biệt là xe con bọ. Họ mua lại nó từ chủ cũ. Họ lôi nó ra từ bãi rác từ đống sắt vụn. Họ tân trang mông má lại, thay máy và chỉnh sửa mọi chi tiết. Thực sự là một cuộc phục sinh. Thực sự là cải lão hoàn đồng. Bà già tưởng đã chết già xó cửa bỗng hoá thành một nàng lộng lẫy diêm dúa khiến ai đi đường cũng phải ngoái nhìn. Khiến anh Năm tưởng đã nguôi quên bỗng một ngày rộn rực khắp người. Anh nhận lời đến chơi với anh em câu lạc bộ một buổi. Gặp gỡ các bọ nhân. Hôm ấy vài chục con xe đến, đỗ chói chang khắp một công viên sinh thái. Con màu ngọc thạch, con màu đỏ cờ, con xanh lá cây, xanh dương, con vàng chanh vàng dứa, con màu bạc màu đồng. Chỉ nhìn thấy thế là anh Năm cầm lòng chẳng đậu. Bao nhiêu đam mê trỗi dậy. Bao nhiêu ký ức ùa về. Bao nhiêu xúc cảm trào dâng. Anh gật đầu chỉ nói một tiếng. Được. Zậy thôi.
Các bọ nhân trong câu lạc bộ bảo thời nay không thể tìm được một người thợ sửa xe Volkswagen. Thợ sửa xe hiện đại không dám mó tay vào. Và không muốn. Sửa xe bọ phải tà tà từ từ. Không ăn xổi ăn gỏi ăn nhanh fast food được. Một con xe ngâm nga bao lâu trong xưởng. Và chờ đợi bao lâu mới có một con đến sửa. Thu nhập không ai trông chờ được vào đó. Chỉ có người thợ chính hãng ngày trước mới đủ tình cảm và đủ kiên trì.
Xe hồi sinh. Người cũng hồi sinh một đam mê. Đời con bọ. Anh Năm đã xem cái phim hoạt hình Mỹ A Bug’s Life về một xã hội loài bọ cánh cứng. Đây thì đời xe cũng như đời bọ. Đời bọ như đời người. Nhiều ái ố hỉ nộ. Nhiều thăng trầm. Anh nhớ một ông bạn công chức trước bảy lăm có con xe đời ngàn mốt, ông này đã định cư ở Mỹ nhưng con xe vẫn còn bỏ đâu đó trong nhà cũ. Anh Năm tìm đến nhà ông bạn. Bãi đất để xe ngày trước mênh mông giờ không còn lối vào. Con cháu ông bạn đã chia đất phân lô xây nhà, đã bán bớt đất cho người khác đến xây nhà. Những bức tường quây kín cái nhà để con xe vào giữa. Hỏi đám họ hàng, ai cũng bảo trong cái phòng ấy có một con xe, nhưng ai cũng không biết nó là xe gì, đời nào, hình dáng màu sắc ra sao. Con xe trở thành tù biệt giam cấm cố vài chục năm rồi. Anh Năm mua lại con xe. Đúng là mua mèo trong bị, chẳng ai biết mặt mũi nó ra làm sao. Nhưng anh Năm thì nhớ. Thời trước, tay anh đã chăm sóc thăm khám cho nó nhiều năm trời. Thoả thuận mua bán xong rồi mới thấy không có đường để đưa xe ra. Phải đập tường cái phòng biệt giam con xe. Phải đập tường thêm một căn nhà nữa để đưa xe đi qua. Phải khiêng. Mười chú thợ khiêng xe qua căn nhà đập tường rồi đi ra ngõ. Ngõ hẹp. Xe động cơ không vào được. Phải bỏ con xe lên một chiếc xe bò. Xe bò chở bọ. Cứ thế anh mua được con xe về. Người nhìn xe như gặp lại cố nhân. Một cố nhân sa sút tàn tạ. Người nhìn xe mà rơi nước mắt. Ngày xưa nàng vốn đầy vẻ bắc bậc kiêu sa. Giờ thì ra nông nỗi này.
Anh gia nhập câu lạc bộ xe con bọ. Con xe đã được cải tử hoàn sinh, không chỉ hoàn sinh mà còn trở thành một tiểu thư óng ả. Những con xe óng ả trong câu lạc bộ cũng đều là xe nhập trước bảy lăm, cũng đều được lôi ra từ nơi cấm cố hoặc bãi rác bãi sắt vụn như vậy. Cuộc đời xuống cẩu lên voi dường như cũng chỉ trong chớp mắt. Người ta ôn lại lịch sử loại xe nghe đâu ra đời từ những năm ba mươi thế kỷ hai mươi ở tận nước Đức. Ngày ấy chính quyền chủ trương một chương trình ôtô cho nhân dân, ôtô cho mọi nhà và ông kỹ sư Bosche được giao nhiệm vụ thiết kế một loại xe giá bình dân, chừng dăm trăm đôla thời đó. Con xe ấy một thời tung hoành khắp châu Âu, sang tận châu Mỹ. Con xe ấy giờ đây ở ta hầu như chỉ còn là những con xe cổ. Ở câu lạc bộ, anh Năm thành hạt nhân cho các điện tử chao lượn xung quanh. Thợ điện thợ máy chính hãng, hiếm hoi lắm. Cả Sài Gòn bây giờ chỉ còn có vài ba người như anh. Hơn sáu chục con xe ở Sài Gòn. Hơn ba chục con xe ở Hà Nội. Anh em có sự cố gì đều tham vấn các anh. Anh thành một kiểu thầy thuốc cho bọ. Bọ hắt hơi sổ mũi, bọ va vấp ươn mình, người ta đều a lô gọi đến anh Năm. Chuyến caravan lữ hành xuyên Việt, các con bọ nối nhau trên đường, thành một đội hình. Bọ lễ tân bọ điều hành đi trước. Phụ nữ và tay non đi giữa. Cuối cùng là một bọ điều hành, rồi đến anh Năm. Thầy thuốc đi sau để quan sát và xử lý những con phát bệnh. Bao giờ cũng đi sau. Dụng cụ sửa chữa đầy đủ và sẵn sàng. Ấy thế, đi lên vùng Tây Bắc, giữa núi rừng hùng vĩ, sóng điện thoại lạc đi đâu mất. Có con bọ mải mê rẽ vào bên đường hái hoa bắt bướm rồi trục trặc. A lô thì chịu. Không làm sao quay ra đường chính được. Chỉ có nước đứng giữa Tây Bắc trùng điệp mà khóc. Nhưng có gì như linh tính. Có gì như thần giao cách cảm. Xe anh Năm đi cuối đoàn đã vượt qua lối rẽ ấy. Bất chợt anh cảm thấy có gì vương vướng bên tay trái. Một chiếc lá khô còn vương trên cánh tay, dính vào tay áo anh bằng mấy sợi tơ nhện. Chiếc lá cứ thế mà lật phật đập vào cánh tay anh. Như là nhắc nhở. Anh nhớ mình vừa mới vượt qua một lối rẽ, hơi giống cái đường cứu nạn nhưng nhỏ hơn. Hình như thấp thoáng một cái gì trong đó. Một cái gì thì anh không biết. Nhưng mà hình như.
Anh đã quay xe lại và cứu được một con trong hội bọ. Lên đến Điện Biên, đám bọ được dịp hân hoan chúc mừng nhau không bỏ rơi một bọ nào.
Bây giờ anh Năm lại ra Hà Nội. Có công chuyện gì không anh Năm? Đâu có công chuyện gì, nhớ anh em thì ra, zậy thôi.
Bọ Hà Nội lại tụ tập. Áo đỏ áo xanh xênh xang cả một góc Bắc bộ phủ. Gặp nhau để thăm hỏi triền miên và lai rai nhậu. Nhưng mà anh mang theo kè kè bộ đồ sửa chữa. Con bọ nào có vấn đề là sửa ngay. Đè ra sửa. Bóc ra sửa. Vặt ra sửa. Con ngàn mốt đó còn ngon lắm, anh đây vẫn thích xài con ngàn mốt hơn cả. Con ngàn rưởi đó chỉnh lại cái quạt gió là ngon ngay. Con ngọc lam kia thì chỉ sụt sịt chút phần điện. Bữa nhậu chỉnh sửa vẫn chưa đủ. Anh Năm ở Hà Nội một tuần thì một tuần anh đi qua hết các nhà bọ, sửa xong hết xe cho anh em. Như bác sĩ đi thăm khám. Có cái vui của thầy thuốc. Có cái phiền của thầy thuốc. Nhưng anh ra chơi là chỉ để thăm nom giúp anh em, zậy thôi mà.
Anh em hỏi anh có đến thăm nhà ấy nhà nọ chưa? Ờ ờ để tính. Nhà ấy ông chủ bọ vừa đi công tác châu Âu, không tụ tập ở đây được. Nhưng chủ đi thì có bọ ở nhà. Ai cũng nghĩ là anh Năm sẽ đến thăm con bọ ấy. Ờ ờ để tính.
Đấy là con bọ màu đỏ cờ, anh Năm kịp đến khi chủ nó sắp sửa đem nó đi bán sắt vụn. Cái vỏ gỉ hoen không còn biết màu sơn gốc của nó là gì. Sứt sẹo và long lở. Anh lôi nó về xưởng. Phù phép biến nó thành một nàng tiểu thư óng ả. Sơn cho nó màu đỏ cờ. Biến nó thành một nàng tiểu thư lộng lẫy. Thỉnh thoảng có đám cưới đến thuê để chụp ảnh cô dâu chú rể đứng bên cái xe cổ. Tiền mình đâu quá bức bách, nhưng đứa con cưng của mình kiếm được ra tiền thì một đồng cũng quý. Không từ chối. Không nề hà. Anh cưng chiều nó như cưng chiều ba con bọ khác trong nhà mình. Mỗi đứa một số phận. Mỗi đứa một lai lịch. Con bọ đỏ này có cả một bộ hồ sơ dày cộp ở chỗ đăng ký. Có chứng sinh chứng tử. Chứng sinh nói năm sinh của nó là 1966. Chứng tử là giấy chứng tử ông chủ đầu tiên của nó. Chủ mất rồi, con cháu ông muốn bán cái xe này thì phải làm đơn xin bán, kèm theo tờ chứng tử. Nó lọc xọc lạch xạch qua tay một ông thợ cơ khí, một ông nhà báo, một ông nhà thơ. Ông nhà thơ cuối cùng thấy bất tiện quá, ông vừa đi vừa phá, lại không biết chăm nom săn sóc nó, ông đắp chiếu cho nó nằm im trước nhà. Hàng xóm kêu ca, vợ con la rầy, ông quyết định trả nó ra giữa bụi đời. Vừa may có anh Năm biết mà tìm đến.
Nó lại ngon ngay. Một bữa có người đến lăn vào đòi mua. Một chuyên viên vi tính ở Hà Nội vào Sài Gòn công tác. Em mê con này quá anh Năm. Em chơi bọ từ lâu rồi, cũng đã để qua tay vài con nhưng vừa gặp con này là em kết ngay. Anh Năm để em chơi đi. Rồi khi nào anh nhớ nó, em mua vé cho anh bay ra thăm nó cũng được mà. Lý lẽ đến thế thì hết sách từ chối. Mình có đứa con xinh đẹp ngoan ngoãn, người ta cứ lăn vào đòi cưới thì tự nhiên thấy đẹp lòng. Mình gả. Biết chắc là gả vào chỗ xứng đáng. Thanh niên thời nay không mấy người hiểu được cái hay của xe con bọ. Họ thấy nó không tiện dụng. Họ chỉ chọn xe đời mới có nhiều chế độ tự động. Nhiều người cũng không biết rằng nó là xe cổ nhưng không hề đắt tiền. Không hề. Nó tồn tại là để dành cho người đam mê và không quản ngại. Gặp được người hiểu rõ giá trị của con bọ, anh Năm như gặp được người đồng cảm. Anh gật liền, zậy thôi. Anh Năm cũng không muốn gửi xe thùng chuyên chở con bọ ra Bắc. Anh tự tay lái xe đi hơn một ngàn tám trăm cây số ra Hà Nội. Mang con gái đi về nhà người, tục lệ là cha đưa mẹ đón. Gặp đúng vào dịp mùa khô rồi mà thời tiết ác nghiệt cứ mưa gió bão bùng. Lũ tràn qua miền Trung. Ngang qua Cam Ranh lũ tràn qua mặt đường. Phải dò dẫm lội qua chín đoạn nước ngập. Hết đoạn này lại tiếp đoạn khác. Có lúc tưởng đã phải dừng lại một cái nhà nào đó bên đường. Nhưng lũ vẫn tiếp tục tràn qua. Dừng lại nhỡ đâu đêm nay nước dâng cao hơn, thì cái xe bọ đúng là thành con bọ cánh cứng trôi tuột đi giữa dòng nước xiết. Số con bọ này thật là gian truân. Mảnh mai yểu điệu nhưng mà tinh thần là của một người đàn bà quả cảm. Không lùi bước. Cứ thế mà rẽ nước tiến lên. Cứ thế mà đi tới. Kiên định, bền bỉ, nhẫn nại, quyết chí. Anh vừa lái xe vừa lẩm bẩm, tội quá thương quá, ba biết là ba gửi con vào nơi xứng đáng, ba không nhầm, nhưng mà về nhà người ta giữa mưa giữa lũ thế này. Nhớ cái ngày đám cháu nội của anh từ Mỹ về thăm, chúng ríu rít chạy quanh cái xe mà chúng gọi là Lady Bug, cô Bọ Cánh Cứng. Thì xe con bọ ai cũng coi là giống cái mà. Lũ trẻ vừa bám xung quanh cô Bọ vừa hát bài đồng dao của trẻ con Mỹ:
Lady Bug, Lady Bug
Go home
Your house is on fire
And your children are alone.
Cô Bọ ơi cô Bọ/ Cô hãy về nhà ngay/ Nhà cô đang bốc cháy/ Lũ con bơ vơ thay. Ờ ờ, gửi vào nơi yên tâm rồi mà mình vẫn có lúc nghĩ nó bơ vơ. Ngày cuối cùng ở Hà Nội, có anh bạn lại nhắc, anh đã đến thăm cô Bọ của anh chưa? Ờ ờ thôi, để khi khác, biết nó khoẻ nó đẹp là yên tâm rồi.
Nhưng trên đường ra sân bay thì anh Năm lại nghĩ, anh mà đến nhìn thấy con bọ lấy chồng xa ấy, nhìn thấy Lady Bug được anh cưng chiều nhất mực ấy, người nhìn xe, xe nhìn người, rồi khéo mà anh nhấc chân không nổi, quay đi không nổi.
_________________________________________________________________
Hiển thị các bài đăng có nhãn truyện ngắn Hồ Anh Thái. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn truyện ngắn Hồ Anh Thái. Hiển thị tất cả bài đăng
Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2011
Thứ Sáu, 25 tháng 2, 2011
Dấu ấn hậu hiện đại
Lê Biên Thùy - Bùi Thanh Truyền
Châm biếm, mỉa mai, trào lộng, hài hước là những nhân tố tạo nên sắc thái giễu nhại trong truyện ngắn của Hồ Anh Thái. Hầu như toàn bộ kinh nghiệm cọ xát của nhà văn với ngôn ngữ đời sống thực tế đều được huy động: lối nói nhại, nói lái, tiếng lóng… thường xuyên hiện diện với tất cả nồng độ bụi bặm phố phường. Sức phê phán của chúng vừa có tính phủ định, công phá mạnh mẽ đối với cái xấu xa, lỗi thời vừa có ý nghĩa khẳng định, xây mới.
Cho đến nay, sau rất nhiều tranh cãi, thậm chí ngờ vực, hậu hiện đại và những ảnh hưởng của nó đã bước đầu được nhìn nhận trong đời sống xã hội Việt Nam nói chung, văn học nói riêng. Với nỗ lực hoàn thiện và phát triển, văn học đương đại, đặc biệt giai đoạn từ 1986 đến nay, đã chuyển mình mạnh mẽ để tham gia vào diễn trình hiện đại và hậu hiện đại của văn học thế giới với những gương mặt tiêu biểu, trong đó có Hồ Anh Thái. Từ khi là một cây bút trẻ, rất nhạy cảm với môi trường công nghiệp hiện đại, tác giả này đã lựa chọn cho mình một phương thức thể hiện rất riêng. Chính sự kết hợp hài hòa giữa cái phương Tây mới lạ và nét phương Đông thuần hậu đã ươm mầm cho cách cảm, cách nghĩ, cách chiêm nghiệm về “cõi người”, “cõi đời” với tất cả sự vô nghĩa và phi lý trong những trang viết sắc sảo của ông. Đứng trước vòng xoáy ghê gớm của đồng tiền, của những bi hài thời kinh tế thị trường, bằng trực cảm và trí tuệ sắc sảo, nhà văn nhận ra con người không còn là chính mình, họ hoài nghi người khác và cả bản thân cùng những thang giá trị truyền thống. Điểm qua gia tài văn học của Hồ Anh Thái, có thể thấy ông là một trong không nhiều cây bút tạo được thành công trong cuộc chạy tiếp sức qua hai thế kỷ. Với lương tâm nghề nghiệp, trách nhiệm công dân và sự bén nhạy, mới mẻ trong lối viết, tác giả đã mang vào tác phẩm của mình cái nhìn toàn diện cùng những đánh giá sâu sắc về những vấn đề nổi cộm trong xã hội cũng như những vỉa sâu tâm hồn đang dậy sóng của con người. Đọc hai tập truyện ngắn Tự sự 265 ngày(1), Sắp đặt và diễn(2), chúng ta như bước vào một thế giới với muôn ngàn mảnh ghép chằng chịt của cuộc sống mang đậm dấu ấn hậu hiện đại - những dị dạng, méo mó, những quái trạng, lệch lạc, sự nghi ngờ và cả những hoang mang trước cuộc sống. Trong bài viết này, chúng tôi chú trọng tìm hiểu những biểu hiện của văn học hậu hiện đại trong truyện ngắn của nhà văn trên một số phương diện chính: hệ thống đề tài, nhân vật và ngôn từ nghệ thuật.
1. Đề tài - sự âu lo và dự cảm
Trên con đường kiếm tìm và phản ánh hiện thực, đề tài trong các tác phẩm đương đại thường ghi đậm dấu ấn về sự khủng hoảng niềm tin của con người trong bối cảnh đổ vỡ các thang bậc giá trị, sự hỗn loạn của trật tự thường hằng. Những tình huống bi hài, nghịch dị trở nên phổ biến. Cái đẹp, cái thiện dần vắng bóng, thay vào đó là cái xấu, cái ác, cái thô kệch… Cán cân thăng bằng giữa các cực xấu - tốt, hài hòa - kệch cỡm, thiên thần - ác quỷ… bị phá vỡ trong xã hội hậu công nghiệp, dẫn đến sự bời rối không chỉ trong đời sống vật chất mà còn kéo theo cả niềm tin, lẽ sống, lý tưởng. Không phải là sự phó mặc, nhưng có lẽ Hồ Anh Thái cũng như không ít nhà văn đương đại khác đều tin rằng cuộc sống vốn không thể khác một khi đồng tiền, địa vị, sự xấu xa, độc ác vẫn đang hiện hữu và bành trướng, làm tha hóa con người, đưa họ xa rời những giá trị đạo đức tốt đẹp, khiến cuộc sống bị cuốn vào vòng xoáy của quy luật mạnh được yếu thua.
31 truyện ngắn trong hai tập truyện Sắp đặt và diễn, Tự sự 265 ngày là 31 mảnh vỡ chắp nối thành cuộc sống với nhiều đường vân dị hình, nhếch nhác, thể hiện tinh vi nỗi hoang mang, ngắc ngoải, đánh mất phương hướng, bản ngã của con người khi đứng trước xã hội lộn xộn, bất an. Thật khó có thể tin được trong bộ máy công quyền lại tồn tại một hệ thống công chức sai lệch giữa học vị và việc làm đến thế: giáo sư văn lại là chuyên gia phân tích xác ướp người, giáo sư sử làm nghề “nghiên cứu viết sách giảng dạy lịch sử nước Mỹ và lịch sử Ai Cập là những nơi ông chưa bao giờ đặt chân tới. Thứ ngôn ngữ tệ hại của vùng đất ấy ông cũng không sử dụng được”. Với điểm đến là Phòng khách, Hồ Anh Thái đã miêu tả sự nhếch nhác, lộn xộn, nhố nhăng của những vị mũ cao áo dài. Họ tìm mọi thủ đoạn để tồn tại, thăng tiến, giẫm đạp lên nhau hòng đạt mục đích. Hiện thực hỗn loạn, trớ trêu, bê tha, con người đánh mất niềm tin vào cuộc sống và vào tất cả được bày ra trần trụi: “Cái nôi văn minh của loài người đã gửi sang châu âu rặt những kẻ mắt một mí đưa đẩy, gian xảo, ngứa ngáy tắt mắt giữa choáng váng đèn màu châu Âu”.
Không dừng lại ở đó, truyện ngắn Hồ Anh Thái còn miêu tả lối sống nhỏ nhen, ích kỷ, tàn nhẫn, thói vô lương tâm của con người hiện đại mà đa số họ thuộc đẳng cấp danh giá trong xã hội. Đố kỵ cả từ sở thích riêng tư, vặt vãnh như “sưu tập chim trong lồng” (Chim anh chim em). Hậu quả là, khi Diệu sở hữu con yểng hót được bài My heart will go on thì ông Thiển, vì quá uất hận, đã biến thành một “con chim” lớn rơi từ cửa sổ tầng năm xuống. Trong Sân bay, Tờ khai visa, những soi mói, ghen tị của những người gọi nhau đồng nghiệp, chung một công sở được tái hiện sống động, đầy tính chất u-mua đen (black humour). Ở đó, người ta nghĩ ra trăm phương nghìn kế, dùng mọi thủ đoạn, âm mưu để đạt được mục đích tiến thân: thằng phụ hồ, do được nâng đỡ, bỗng chốc trở thành nghiên cứu viên một viện danh giá, nhưng trí lực hắn vẫn mãi dừng lại ở thời điểm của một tên ma cà bông mười bảy tuổi; một gã bảo vệ, vì đặt trộm máy quay trong phòng ông viện phó, mà vừa được xem phim con heo miễn phí, vừa có “vũ khí” để tiến thân; thằng nhân tình của cô viện sĩ trẻ vô học, đi lên nhờ thói côn đồ… Con người đã phải trả giá cho những thói tật nhỏ nhen, thảm hại của mình. Cái chết của Mai trong Bóng ma trên hành lang, của ông Thiển trong Chim anh chim em là những minh chứng. Không thảng thốt cũng chẳng giật mình trước những quái trạng của hiện tồn, Hồ Anh Thái chỉ thấy nhói đau như vừa đánh mất cái gì quan trọng. Phải chăng đó là sự âu lo trong dự cảm những giá trị chân – thiện – mỹ truyền thống đã và sẽ tiếp tục bị bóp méo, thậm chí hủy diệt?
2. Nhân vật – rất nhiều điều “không”
Truyện ngắn của Hồ Anh Thái, như đã khái lược ở phần đề tài, thường tập trung xoáy sâu vào câu chuyện về một thế giới vô nghĩa, vô hồn, phi lý tương ứng với nó là hệ thống những nhân vật nghịch dị, quái đản. Nhà văn có biệt tài trong việc sử dụng các chất liệu dân gian để xây dựng nhân vật với tất cả sự dung tục, thanh cao, hoang tưởng, những bộ mặt phàm tục tầm thường, thậm chí ti tiện, những trạng thái nhân thế đảo điên, thiếu vắng chuẩn mực giá trị, điểm tựa tinh thần và từ đó cảm thấy vô nghĩa trước cuộc sống.
Thủ pháp dân gian hóa nhân vật được cụ thể hóa ở phương thức đặt tên, lai lịch và diện mạo. Người viết thường dựng chân dung con người bằng kỹ xảo làm mờ, làm nhòe, tẩy trắng tính cách hệt như trong truyện cổ. Nhân vật được tái hiện khá giản đơn, mang tính chất phiếm chỉ rất rõ. Qua khảo sát 31 truyện ngắn của tác giả, chúng tôi thấy, 21 truyện nhân vật không có tên, chiếm 68%. Trong 10 truyện còn lại, bên cạnh số ít nhân vật được nhận mặt đặt tên vẫn hiện hữu một số lượng lớn nhân vật chức năng, được nhà văn đưa vào như những thanh công cụ, có tác dụng trợ giúp đắc lực nhằm hiển thị tính đa diện của vấn đề như nhân vật đám đông, nhân vật phân thân. Họ hiện lên như một khối hỗn tạp, xen lẫn thực ảo. Đó là điểm chung của những sáng tác ít nhiều chịu ảnh hưởng từ chủ nghĩa hậu hiện đại: xu hướng nhạt hóa, mờ hóa nhân vật, con người từ sự nỗ lực khẳng định mình như một “nhân vị” đúng nghĩa ở giai đoạn trước giờ trở nên mờ mờ nhân ảnh. Điều này là một tất yếu, bởi nó tạo ra sự hòa kết giữa nhân vật với “hiện thực trương nở” (hyper reality) đương đại: “Cuộc sống hoàn toàn không diễn ra theo kiểu đậm đặc, các sự kiện của một đời người hiếm khi chồng chất, và nói chung, cuộc đời trôi đi vu vơ, bình thản, tẻ nhạt hơn nhiều. Làm gì có số phận nào được mở đầu, phát triển và kết thúc chu đáo như trong văn chương, làm gì có tình thế điển hình, đẩy người ta đến các quyết định vượt tầm nhân thế, làm gì có các trạng thái tâm lý mấp mé bờ vực hay chót vót đỉnh cao, và nhất là làm gì có sự hội tụ đầy run rủi của các nhân vật, nhân vật nào cũng đại diện cho một cái gì như vậy. Độc giả chân thành của chúng ta cứ thế mà chờ đợi” (Phạm Thị Hoài - Một truyện cổ điển).
Cố ý xóa bỏ dấu hiệu nhận biết trong tái tạo hình tượng nhân vật cũng là đặc điểm nổi bật trong thi pháp truyện ngắn của nhà văn này. Tác phẩm của ông thường gây ấn tượng bởi những cái tên không ra tên. Nhan nhản trong truyện ngắn Hồ Anh Thái là hàng trăm nhân vật không tên, không tuổi, không nguồn cội. Tác giả làm “giấy khai sinh” cho họ bằng nhiều hình thức: gắn với nghề nghiệp, địa vị, chức tước: ông giám đốc, võ sư, ông sử, bà viện phó, gã chuyên viên, ông viện trưởng, chị nhà văn, ông Việt kiều, chàng thư ký tòa soạn, ông tổng biên tập, họa sĩ… Vật chất hóa tên gọi con người: “Người yêu được trả chín triệu. Hai cô bạn, một cô ba triệu, một cô hai triệu. Cả ba cô sẽ trở thành những diễn viên nổi tiếng. Ta chẳng nên gọi tên thật của họ làm gì. Cứ đơn giản gọi họ là Chín Triệu, Ba Triệu, Hai Triệu, mặc dù dùng tiền nong để đặt tên nhân vật đâu có gì hay” (Chín Triệu, Ba Triệu, Hai Triệu và Bóng Rổ). Nhân vật đôi lúc chỉ được xác định bằng hành động, dáng dấp, thói quen, dung mạo: thằng Rú, thằng Phập, thằng Bạo, Cá Sấu 1, Cá Sấu 2… Cách số hóa, ký hiệu hóa nhân vật cũng thường xuyên xuất hiện: ông Số Một, bà Số Hai, cô Số Ba, Số Bốn (Tờ khai Visa), cô Nhất, cô Nhị, cô Tam, cô Tứ (Bến Ôsin), ông A, bà B, chú C (Lọt sàng xuống nia), Trạng 1, Trạng 2, Trạng 3, Trạng 4, Trạng 5 (Tin thật lòng)… Bằng những cách ấy, các nhân vật bị xóa nhòe lai lịch. Họ xuất hiện đột ngột, không xuất xứ, hệt như bị vô tình ném ra giữa cuộc đời - những thân phận vô danh trong vòng quay bất tận của cuộc sống. Cách định danh như thế làm cho con người có nguy cơ bị hủy hoại, thủ tiêu bản sắc cá nhân, đánh mất quan hệ với đồng loại – nhân tố cốt lõi làm nên chân giá trị của mỗi cá thể như quan niệm về thế giới và con người của văn chương truyền thống. Với thủ pháp này, người viết buộc người đọc tiếp xúc với hình tượng bằng điểm nhìn từ phía bên ngoài. Nhân vật dường như chỉ là cái bóng của hiện thực, là những khuôn mặt tượng trưng cho một loại người trong xã hội: vô lương tâm, vô tình, bàng quan, vật dục, lố bịch, hợm hĩnh… Ở họ luôn tiềm tàng nỗi cô đơn, lạc loài, tâm trạng hoài nghi trước cuộc sống, mất khả năng giao tiếp, khó hòa hợp với thế giới xung quanh.
Vô nghĩa và trống rỗng - những trạng thái tâm hồn thường thấy ở văn học hậu hiện đại – cũng được thể hiện khá rõ qua các nhân vật mang đậm tính nghịch dị (grotesque) trong truyện ngắn Hồ Anh Thái. Nhân vật không có chiều dài vật chất, thực thể mà chỉ giống như những giọng nói, những hình dung, những biểu tượng, là những đối tượng siêu thực, ít có khả năng hiện hữu và hành động không thể nắm bắt, không thể giải thích bằng lý trí thông thường. Ông Thiển trong Chim anh chim em có những hành vi lập dị, thậm chí quái đản với ham muốn thủ dâm tư tưởng: “Trong tưởng tượng, ông lưỡi vờn răng ước ao vờn vã sấp ngửa với đám đàn bà, con gái trong phòng. Ông mơ ông ngủ với suốt lượt, từ bà phó tiến sĩ mua bằng trong nước sắp về hưu đến cô sinh viên Tổng hợp năm cuối đang thực tập. Từ cô đánh máy bàn tay búp măng đến cô tạp vụ thay giấy vệ sinh trong toilet cũng tay búp măng. Cơm nguội cơm sốt, hạt mảy hạt tấm ông xơi hết”. Tác giả đã chú ý bơm phồng một vài nét hiện thực, biến nó thành một tồn tại bất bình thường, một sự lộ liễu quá mức hình dung sẵn có về đối tượng. Chính từ những nhân vật nghịch dị này, nhà văn đưa chúng ta vào những phạm vi hoạt động xã hội cũng đầy những quái trạng. Các tình huống đó tạo ra những ấn tượng mạnh mẽ về một đời sống lệch chuẩn, thậm chí mất chuẩn: những chân giá trị và ngụy giá trị xâm thực, chồng chéo, che phủ lẫn nhau, người ta không có cách nào phân biệt rạch ròi. Thường kết thúc bằng những sự thật trớ trêu, ê chề, truyện ngắn của Hồ Anh Thái, do vậy, thấm đẫm tâm trạng hoài nghi tồn tại. Điều này đã đưa sáng tác của tác giả xích lại gần với quan niệm hiện sinh - hậu hiện đại.
Từ phương thức khắc chạm hệ thống hình tượng nhân vật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái, có thể nói, trên hành trình tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống, sự vong thân, vong bản của con người thời kim tiền, kỹ trị là nỗi ám ảnh lớn nhất đối với nghệ sĩ này. Những yếu tố hoang đường, phi lý giúp cho trí tưởng tượng của nhà văn và của người đọc chắp cánh bay xa. Đây là liều vắc xin hữu hiệu để đặc trị bệnh chai sạn của tâm hồn con người trong sự phát triển, đổi thay chóng mặt của đời sống đương đại đồng thời cũng đặt ra những câu hỏi lớn về ý nghĩa thật sự của tồn tại, của thang bậc giá trị xã hội, nhân sinh.
3. Ngôn từ nghệ thuật – hoàn cảnh hóa và giễu nhại
Ý thức nổi loạn, tung phá, không chịu đóng gông vào một chuẩn mực nào của ngôn ngữ đã trở thành lực đẩy giúp Hồ Anh Thái tái tạo những hình tượng nghệ thuật mà không phải mọi công chúng đều có thể đọc, hiểu và đồng cảm, nhất là đối với “những ai quen đóng chặt cửa, những ai chưa quen gió máy, hoặc ít được thấy những vùng không gian thoáng đãng”(3) thì càng dễ dị ứng. Ở tác giả này, văn bản nghệ thuật trở thành một mê trận ngôn từ với những đường gấp khúc, dích dắc không thể dễ dàng tìm ra mắt xích khởi nguyên.
Thường gặp nhất trong kỹ thuật dụng ngôn của nhà văn là cách thức hoàn cảnh hóa ngôn ngữ văn học. Những sinh ngữ được tác giả khai thác theo chiều kích mới không còn tuân theo chuẩn từ điển mà gắn chặt với bối cảnh sinh ra chúng; một khi tách khỏi ngữ cảnh, chúng trở nên vô nghĩa và không thể giải thích. Đứng trước thực trạng xã hội bị khoa học hóa, công nghệ hóa, vi tính hóa, nhu cầu đối thoại trực tiếp dường như giảm sút đến mức tối thiểu, con người giao tiếp với nhau thông qua những máy móc trung gian. Đó là cơ sở hình thành một “hố thẳm” ngày càng nới rộng chiều kích giữa các cá thể trong cộng đồng – một thứ a xít có nguy cơ hủy hoại cuộc sống tinh thần của con người. Trong Nham!, tác giả đã cho thấy sự hiện diện của ngôn ngữ mạng đã phần nào thủ tiêu vẻ đẹp, sự trong sáng của tiếng Việt và cũng thiêu trụi bản chất của sự thật sau những con chữ vô âm sắc, vô tình điệu: “Lao Viet Nam nhan tin bang dien thoai di dong, dai loai: anh dai loan oi, anh ra cho lon mua buoi cho em an, an xong roi mang xe deo em cho vui nhe”; “Noi that voi em, tieng Viet khong co dau chi con la cai xac khong hon. That bat tien! Thu tieng giau va dep ay gan nhu bi sat thuong khi dem viet ra khong co danh dau nhu the nay”. Từ bề sâu con chữ vang vọng lời cảnh tỉnh khẩn thiết của người viết: Ngôn ngữ - kết tinh văn hóa cao nhất của loài người, niềm tự hào của mỗi dân tộc – đang đứng trước nguy cơ bị hủy diệt bởi mặt trái của sự phát triển khoa học kỹ thuật.
Cũng như văn chương hậu hiện đại, trong truyện ngắn của mình, Hồ Anh Thái không hề che giấu khát vọng tạo sinh một trật tự ngôn ngữ mới, trong đó tất cả mọi trò chơi ngôn ngữ, kể cả ngộ luận (paralogie), đều có quyền hiện diện. Điều này thể hiện rõ nhất ở hệ thống các thuật ngữ thời hiện đại được nhà văn khai thác và đưa vào tác phẩm: “nát một đời hoa”, “lụn ba đời chuối”, “gã tráng men”, “gã ăn ốc đổ vỏ”, “lực điền tối dạ”, “học giả yếu tim”, “ám mùi hệ tiêu hóa”, “mốt đảo ngói”,... Cách thức sử dụng ngôn ngữ lệch chuẩn theo kiểu tính từ giữ vai trò của động từ, danh từ riêng lại đảm nhận vị thế tính từ, động từ cũng xuất hiện với tần số cao: “Bảo với chúng nó nhá, chúng nó cặp nhiệt độ nhau thì phải kiếm chỗ cho bất khuất, đừng có Nghĩa Lộ quá trước mắt bà, bà Lũng Cú lên, bà thịt băm cho mấy nhát thì anh ả đứt phựt dây đàn” (Trại cá sấu); “Anh không thích bạo liệt và gạo cội thì cứ dịu dàng xe chỉ luồn kim” (Vẫn tin vào chuyện thần tiên),… Những hình thức ngôn ngữ này mang đầy đủ tính chất của một xã hội thô nhám, bề bộn. Phần lớn ngôn từ truyện ngắn Hồ Anh Thái tồn tại ở dạng song kết và chuyển hóa linh hoạt giữa hai dạng nói và viết. Hệ thống ngôn ngữ chuẩn mực không còn phát huy tác dụng tuyệt đối mà xen lẫn vào đó là ngôn ngữ thông tục, suồng sã, những biệt ngữ của thời kinh tế thị trường… Điều này góp phần hé lộ sự bất đồng, đứt gãy, thậm chí khủng hoảng của ngôn ngữ trước thực tại.
Hình thức giễu nhại - một trong những đặc trưng nổi bật của phong cách sáng tác hậu hiện đại - đang càng ngày càng phổ biến trong đời sống văn học Việt Nam thời đổi mới. Lắng nghe kỹ, người đọc sẽ thấy, mỗi truyện ngắn của Hồ Anh Thái đều ít nhiều vang lên âm giọng này. Bằng cách ấy, nhà văn công khai bày tỏ thái độ của mình đối với sự rối ren, phi lý, bất công trong cuộc sống. Phát hiện rất nhanh nhạy cái lố bịch trong thực tại, tác giả đã khai thác đến cùng phương diện gây cười của chúng để đưa vào tuyến vận động của cốt truyện. Châm biếm, mỉa mai, trào lộng, hài hước là những nhân tố tạo nên sắc thái giễu nhại trong truyện ngắn của ông. Hầu như toàn bộ kinh nghiệm cọ xát của nhà văn với ngôn ngữ đời sống thực tế đều được huy động: lối nói nhại, nói lái, tiếng lóng… thường xuyên hiện diện với tất cả nồng độ bụi bặm phố phường. Sức phê phán của chúng vừa có tính phủ định, công phá mạnh mẽ đối với cái xấu xa, lỗi thời vừa có ý nghĩa khẳng định, xây mới. Dám nhìn thẳng vào những cái - hài - đời với đầy những trật khớp, vênh lệch của cuộc sống thời tiền và hậu đổi mới rồi thể hiện nó bằng một thứ ngôn ngữ tương xứng để tự cười và chọc cười thiên hạ là một sự dũng cảm, một hướng đi gập ghềnh nhưng hữu dụng, cấp thiết; và chính phương diện này đã bộc lộ rõ sở trường, phong cách độc đáo và tạo ra cái gọi là “cảm quan hậu hiện đại” trong tác phẩm của ông.
Ngôn ngữ dung tục xuất hiện như là sự “nhại” đến tận cùng ngôn ngữ đời sống. Dạng thức này thường gắn liền với việc tố cáo, đả kích, phủ định thói hư tật xấu của thế thái nhân tình giữa thời buổi những thang bậc giá trị đang thay đổi. Đó là những dục vọng vô độ trong sự đồng lõa của môi trường văn hóa xuống cấp, thói học đòi, khoe mẽ: giáo sư viết lịch sử nước Mỹ thì chưa tới Mỹ một lần, ngoại ngữ cũng mù tịt, lại còn mắc căn bệnh ăn cắp vặt: “Cái ly pha lê theo ông giáo sư về làm con nuôi. Bộ ly tan đàn chỉ còn năm” (Phòng khách); những thói rởm đời của giới văn nghệ sĩ: “Ca sĩ lạm dụng luyến láy, hát một nốt thành bảy nốt, hát theo lối rất mất vệ sinh môi trường Anh Trương Chi anh đừng đi anh đừng đi í ì…ị” (Trại cá sấu); “Nàng đi tắt qua thơ ca nước ngoài, dịch thơ Pháp thành lục bát không vần, thơ lãng mạn bị dịch thành câu Giấc mộng kê vàng sùng sục đồng quê… Thơ dịch gì mà miêu tả cảnh đau bụng đi đồng ban đêm. Đấy thôi, những là sôi sùng sục, những là vàng khè, những là gió đồng nổi lên” (Lọt sàng xuống nia). Sự giễu nhại tìm đến tận cùng những cái phi lý, vô nghĩa, ngớ ngẩn của hiện thực xã hội. Văn bản tác phẩm, vì thế, dường như được tạo nên nhờ những chồng xếp, ghép nối của những cái vụn vỡ thật – giả, chỗ nào cũng có thể bắt gặp hiện tượng đứt mạch, gãy mạch của lôgic ngữ nghĩa, kết cấu truyện hóa thành kết cấu của tùy bút, tản văn.
Thiên về tạo hình và tạo động tính, ngôn ngữ truyện ngắn Hồ Anh Thái có sức nặng bởi lối miêu tả bạo liệt về cái phi lý tồn tại trong cuộc sống, lộ rõ dục tính tầm thường của con người: “Đấy, chính là gã. To cao, mặt to, chân tay to. Một thứ trẻ con tồ tồ tẹt tẹt, lớn xác 1 mét 82 nhưng đầu óc vĩnh viễn là của một thằng phụ hồ mất dạy mười bảy tuổi” và “gã nổi danh hơn ở viện khi tự rêu rao mình là một con đực hoàn hảo… Gã bô bô cả trăm phần trăm chị em viện sĩ đã qua tay gã. Cô nào đanh đá cong cớn chống nạnh chửi gã làm mất danh dự, gã xông tới tát luôn” (Sân bay). Lối sống giả dối kiểu “rắn giả lươn” cũng được người viết dùng sức mạnh của trò diễn ngôn từ phanh phui: “Đám viện sĩ hàn lâm có mặt vợ xuýt xoa khen chuyện chồng, có mặt chồng tấm tắc đề cao vợ. Không có cả vợ cả chồng, quay ngoắt, chỉ thương cho thằng ấy sống với con trăm thằng ấy mà mù dở, sờ sờ trước mắt chả trông thấy gì” (Sân bay). Để thúc đẩy sự vận động liền mạch của diễn ngôn, đôi lúc Hồ Anh Thái cũng không ngần ngại “lắp ghép” và thổi hồn cho ngôn ngữ dân gian hiện đại: “càng già càng dẻo càng dai, bế cháu kêu nặng cõng trai trèo tường”, “đào mỏ sẽ chết vì sập hầm”, “trẻ không xông pha già ân hận”… Việc làm ấy cũng như một chất phụ gia, một sự kích thích để chạm khắc thực trạng xô bồ của xã hội, những bấp bênh, vô thường của đời sống, sự hồ nghi tồn tại - những loại hình tâm trạng làm nên cảm quan của thời đại mới.
Giọng giễu nhại, bỡn cợt vì thế trở thành yếu tố thẩm mỹ nổi bật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái, thành phương tiện mổ xẻ những ung nhọt, quái trạng của xã hội. Từ cuộc sống thường nhật của giới công chức, giới khoa học, đến lối sống buông thả của lớp văn nghệ sĩ... tất cả đều bị tác giả lật tẩy qua chất giọng “tưng tửng” đặc biệt này. Các câu chuyện đều được kể lại từ ngôi thứ ba số ít với sắc thái hoài nghi, tra vấn trong điểm nhìn nghệ thuật. Với lối trần thuật hỗn độn, diễn ngôn đứt đoạn cùng thủ pháp cắt mảnh hiện thực, lắp ghép ngôn từ, Hồ Anh Thái đã tái hiện một thế giới đánh mất ý nghĩa và trật tự. Phá vỡ những gì đang bền vững như một xác tín trong nhận thức, tâm cảm con người hiện đại, người viết, bằng thuật phù phép câu chữ, đã dựng lên một thế giới đa phương, nhiều chiều trong một bầu không khí bất tín đầy ma thuật. Tính trào lộng, suồng sã hết nước các sự kiện, các chi tiết được kể lại trong truyện là một cách tiếp xúc với thế giới không hoàn kết hôm nay.
* *
*
Những gì trình bày ở trên cho thấy rõ sự thể hiện cũng như hiệu ứng thẩm mỹ của hậu hiện đại trong truyện ngắn Hồ Anh Thái. Thể hiện rõ nhất của nhận định này, theo chúng tôi, là “tham vọng thực hiện được ước mơ bao đời của các nhà văn: kết hợp được tính bình dân, dân chủ với tính tinh tuyển, “bác học” của văn chương”(4). Cùng với tiểu thuyết, mảng truyện ngắn cũng đã bộc lộ khá thường trực ý thức, nỗ lực tái tạo hiện thực dưới góc nhìn mới, khác lạ, lệch dòng truyền thống ở nhà văn luôn trăn trở với sự tồn sinh của nhân thế, khôn nguôi tìm kiếm câu trả lời cho bài toán hóc búa về sự hòa giải giữa quá khứ truyền thống, ổn định và hiện tại hiện đại, không ngừng biến chuyển.
Trên tinh thần đó, không quá võ đoán khi cho rằng, Hồ Anh Thái là một gương mặt tiêu biểu đã góp công cho sự tìm tòi, thể nghiệm, tạo dựng một thứ văn học mới có khả năng lật trở, soi chiếu nhiều phương diện của thực tại hôm nay. Nhân vật trong tác phẩm của ông thường ở trong tâm thế phòng thủ trước xã hội và chính bản thân mình, vì thế mà trở nên cô đơn giữa đồng loại, không thể nhận ra giá trị của cuộc sống. Đó là cái chết về tinh thần của con người. Mỗi truyện ngắn của nhà văn, do đó, như một hồi chuông đang dóng diết cảnh tỉnh cho tương lai nhân loại. Với tư cách là một người tiên phong trong việc tận dụng ưu thế của văn học hậu hiện đại để tạo ra sự mới mẻ, đột phá cho văn xuôi Việt Nam đương đại, hiện tượng Hồ Anh Thái và những nhà văn cùng chí hướng với ông cần phải được nhìn nhận trên tinh thần cởi mở, dân chủ; có như vậy mới tạo được sự đồng thuận trong quá trình tiếp biến văn học thế giới để định hướng, điều chỉnh sự vận động, phát triển hợp lý của văn học nước nhà.
_______________________________________________
1. Hồ Anh Thái: Tự sự 265 ngày, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2001.
2. Hồ Anh Thái: Sắp đặt và diễn, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2005. Các trích dẫn tác phẩm đều từ hai tập truyện ngắn này.
3. Phong Lê: 20 năm sự nghiệp đổi mới và những vấn đề hôm nay của lý luận - phê bình văn học, Nghiên cứu văn học, Số 4 - 2006, trang 29 - 41
4. Đào Tuấn Ảnh: Quan niệm thực tại và con người trong văn học hậu hiện đại, Nghiên cứu văn học, Số 8 - 2005, trang 43 - 59
____________________________________________________________
Châm biếm, mỉa mai, trào lộng, hài hước là những nhân tố tạo nên sắc thái giễu nhại trong truyện ngắn của Hồ Anh Thái. Hầu như toàn bộ kinh nghiệm cọ xát của nhà văn với ngôn ngữ đời sống thực tế đều được huy động: lối nói nhại, nói lái, tiếng lóng… thường xuyên hiện diện với tất cả nồng độ bụi bặm phố phường. Sức phê phán của chúng vừa có tính phủ định, công phá mạnh mẽ đối với cái xấu xa, lỗi thời vừa có ý nghĩa khẳng định, xây mới.
Cho đến nay, sau rất nhiều tranh cãi, thậm chí ngờ vực, hậu hiện đại và những ảnh hưởng của nó đã bước đầu được nhìn nhận trong đời sống xã hội Việt Nam nói chung, văn học nói riêng. Với nỗ lực hoàn thiện và phát triển, văn học đương đại, đặc biệt giai đoạn từ 1986 đến nay, đã chuyển mình mạnh mẽ để tham gia vào diễn trình hiện đại và hậu hiện đại của văn học thế giới với những gương mặt tiêu biểu, trong đó có Hồ Anh Thái. Từ khi là một cây bút trẻ, rất nhạy cảm với môi trường công nghiệp hiện đại, tác giả này đã lựa chọn cho mình một phương thức thể hiện rất riêng. Chính sự kết hợp hài hòa giữa cái phương Tây mới lạ và nét phương Đông thuần hậu đã ươm mầm cho cách cảm, cách nghĩ, cách chiêm nghiệm về “cõi người”, “cõi đời” với tất cả sự vô nghĩa và phi lý trong những trang viết sắc sảo của ông. Đứng trước vòng xoáy ghê gớm của đồng tiền, của những bi hài thời kinh tế thị trường, bằng trực cảm và trí tuệ sắc sảo, nhà văn nhận ra con người không còn là chính mình, họ hoài nghi người khác và cả bản thân cùng những thang giá trị truyền thống. Điểm qua gia tài văn học của Hồ Anh Thái, có thể thấy ông là một trong không nhiều cây bút tạo được thành công trong cuộc chạy tiếp sức qua hai thế kỷ. Với lương tâm nghề nghiệp, trách nhiệm công dân và sự bén nhạy, mới mẻ trong lối viết, tác giả đã mang vào tác phẩm của mình cái nhìn toàn diện cùng những đánh giá sâu sắc về những vấn đề nổi cộm trong xã hội cũng như những vỉa sâu tâm hồn đang dậy sóng của con người. Đọc hai tập truyện ngắn Tự sự 265 ngày(1), Sắp đặt và diễn(2), chúng ta như bước vào một thế giới với muôn ngàn mảnh ghép chằng chịt của cuộc sống mang đậm dấu ấn hậu hiện đại - những dị dạng, méo mó, những quái trạng, lệch lạc, sự nghi ngờ và cả những hoang mang trước cuộc sống. Trong bài viết này, chúng tôi chú trọng tìm hiểu những biểu hiện của văn học hậu hiện đại trong truyện ngắn của nhà văn trên một số phương diện chính: hệ thống đề tài, nhân vật và ngôn từ nghệ thuật.
1. Đề tài - sự âu lo và dự cảm
Trên con đường kiếm tìm và phản ánh hiện thực, đề tài trong các tác phẩm đương đại thường ghi đậm dấu ấn về sự khủng hoảng niềm tin của con người trong bối cảnh đổ vỡ các thang bậc giá trị, sự hỗn loạn của trật tự thường hằng. Những tình huống bi hài, nghịch dị trở nên phổ biến. Cái đẹp, cái thiện dần vắng bóng, thay vào đó là cái xấu, cái ác, cái thô kệch… Cán cân thăng bằng giữa các cực xấu - tốt, hài hòa - kệch cỡm, thiên thần - ác quỷ… bị phá vỡ trong xã hội hậu công nghiệp, dẫn đến sự bời rối không chỉ trong đời sống vật chất mà còn kéo theo cả niềm tin, lẽ sống, lý tưởng. Không phải là sự phó mặc, nhưng có lẽ Hồ Anh Thái cũng như không ít nhà văn đương đại khác đều tin rằng cuộc sống vốn không thể khác một khi đồng tiền, địa vị, sự xấu xa, độc ác vẫn đang hiện hữu và bành trướng, làm tha hóa con người, đưa họ xa rời những giá trị đạo đức tốt đẹp, khiến cuộc sống bị cuốn vào vòng xoáy của quy luật mạnh được yếu thua.
31 truyện ngắn trong hai tập truyện Sắp đặt và diễn, Tự sự 265 ngày là 31 mảnh vỡ chắp nối thành cuộc sống với nhiều đường vân dị hình, nhếch nhác, thể hiện tinh vi nỗi hoang mang, ngắc ngoải, đánh mất phương hướng, bản ngã của con người khi đứng trước xã hội lộn xộn, bất an. Thật khó có thể tin được trong bộ máy công quyền lại tồn tại một hệ thống công chức sai lệch giữa học vị và việc làm đến thế: giáo sư văn lại là chuyên gia phân tích xác ướp người, giáo sư sử làm nghề “nghiên cứu viết sách giảng dạy lịch sử nước Mỹ và lịch sử Ai Cập là những nơi ông chưa bao giờ đặt chân tới. Thứ ngôn ngữ tệ hại của vùng đất ấy ông cũng không sử dụng được”. Với điểm đến là Phòng khách, Hồ Anh Thái đã miêu tả sự nhếch nhác, lộn xộn, nhố nhăng của những vị mũ cao áo dài. Họ tìm mọi thủ đoạn để tồn tại, thăng tiến, giẫm đạp lên nhau hòng đạt mục đích. Hiện thực hỗn loạn, trớ trêu, bê tha, con người đánh mất niềm tin vào cuộc sống và vào tất cả được bày ra trần trụi: “Cái nôi văn minh của loài người đã gửi sang châu âu rặt những kẻ mắt một mí đưa đẩy, gian xảo, ngứa ngáy tắt mắt giữa choáng váng đèn màu châu Âu”.
Không dừng lại ở đó, truyện ngắn Hồ Anh Thái còn miêu tả lối sống nhỏ nhen, ích kỷ, tàn nhẫn, thói vô lương tâm của con người hiện đại mà đa số họ thuộc đẳng cấp danh giá trong xã hội. Đố kỵ cả từ sở thích riêng tư, vặt vãnh như “sưu tập chim trong lồng” (Chim anh chim em). Hậu quả là, khi Diệu sở hữu con yểng hót được bài My heart will go on thì ông Thiển, vì quá uất hận, đã biến thành một “con chim” lớn rơi từ cửa sổ tầng năm xuống. Trong Sân bay, Tờ khai visa, những soi mói, ghen tị của những người gọi nhau đồng nghiệp, chung một công sở được tái hiện sống động, đầy tính chất u-mua đen (black humour). Ở đó, người ta nghĩ ra trăm phương nghìn kế, dùng mọi thủ đoạn, âm mưu để đạt được mục đích tiến thân: thằng phụ hồ, do được nâng đỡ, bỗng chốc trở thành nghiên cứu viên một viện danh giá, nhưng trí lực hắn vẫn mãi dừng lại ở thời điểm của một tên ma cà bông mười bảy tuổi; một gã bảo vệ, vì đặt trộm máy quay trong phòng ông viện phó, mà vừa được xem phim con heo miễn phí, vừa có “vũ khí” để tiến thân; thằng nhân tình của cô viện sĩ trẻ vô học, đi lên nhờ thói côn đồ… Con người đã phải trả giá cho những thói tật nhỏ nhen, thảm hại của mình. Cái chết của Mai trong Bóng ma trên hành lang, của ông Thiển trong Chim anh chim em là những minh chứng. Không thảng thốt cũng chẳng giật mình trước những quái trạng của hiện tồn, Hồ Anh Thái chỉ thấy nhói đau như vừa đánh mất cái gì quan trọng. Phải chăng đó là sự âu lo trong dự cảm những giá trị chân – thiện – mỹ truyền thống đã và sẽ tiếp tục bị bóp méo, thậm chí hủy diệt?
2. Nhân vật – rất nhiều điều “không”
Truyện ngắn của Hồ Anh Thái, như đã khái lược ở phần đề tài, thường tập trung xoáy sâu vào câu chuyện về một thế giới vô nghĩa, vô hồn, phi lý tương ứng với nó là hệ thống những nhân vật nghịch dị, quái đản. Nhà văn có biệt tài trong việc sử dụng các chất liệu dân gian để xây dựng nhân vật với tất cả sự dung tục, thanh cao, hoang tưởng, những bộ mặt phàm tục tầm thường, thậm chí ti tiện, những trạng thái nhân thế đảo điên, thiếu vắng chuẩn mực giá trị, điểm tựa tinh thần và từ đó cảm thấy vô nghĩa trước cuộc sống.
Thủ pháp dân gian hóa nhân vật được cụ thể hóa ở phương thức đặt tên, lai lịch và diện mạo. Người viết thường dựng chân dung con người bằng kỹ xảo làm mờ, làm nhòe, tẩy trắng tính cách hệt như trong truyện cổ. Nhân vật được tái hiện khá giản đơn, mang tính chất phiếm chỉ rất rõ. Qua khảo sát 31 truyện ngắn của tác giả, chúng tôi thấy, 21 truyện nhân vật không có tên, chiếm 68%. Trong 10 truyện còn lại, bên cạnh số ít nhân vật được nhận mặt đặt tên vẫn hiện hữu một số lượng lớn nhân vật chức năng, được nhà văn đưa vào như những thanh công cụ, có tác dụng trợ giúp đắc lực nhằm hiển thị tính đa diện của vấn đề như nhân vật đám đông, nhân vật phân thân. Họ hiện lên như một khối hỗn tạp, xen lẫn thực ảo. Đó là điểm chung của những sáng tác ít nhiều chịu ảnh hưởng từ chủ nghĩa hậu hiện đại: xu hướng nhạt hóa, mờ hóa nhân vật, con người từ sự nỗ lực khẳng định mình như một “nhân vị” đúng nghĩa ở giai đoạn trước giờ trở nên mờ mờ nhân ảnh. Điều này là một tất yếu, bởi nó tạo ra sự hòa kết giữa nhân vật với “hiện thực trương nở” (hyper reality) đương đại: “Cuộc sống hoàn toàn không diễn ra theo kiểu đậm đặc, các sự kiện của một đời người hiếm khi chồng chất, và nói chung, cuộc đời trôi đi vu vơ, bình thản, tẻ nhạt hơn nhiều. Làm gì có số phận nào được mở đầu, phát triển và kết thúc chu đáo như trong văn chương, làm gì có tình thế điển hình, đẩy người ta đến các quyết định vượt tầm nhân thế, làm gì có các trạng thái tâm lý mấp mé bờ vực hay chót vót đỉnh cao, và nhất là làm gì có sự hội tụ đầy run rủi của các nhân vật, nhân vật nào cũng đại diện cho một cái gì như vậy. Độc giả chân thành của chúng ta cứ thế mà chờ đợi” (Phạm Thị Hoài - Một truyện cổ điển).
Cố ý xóa bỏ dấu hiệu nhận biết trong tái tạo hình tượng nhân vật cũng là đặc điểm nổi bật trong thi pháp truyện ngắn của nhà văn này. Tác phẩm của ông thường gây ấn tượng bởi những cái tên không ra tên. Nhan nhản trong truyện ngắn Hồ Anh Thái là hàng trăm nhân vật không tên, không tuổi, không nguồn cội. Tác giả làm “giấy khai sinh” cho họ bằng nhiều hình thức: gắn với nghề nghiệp, địa vị, chức tước: ông giám đốc, võ sư, ông sử, bà viện phó, gã chuyên viên, ông viện trưởng, chị nhà văn, ông Việt kiều, chàng thư ký tòa soạn, ông tổng biên tập, họa sĩ… Vật chất hóa tên gọi con người: “Người yêu được trả chín triệu. Hai cô bạn, một cô ba triệu, một cô hai triệu. Cả ba cô sẽ trở thành những diễn viên nổi tiếng. Ta chẳng nên gọi tên thật của họ làm gì. Cứ đơn giản gọi họ là Chín Triệu, Ba Triệu, Hai Triệu, mặc dù dùng tiền nong để đặt tên nhân vật đâu có gì hay” (Chín Triệu, Ba Triệu, Hai Triệu và Bóng Rổ). Nhân vật đôi lúc chỉ được xác định bằng hành động, dáng dấp, thói quen, dung mạo: thằng Rú, thằng Phập, thằng Bạo, Cá Sấu 1, Cá Sấu 2… Cách số hóa, ký hiệu hóa nhân vật cũng thường xuyên xuất hiện: ông Số Một, bà Số Hai, cô Số Ba, Số Bốn (Tờ khai Visa), cô Nhất, cô Nhị, cô Tam, cô Tứ (Bến Ôsin), ông A, bà B, chú C (Lọt sàng xuống nia), Trạng 1, Trạng 2, Trạng 3, Trạng 4, Trạng 5 (Tin thật lòng)… Bằng những cách ấy, các nhân vật bị xóa nhòe lai lịch. Họ xuất hiện đột ngột, không xuất xứ, hệt như bị vô tình ném ra giữa cuộc đời - những thân phận vô danh trong vòng quay bất tận của cuộc sống. Cách định danh như thế làm cho con người có nguy cơ bị hủy hoại, thủ tiêu bản sắc cá nhân, đánh mất quan hệ với đồng loại – nhân tố cốt lõi làm nên chân giá trị của mỗi cá thể như quan niệm về thế giới và con người của văn chương truyền thống. Với thủ pháp này, người viết buộc người đọc tiếp xúc với hình tượng bằng điểm nhìn từ phía bên ngoài. Nhân vật dường như chỉ là cái bóng của hiện thực, là những khuôn mặt tượng trưng cho một loại người trong xã hội: vô lương tâm, vô tình, bàng quan, vật dục, lố bịch, hợm hĩnh… Ở họ luôn tiềm tàng nỗi cô đơn, lạc loài, tâm trạng hoài nghi trước cuộc sống, mất khả năng giao tiếp, khó hòa hợp với thế giới xung quanh.
Vô nghĩa và trống rỗng - những trạng thái tâm hồn thường thấy ở văn học hậu hiện đại – cũng được thể hiện khá rõ qua các nhân vật mang đậm tính nghịch dị (grotesque) trong truyện ngắn Hồ Anh Thái. Nhân vật không có chiều dài vật chất, thực thể mà chỉ giống như những giọng nói, những hình dung, những biểu tượng, là những đối tượng siêu thực, ít có khả năng hiện hữu và hành động không thể nắm bắt, không thể giải thích bằng lý trí thông thường. Ông Thiển trong Chim anh chim em có những hành vi lập dị, thậm chí quái đản với ham muốn thủ dâm tư tưởng: “Trong tưởng tượng, ông lưỡi vờn răng ước ao vờn vã sấp ngửa với đám đàn bà, con gái trong phòng. Ông mơ ông ngủ với suốt lượt, từ bà phó tiến sĩ mua bằng trong nước sắp về hưu đến cô sinh viên Tổng hợp năm cuối đang thực tập. Từ cô đánh máy bàn tay búp măng đến cô tạp vụ thay giấy vệ sinh trong toilet cũng tay búp măng. Cơm nguội cơm sốt, hạt mảy hạt tấm ông xơi hết”. Tác giả đã chú ý bơm phồng một vài nét hiện thực, biến nó thành một tồn tại bất bình thường, một sự lộ liễu quá mức hình dung sẵn có về đối tượng. Chính từ những nhân vật nghịch dị này, nhà văn đưa chúng ta vào những phạm vi hoạt động xã hội cũng đầy những quái trạng. Các tình huống đó tạo ra những ấn tượng mạnh mẽ về một đời sống lệch chuẩn, thậm chí mất chuẩn: những chân giá trị và ngụy giá trị xâm thực, chồng chéo, che phủ lẫn nhau, người ta không có cách nào phân biệt rạch ròi. Thường kết thúc bằng những sự thật trớ trêu, ê chề, truyện ngắn của Hồ Anh Thái, do vậy, thấm đẫm tâm trạng hoài nghi tồn tại. Điều này đã đưa sáng tác của tác giả xích lại gần với quan niệm hiện sinh - hậu hiện đại.
Từ phương thức khắc chạm hệ thống hình tượng nhân vật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái, có thể nói, trên hành trình tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống, sự vong thân, vong bản của con người thời kim tiền, kỹ trị là nỗi ám ảnh lớn nhất đối với nghệ sĩ này. Những yếu tố hoang đường, phi lý giúp cho trí tưởng tượng của nhà văn và của người đọc chắp cánh bay xa. Đây là liều vắc xin hữu hiệu để đặc trị bệnh chai sạn của tâm hồn con người trong sự phát triển, đổi thay chóng mặt của đời sống đương đại đồng thời cũng đặt ra những câu hỏi lớn về ý nghĩa thật sự của tồn tại, của thang bậc giá trị xã hội, nhân sinh.
3. Ngôn từ nghệ thuật – hoàn cảnh hóa và giễu nhại
Ý thức nổi loạn, tung phá, không chịu đóng gông vào một chuẩn mực nào của ngôn ngữ đã trở thành lực đẩy giúp Hồ Anh Thái tái tạo những hình tượng nghệ thuật mà không phải mọi công chúng đều có thể đọc, hiểu và đồng cảm, nhất là đối với “những ai quen đóng chặt cửa, những ai chưa quen gió máy, hoặc ít được thấy những vùng không gian thoáng đãng”(3) thì càng dễ dị ứng. Ở tác giả này, văn bản nghệ thuật trở thành một mê trận ngôn từ với những đường gấp khúc, dích dắc không thể dễ dàng tìm ra mắt xích khởi nguyên.
Thường gặp nhất trong kỹ thuật dụng ngôn của nhà văn là cách thức hoàn cảnh hóa ngôn ngữ văn học. Những sinh ngữ được tác giả khai thác theo chiều kích mới không còn tuân theo chuẩn từ điển mà gắn chặt với bối cảnh sinh ra chúng; một khi tách khỏi ngữ cảnh, chúng trở nên vô nghĩa và không thể giải thích. Đứng trước thực trạng xã hội bị khoa học hóa, công nghệ hóa, vi tính hóa, nhu cầu đối thoại trực tiếp dường như giảm sút đến mức tối thiểu, con người giao tiếp với nhau thông qua những máy móc trung gian. Đó là cơ sở hình thành một “hố thẳm” ngày càng nới rộng chiều kích giữa các cá thể trong cộng đồng – một thứ a xít có nguy cơ hủy hoại cuộc sống tinh thần của con người. Trong Nham!, tác giả đã cho thấy sự hiện diện của ngôn ngữ mạng đã phần nào thủ tiêu vẻ đẹp, sự trong sáng của tiếng Việt và cũng thiêu trụi bản chất của sự thật sau những con chữ vô âm sắc, vô tình điệu: “Lao Viet Nam nhan tin bang dien thoai di dong, dai loai: anh dai loan oi, anh ra cho lon mua buoi cho em an, an xong roi mang xe deo em cho vui nhe”; “Noi that voi em, tieng Viet khong co dau chi con la cai xac khong hon. That bat tien! Thu tieng giau va dep ay gan nhu bi sat thuong khi dem viet ra khong co danh dau nhu the nay”. Từ bề sâu con chữ vang vọng lời cảnh tỉnh khẩn thiết của người viết: Ngôn ngữ - kết tinh văn hóa cao nhất của loài người, niềm tự hào của mỗi dân tộc – đang đứng trước nguy cơ bị hủy diệt bởi mặt trái của sự phát triển khoa học kỹ thuật.
Cũng như văn chương hậu hiện đại, trong truyện ngắn của mình, Hồ Anh Thái không hề che giấu khát vọng tạo sinh một trật tự ngôn ngữ mới, trong đó tất cả mọi trò chơi ngôn ngữ, kể cả ngộ luận (paralogie), đều có quyền hiện diện. Điều này thể hiện rõ nhất ở hệ thống các thuật ngữ thời hiện đại được nhà văn khai thác và đưa vào tác phẩm: “nát một đời hoa”, “lụn ba đời chuối”, “gã tráng men”, “gã ăn ốc đổ vỏ”, “lực điền tối dạ”, “học giả yếu tim”, “ám mùi hệ tiêu hóa”, “mốt đảo ngói”,... Cách thức sử dụng ngôn ngữ lệch chuẩn theo kiểu tính từ giữ vai trò của động từ, danh từ riêng lại đảm nhận vị thế tính từ, động từ cũng xuất hiện với tần số cao: “Bảo với chúng nó nhá, chúng nó cặp nhiệt độ nhau thì phải kiếm chỗ cho bất khuất, đừng có Nghĩa Lộ quá trước mắt bà, bà Lũng Cú lên, bà thịt băm cho mấy nhát thì anh ả đứt phựt dây đàn” (Trại cá sấu); “Anh không thích bạo liệt và gạo cội thì cứ dịu dàng xe chỉ luồn kim” (Vẫn tin vào chuyện thần tiên),… Những hình thức ngôn ngữ này mang đầy đủ tính chất của một xã hội thô nhám, bề bộn. Phần lớn ngôn từ truyện ngắn Hồ Anh Thái tồn tại ở dạng song kết và chuyển hóa linh hoạt giữa hai dạng nói và viết. Hệ thống ngôn ngữ chuẩn mực không còn phát huy tác dụng tuyệt đối mà xen lẫn vào đó là ngôn ngữ thông tục, suồng sã, những biệt ngữ của thời kinh tế thị trường… Điều này góp phần hé lộ sự bất đồng, đứt gãy, thậm chí khủng hoảng của ngôn ngữ trước thực tại.
Hình thức giễu nhại - một trong những đặc trưng nổi bật của phong cách sáng tác hậu hiện đại - đang càng ngày càng phổ biến trong đời sống văn học Việt Nam thời đổi mới. Lắng nghe kỹ, người đọc sẽ thấy, mỗi truyện ngắn của Hồ Anh Thái đều ít nhiều vang lên âm giọng này. Bằng cách ấy, nhà văn công khai bày tỏ thái độ của mình đối với sự rối ren, phi lý, bất công trong cuộc sống. Phát hiện rất nhanh nhạy cái lố bịch trong thực tại, tác giả đã khai thác đến cùng phương diện gây cười của chúng để đưa vào tuyến vận động của cốt truyện. Châm biếm, mỉa mai, trào lộng, hài hước là những nhân tố tạo nên sắc thái giễu nhại trong truyện ngắn của ông. Hầu như toàn bộ kinh nghiệm cọ xát của nhà văn với ngôn ngữ đời sống thực tế đều được huy động: lối nói nhại, nói lái, tiếng lóng… thường xuyên hiện diện với tất cả nồng độ bụi bặm phố phường. Sức phê phán của chúng vừa có tính phủ định, công phá mạnh mẽ đối với cái xấu xa, lỗi thời vừa có ý nghĩa khẳng định, xây mới. Dám nhìn thẳng vào những cái - hài - đời với đầy những trật khớp, vênh lệch của cuộc sống thời tiền và hậu đổi mới rồi thể hiện nó bằng một thứ ngôn ngữ tương xứng để tự cười và chọc cười thiên hạ là một sự dũng cảm, một hướng đi gập ghềnh nhưng hữu dụng, cấp thiết; và chính phương diện này đã bộc lộ rõ sở trường, phong cách độc đáo và tạo ra cái gọi là “cảm quan hậu hiện đại” trong tác phẩm của ông.
Ngôn ngữ dung tục xuất hiện như là sự “nhại” đến tận cùng ngôn ngữ đời sống. Dạng thức này thường gắn liền với việc tố cáo, đả kích, phủ định thói hư tật xấu của thế thái nhân tình giữa thời buổi những thang bậc giá trị đang thay đổi. Đó là những dục vọng vô độ trong sự đồng lõa của môi trường văn hóa xuống cấp, thói học đòi, khoe mẽ: giáo sư viết lịch sử nước Mỹ thì chưa tới Mỹ một lần, ngoại ngữ cũng mù tịt, lại còn mắc căn bệnh ăn cắp vặt: “Cái ly pha lê theo ông giáo sư về làm con nuôi. Bộ ly tan đàn chỉ còn năm” (Phòng khách); những thói rởm đời của giới văn nghệ sĩ: “Ca sĩ lạm dụng luyến láy, hát một nốt thành bảy nốt, hát theo lối rất mất vệ sinh môi trường Anh Trương Chi anh đừng đi anh đừng đi í ì…ị” (Trại cá sấu); “Nàng đi tắt qua thơ ca nước ngoài, dịch thơ Pháp thành lục bát không vần, thơ lãng mạn bị dịch thành câu Giấc mộng kê vàng sùng sục đồng quê… Thơ dịch gì mà miêu tả cảnh đau bụng đi đồng ban đêm. Đấy thôi, những là sôi sùng sục, những là vàng khè, những là gió đồng nổi lên” (Lọt sàng xuống nia). Sự giễu nhại tìm đến tận cùng những cái phi lý, vô nghĩa, ngớ ngẩn của hiện thực xã hội. Văn bản tác phẩm, vì thế, dường như được tạo nên nhờ những chồng xếp, ghép nối của những cái vụn vỡ thật – giả, chỗ nào cũng có thể bắt gặp hiện tượng đứt mạch, gãy mạch của lôgic ngữ nghĩa, kết cấu truyện hóa thành kết cấu của tùy bút, tản văn.
Thiên về tạo hình và tạo động tính, ngôn ngữ truyện ngắn Hồ Anh Thái có sức nặng bởi lối miêu tả bạo liệt về cái phi lý tồn tại trong cuộc sống, lộ rõ dục tính tầm thường của con người: “Đấy, chính là gã. To cao, mặt to, chân tay to. Một thứ trẻ con tồ tồ tẹt tẹt, lớn xác 1 mét 82 nhưng đầu óc vĩnh viễn là của một thằng phụ hồ mất dạy mười bảy tuổi” và “gã nổi danh hơn ở viện khi tự rêu rao mình là một con đực hoàn hảo… Gã bô bô cả trăm phần trăm chị em viện sĩ đã qua tay gã. Cô nào đanh đá cong cớn chống nạnh chửi gã làm mất danh dự, gã xông tới tát luôn” (Sân bay). Lối sống giả dối kiểu “rắn giả lươn” cũng được người viết dùng sức mạnh của trò diễn ngôn từ phanh phui: “Đám viện sĩ hàn lâm có mặt vợ xuýt xoa khen chuyện chồng, có mặt chồng tấm tắc đề cao vợ. Không có cả vợ cả chồng, quay ngoắt, chỉ thương cho thằng ấy sống với con trăm thằng ấy mà mù dở, sờ sờ trước mắt chả trông thấy gì” (Sân bay). Để thúc đẩy sự vận động liền mạch của diễn ngôn, đôi lúc Hồ Anh Thái cũng không ngần ngại “lắp ghép” và thổi hồn cho ngôn ngữ dân gian hiện đại: “càng già càng dẻo càng dai, bế cháu kêu nặng cõng trai trèo tường”, “đào mỏ sẽ chết vì sập hầm”, “trẻ không xông pha già ân hận”… Việc làm ấy cũng như một chất phụ gia, một sự kích thích để chạm khắc thực trạng xô bồ của xã hội, những bấp bênh, vô thường của đời sống, sự hồ nghi tồn tại - những loại hình tâm trạng làm nên cảm quan của thời đại mới.
Giọng giễu nhại, bỡn cợt vì thế trở thành yếu tố thẩm mỹ nổi bật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái, thành phương tiện mổ xẻ những ung nhọt, quái trạng của xã hội. Từ cuộc sống thường nhật của giới công chức, giới khoa học, đến lối sống buông thả của lớp văn nghệ sĩ... tất cả đều bị tác giả lật tẩy qua chất giọng “tưng tửng” đặc biệt này. Các câu chuyện đều được kể lại từ ngôi thứ ba số ít với sắc thái hoài nghi, tra vấn trong điểm nhìn nghệ thuật. Với lối trần thuật hỗn độn, diễn ngôn đứt đoạn cùng thủ pháp cắt mảnh hiện thực, lắp ghép ngôn từ, Hồ Anh Thái đã tái hiện một thế giới đánh mất ý nghĩa và trật tự. Phá vỡ những gì đang bền vững như một xác tín trong nhận thức, tâm cảm con người hiện đại, người viết, bằng thuật phù phép câu chữ, đã dựng lên một thế giới đa phương, nhiều chiều trong một bầu không khí bất tín đầy ma thuật. Tính trào lộng, suồng sã hết nước các sự kiện, các chi tiết được kể lại trong truyện là một cách tiếp xúc với thế giới không hoàn kết hôm nay.
* *
*
Những gì trình bày ở trên cho thấy rõ sự thể hiện cũng như hiệu ứng thẩm mỹ của hậu hiện đại trong truyện ngắn Hồ Anh Thái. Thể hiện rõ nhất của nhận định này, theo chúng tôi, là “tham vọng thực hiện được ước mơ bao đời của các nhà văn: kết hợp được tính bình dân, dân chủ với tính tinh tuyển, “bác học” của văn chương”(4). Cùng với tiểu thuyết, mảng truyện ngắn cũng đã bộc lộ khá thường trực ý thức, nỗ lực tái tạo hiện thực dưới góc nhìn mới, khác lạ, lệch dòng truyền thống ở nhà văn luôn trăn trở với sự tồn sinh của nhân thế, khôn nguôi tìm kiếm câu trả lời cho bài toán hóc búa về sự hòa giải giữa quá khứ truyền thống, ổn định và hiện tại hiện đại, không ngừng biến chuyển.
Trên tinh thần đó, không quá võ đoán khi cho rằng, Hồ Anh Thái là một gương mặt tiêu biểu đã góp công cho sự tìm tòi, thể nghiệm, tạo dựng một thứ văn học mới có khả năng lật trở, soi chiếu nhiều phương diện của thực tại hôm nay. Nhân vật trong tác phẩm của ông thường ở trong tâm thế phòng thủ trước xã hội và chính bản thân mình, vì thế mà trở nên cô đơn giữa đồng loại, không thể nhận ra giá trị của cuộc sống. Đó là cái chết về tinh thần của con người. Mỗi truyện ngắn của nhà văn, do đó, như một hồi chuông đang dóng diết cảnh tỉnh cho tương lai nhân loại. Với tư cách là một người tiên phong trong việc tận dụng ưu thế của văn học hậu hiện đại để tạo ra sự mới mẻ, đột phá cho văn xuôi Việt Nam đương đại, hiện tượng Hồ Anh Thái và những nhà văn cùng chí hướng với ông cần phải được nhìn nhận trên tinh thần cởi mở, dân chủ; có như vậy mới tạo được sự đồng thuận trong quá trình tiếp biến văn học thế giới để định hướng, điều chỉnh sự vận động, phát triển hợp lý của văn học nước nhà.
_______________________________________________
1. Hồ Anh Thái: Tự sự 265 ngày, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2001.
2. Hồ Anh Thái: Sắp đặt và diễn, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2005. Các trích dẫn tác phẩm đều từ hai tập truyện ngắn này.
3. Phong Lê: 20 năm sự nghiệp đổi mới và những vấn đề hôm nay của lý luận - phê bình văn học, Nghiên cứu văn học, Số 4 - 2006, trang 29 - 41
4. Đào Tuấn Ảnh: Quan niệm thực tại và con người trong văn học hậu hiện đại, Nghiên cứu văn học, Số 8 - 2005, trang 43 - 59
____________________________________________________________
Thứ Sáu, 16 tháng 7, 2010
Bãi tắm
Truyện ngắn của Hồ Anh Thái
(Tiếp theo và hết)
Đến buổi chiều thứ ba thì hội xây nhà có nguy cơ tan rã. Củ tam thất băm bổ chạy tới lôi xềnh xệch hai thằng con về. Chị ta nước mắt ngắn nước mắt dài đòi đi xe khách về Hà Nội ngay. Bà Bạch Cốt Tinh mới thay được năm cái áo tắm trong tổng số sáu áo, bà còn tiếc rẻ, bà tỉ tê mãi bà con gái mới nằm vật ra không dọa về nữa. Nhưng không cho hai đứa trẻ đi xây nhà ban ngày hát hò thiếu nhi buổi tối. Giờ ăn thì không ăn với cả đoàn. Không khéo chỉ một tay con mụ này mà công của công đoàn thành công cốc. Chánh phó công đoàn họp với cô Thỏ Lon, sau rốt cả ba người đến gặp củ tam thất. Người lớn giận dỗi gì nhau chúng tôi không cần biết, nhưng nên nhớ trong đoàn còn có trẻ con, chuyến đi này chủ yếu là cho trẻ con.
Bấy giờ củ tam thất mới sụt sùi kể chuyện. Chiều nay ở bãi tắm, gã thợ ảnh đem ảnh gã chụp buổi sáng ra trả. Bà Bạch Cốt Tinh mừng rú, ảnh nào bà cũng đẹp hơn trẻ hơn. Củ tam thất thì càng xem ảnh càng tím tái cả người, chả còn chỗ mà tím tái hơn được nữa. ảnh nào của chị ta cũng bị chụp hầu như ngược sáng, chỉ thấy một cái rễ cây bụ bẫm đen đen trên nền biển xanh lơ. Chị ta uất quá, dứt khoát không lấy ảnh, dứt khoát không trả tiền, mồm cứ nhai nhải ảnh xấu quá, xấu quá. Gã thợ ảnh uất hơn, ở thế cố cùng, gã quàng quạc: mặt như mặt chó mà còn đòi ảnh đẹp. Câu này gã đã thành công rất nhiều lần với những cô gái dễ ngượng. Nhưng lần này không may cho gã, Nghiên cứu viên Hai không tắm nhưng đang loanh quanh gần đó, chen qua đám đông hiếu kỳ để xem thì hóa ra vợ mình. Một dịp tốt cho anh ta chứng tỏ tinh thần hiệp sĩ thấy sự bất bằng chẳng tha. Anh ta túm cổ áo gã thợ ảnh, chỉ dọa thôi, nhưng gã cứ leo lẻo, tao thuộc diện chính sách, tao bao nhiêu năm hy sinh xương máu, đừng động vào tao, tao mà lên cơn thì mày bỏ mẹ. Gã làm luôn. Gã trợn mắt lăn đùng ra cát, giẫy giẫy mấy cái, nhưng cái mồm khô khốc không sao sùi được tí bọt mép. Thấy không lên cơn động kinh được, gã lồm cồm bò dậy, đánh một đòn khác hẳn. Đừng tưởng tao đi chụp ảnh tao không biết gì, chúng mày xua vợ con ra biển, giả vờ lảng vảng ở gần rồi biến mất, chúng mày đi thuê phòng với mấy con mắt xanh mỏ đỏ một vài tiếng rồi quay lại. Cứ quần soóc cây dừa mà dễ tụt.
Phút chốc người ta quên bẵng gã thợ ảnh. Người ta tính ra có đến sáu mươi phần trăm đàn ông trên bãi tắm mặc quần soóc cây dừa hoặc kiểu dây chun như soóc cây dừa. Củ tam thất rú lên khóc khi nhìn thấy rành rành hình vẽ cây dừa trên cái quần chồng đang mặc. Lại nhớ anh ta hầu như bỏ mặc cho vợ đi tắm với mẹ vợ. Ba chị khác trong đoàn có chồng mặc cùng một loại quần soóc thì điềm đạm hơn, không khóc nấc lên, không giằng con về, không bỏ cơm chung với cả đoàn, nhưng sáng hôm sau ra tắm gỡ lần cuối thì cứ bắt chồng kè kè cầm tay cùng nhảy giỡn sóng. Nhảy tưng tưng mà mặt cứ nặng như đeo đá cho đến buổi chiều lên xe về Hà Nội.
*
* *
Trên xe trở về chả ai nói gì với ai. Sáu lần tắm đã lấy hết sinh lực hào hứng. Bốn ngày tắm chung chơi chung ăn chung đã chán phè. Hiểu nhau hơn là nhờ những chuyến đi. Ngán nhau hơn cũng là vì những chuyến đi.
Các bà các chị dứt khoát đòi đóng cửa sổ bật điều hòa, không nhượng bộ như lượt đi nữa. Họ hiểu chỉ một mình cô Thỏ Lon chịu trận. Như thể bằng cách ấy họ trả đũa công đoàn bày ra chuyến đi này. Làm như công đoàn chỉ là cô Thỏ Lon. Làm như mọi chuyện rắc rối là từ cô Thỏ Lon mà ra cả.
Cô Thỏ Lon nôn ra một đống túi ni lông. Mắt lờ đờ, mí mắt sưng húp, tóc tai rũ rượi, cô lả lướt ngoẹo đầu nhắm mắt cho quên nỗi đường còn dài. Mấy đứa trẻ con bây giờ quay sang mời cô nước vuốt tóc cho cô, bị mẹ chúng lườm nguýt. Thằng bé con nhà Nghiên cứu viên Hai nhìn ngực áo xộc xệch của cô Thỏ Lon rồi ngang nhiên tuyên bố: con đã sờ ti cô Thỏ Lon rồi. Thằng anh hét lên: mày im đi. Thằng em cáu kỉnh: Hai lần cơ. Em nói điêu em chết. Cô ấy cho mà. Củ tam thất giật thằng bé ngã ngửa sang ghế mình, phát vào đít nó mấy cái, hấm hứ lườm sang chồng: con với cái, rõ rau nào sâu ấy.
Cả cháu cả cô đều khóc. Cháu khóc ré lên. Cô khóc âm thầm trong cơn say xe.
Bỗng rầm một cái. Chiếc xe đâm phải cái gì đó. Một vật cứng quật xuống nền đường, còn chiếc xe lạng sang bên phải, cắt xiên qua mép đường rồi mất thăng bằng. Rất từ từ nó nghiêng mình đặt sườn bên phải xuống bờ ruộng, lại đang đà lăn thêm cho nóc xe áp hẳn lên mặt ruộng, bốn bánh chổng lên trời.
Hai mươi bốn con người bị lắc xúc xắc trong xe. Sây sát nhẹ. Sưng phồng rất nhẹ. Đập vỡ cửa kính chui ra được hết. Chỉ có mỗi củ tam thất bị khung ghế đè lên chân cứ nằm kẹt trong xe mà gào. Chết tôi rồi. Cứu tôi với. Anh ơi anh đừng lấy vợ mới, anh nuôi lấy hai con. Nghiên cứu viên Hai mặt tái mét, chạy quẩn chạy quanh bên ngoài khung xe. Cứu vợ tôi. Xăng đang chảy kia kìa. Xe sắp nổ rồi.
Kêu lên thùng xăng sắp nổ thì rõ ràng anh ta thường xuyên nghiên cứu phim Mỹ. Số hành khách vừa chui ra cộng với đám thanh niên bên đường nhảy xuống ruộng, nâng cái khung xe lên từng tí một. Củ tam thất rút được cái chân ra, tưởng mất chân hóa ra chỉ bị kẹt phần mềm. Chị ta vồ lấy chồng, ôm chặt lấy chồng mà khóc, nhất định không bỏ ra nữa. Trong lúc ấy bà Bạch Cốt Tinh đã như một nữ tướng sắp xếp đám hành khách đứng thành một dây chuyển hết số hành lý từ trong xe lên mặt đường. Cô Thỏ Lon thì cứ ra khỏi xe là tỉnh, cô dẫn hết lũ trẻ con vào ngồi nhờ một căn nhà bên đường, cô cháu vạch áo nhau tìm xem có thương tích gì không.
Gần hai giờ sau, cả đoàn đã ngồi trên một chiếc xe khách chạy tiếp về Hà Nội. Ông chủ tịch thị trấn đã xuống tận hiện trường, ông điều ngay chiếc xe khách đường dài này đưa đoàn về. Xe của đoàn vẫn nằm dưới ruộng chờ cẩu lên. Lái xe còn phải làm việc với cảnh sát giao thông. Ông lái mới mặt mũi hằm hằm, vừa lái vừa oang oang độc thoại: cáu nắm rồi đây. Hận đời nắm rồi đây. Vừa mới ở Đà Nẵng ra tưởng được ngủ một giấc thì cái não cha căng chú kiết dựng ngay dậy.
Ông ta vừa chạy đường dài về. Lại đang buồn ngủ. Cả xe thế là im re. Nhưng chỉ im được một lúc. Hóa ra xe mình đâm phải một thằng xe ôm. Nó từ đằng sau vượt lên, cứ nhùng nhằng mãi trước mũi xe mình, không chịu nhường đường. Rồi đáng lẽ tạt vào bên phải để nhường thì bất đồ nó tạt sang trái để sang đường. Xe mình đâm phải đít xe nó, ông lái tạt vào trong để cứu mạng nó nên mới lăn xuống ruộng đấy. Nghe đâu thằng ấy cũng là người thị trấn, vợ nó mới chết bệnh, thấy cái xe mấy chục người xuống ruộng, nó càng hoảng loạn, bỏ cả xe máy đấy mà chạy trốn. Mà tay xế cũng lạ, đổi hai mươi tư nhân mạng trên xe lấy một thằng xe ôm.
Chuyện trò cứ thế râm ran cả lên. Cứ như có phép thần, chẳng ai bị mất cái chân cái tay. Bấy giờ một chị mới nghĩ ra. Có cái Đền Cô thiêng lắm, hôm đi cả xe mình đều ngủ mê mệt lúc đi qua đền, không ai vào trình cô, chắc cô phạt. Củ tam thất vội vàng mô Phật rồi bảo chồng, thôi đúng rồi, lát nữa tới Đền Cô, chúng mình mua hương hoa rồi anh lên với em, chúng mình xin cô tha cho, cô giơ cao đánh sẽ. Thảo nào.
__________________________________________________________
(Tiếp theo và hết)
Đến buổi chiều thứ ba thì hội xây nhà có nguy cơ tan rã. Củ tam thất băm bổ chạy tới lôi xềnh xệch hai thằng con về. Chị ta nước mắt ngắn nước mắt dài đòi đi xe khách về Hà Nội ngay. Bà Bạch Cốt Tinh mới thay được năm cái áo tắm trong tổng số sáu áo, bà còn tiếc rẻ, bà tỉ tê mãi bà con gái mới nằm vật ra không dọa về nữa. Nhưng không cho hai đứa trẻ đi xây nhà ban ngày hát hò thiếu nhi buổi tối. Giờ ăn thì không ăn với cả đoàn. Không khéo chỉ một tay con mụ này mà công của công đoàn thành công cốc. Chánh phó công đoàn họp với cô Thỏ Lon, sau rốt cả ba người đến gặp củ tam thất. Người lớn giận dỗi gì nhau chúng tôi không cần biết, nhưng nên nhớ trong đoàn còn có trẻ con, chuyến đi này chủ yếu là cho trẻ con.
Bấy giờ củ tam thất mới sụt sùi kể chuyện. Chiều nay ở bãi tắm, gã thợ ảnh đem ảnh gã chụp buổi sáng ra trả. Bà Bạch Cốt Tinh mừng rú, ảnh nào bà cũng đẹp hơn trẻ hơn. Củ tam thất thì càng xem ảnh càng tím tái cả người, chả còn chỗ mà tím tái hơn được nữa. ảnh nào của chị ta cũng bị chụp hầu như ngược sáng, chỉ thấy một cái rễ cây bụ bẫm đen đen trên nền biển xanh lơ. Chị ta uất quá, dứt khoát không lấy ảnh, dứt khoát không trả tiền, mồm cứ nhai nhải ảnh xấu quá, xấu quá. Gã thợ ảnh uất hơn, ở thế cố cùng, gã quàng quạc: mặt như mặt chó mà còn đòi ảnh đẹp. Câu này gã đã thành công rất nhiều lần với những cô gái dễ ngượng. Nhưng lần này không may cho gã, Nghiên cứu viên Hai không tắm nhưng đang loanh quanh gần đó, chen qua đám đông hiếu kỳ để xem thì hóa ra vợ mình. Một dịp tốt cho anh ta chứng tỏ tinh thần hiệp sĩ thấy sự bất bằng chẳng tha. Anh ta túm cổ áo gã thợ ảnh, chỉ dọa thôi, nhưng gã cứ leo lẻo, tao thuộc diện chính sách, tao bao nhiêu năm hy sinh xương máu, đừng động vào tao, tao mà lên cơn thì mày bỏ mẹ. Gã làm luôn. Gã trợn mắt lăn đùng ra cát, giẫy giẫy mấy cái, nhưng cái mồm khô khốc không sao sùi được tí bọt mép. Thấy không lên cơn động kinh được, gã lồm cồm bò dậy, đánh một đòn khác hẳn. Đừng tưởng tao đi chụp ảnh tao không biết gì, chúng mày xua vợ con ra biển, giả vờ lảng vảng ở gần rồi biến mất, chúng mày đi thuê phòng với mấy con mắt xanh mỏ đỏ một vài tiếng rồi quay lại. Cứ quần soóc cây dừa mà dễ tụt.
Phút chốc người ta quên bẵng gã thợ ảnh. Người ta tính ra có đến sáu mươi phần trăm đàn ông trên bãi tắm mặc quần soóc cây dừa hoặc kiểu dây chun như soóc cây dừa. Củ tam thất rú lên khóc khi nhìn thấy rành rành hình vẽ cây dừa trên cái quần chồng đang mặc. Lại nhớ anh ta hầu như bỏ mặc cho vợ đi tắm với mẹ vợ. Ba chị khác trong đoàn có chồng mặc cùng một loại quần soóc thì điềm đạm hơn, không khóc nấc lên, không giằng con về, không bỏ cơm chung với cả đoàn, nhưng sáng hôm sau ra tắm gỡ lần cuối thì cứ bắt chồng kè kè cầm tay cùng nhảy giỡn sóng. Nhảy tưng tưng mà mặt cứ nặng như đeo đá cho đến buổi chiều lên xe về Hà Nội.
*
* *
Trên xe trở về chả ai nói gì với ai. Sáu lần tắm đã lấy hết sinh lực hào hứng. Bốn ngày tắm chung chơi chung ăn chung đã chán phè. Hiểu nhau hơn là nhờ những chuyến đi. Ngán nhau hơn cũng là vì những chuyến đi.
Các bà các chị dứt khoát đòi đóng cửa sổ bật điều hòa, không nhượng bộ như lượt đi nữa. Họ hiểu chỉ một mình cô Thỏ Lon chịu trận. Như thể bằng cách ấy họ trả đũa công đoàn bày ra chuyến đi này. Làm như công đoàn chỉ là cô Thỏ Lon. Làm như mọi chuyện rắc rối là từ cô Thỏ Lon mà ra cả.
Cô Thỏ Lon nôn ra một đống túi ni lông. Mắt lờ đờ, mí mắt sưng húp, tóc tai rũ rượi, cô lả lướt ngoẹo đầu nhắm mắt cho quên nỗi đường còn dài. Mấy đứa trẻ con bây giờ quay sang mời cô nước vuốt tóc cho cô, bị mẹ chúng lườm nguýt. Thằng bé con nhà Nghiên cứu viên Hai nhìn ngực áo xộc xệch của cô Thỏ Lon rồi ngang nhiên tuyên bố: con đã sờ ti cô Thỏ Lon rồi. Thằng anh hét lên: mày im đi. Thằng em cáu kỉnh: Hai lần cơ. Em nói điêu em chết. Cô ấy cho mà. Củ tam thất giật thằng bé ngã ngửa sang ghế mình, phát vào đít nó mấy cái, hấm hứ lườm sang chồng: con với cái, rõ rau nào sâu ấy.
Cả cháu cả cô đều khóc. Cháu khóc ré lên. Cô khóc âm thầm trong cơn say xe.
Bỗng rầm một cái. Chiếc xe đâm phải cái gì đó. Một vật cứng quật xuống nền đường, còn chiếc xe lạng sang bên phải, cắt xiên qua mép đường rồi mất thăng bằng. Rất từ từ nó nghiêng mình đặt sườn bên phải xuống bờ ruộng, lại đang đà lăn thêm cho nóc xe áp hẳn lên mặt ruộng, bốn bánh chổng lên trời.
Hai mươi bốn con người bị lắc xúc xắc trong xe. Sây sát nhẹ. Sưng phồng rất nhẹ. Đập vỡ cửa kính chui ra được hết. Chỉ có mỗi củ tam thất bị khung ghế đè lên chân cứ nằm kẹt trong xe mà gào. Chết tôi rồi. Cứu tôi với. Anh ơi anh đừng lấy vợ mới, anh nuôi lấy hai con. Nghiên cứu viên Hai mặt tái mét, chạy quẩn chạy quanh bên ngoài khung xe. Cứu vợ tôi. Xăng đang chảy kia kìa. Xe sắp nổ rồi.
Kêu lên thùng xăng sắp nổ thì rõ ràng anh ta thường xuyên nghiên cứu phim Mỹ. Số hành khách vừa chui ra cộng với đám thanh niên bên đường nhảy xuống ruộng, nâng cái khung xe lên từng tí một. Củ tam thất rút được cái chân ra, tưởng mất chân hóa ra chỉ bị kẹt phần mềm. Chị ta vồ lấy chồng, ôm chặt lấy chồng mà khóc, nhất định không bỏ ra nữa. Trong lúc ấy bà Bạch Cốt Tinh đã như một nữ tướng sắp xếp đám hành khách đứng thành một dây chuyển hết số hành lý từ trong xe lên mặt đường. Cô Thỏ Lon thì cứ ra khỏi xe là tỉnh, cô dẫn hết lũ trẻ con vào ngồi nhờ một căn nhà bên đường, cô cháu vạch áo nhau tìm xem có thương tích gì không.
Gần hai giờ sau, cả đoàn đã ngồi trên một chiếc xe khách chạy tiếp về Hà Nội. Ông chủ tịch thị trấn đã xuống tận hiện trường, ông điều ngay chiếc xe khách đường dài này đưa đoàn về. Xe của đoàn vẫn nằm dưới ruộng chờ cẩu lên. Lái xe còn phải làm việc với cảnh sát giao thông. Ông lái mới mặt mũi hằm hằm, vừa lái vừa oang oang độc thoại: cáu nắm rồi đây. Hận đời nắm rồi đây. Vừa mới ở Đà Nẵng ra tưởng được ngủ một giấc thì cái não cha căng chú kiết dựng ngay dậy.
Ông ta vừa chạy đường dài về. Lại đang buồn ngủ. Cả xe thế là im re. Nhưng chỉ im được một lúc. Hóa ra xe mình đâm phải một thằng xe ôm. Nó từ đằng sau vượt lên, cứ nhùng nhằng mãi trước mũi xe mình, không chịu nhường đường. Rồi đáng lẽ tạt vào bên phải để nhường thì bất đồ nó tạt sang trái để sang đường. Xe mình đâm phải đít xe nó, ông lái tạt vào trong để cứu mạng nó nên mới lăn xuống ruộng đấy. Nghe đâu thằng ấy cũng là người thị trấn, vợ nó mới chết bệnh, thấy cái xe mấy chục người xuống ruộng, nó càng hoảng loạn, bỏ cả xe máy đấy mà chạy trốn. Mà tay xế cũng lạ, đổi hai mươi tư nhân mạng trên xe lấy một thằng xe ôm.
Chuyện trò cứ thế râm ran cả lên. Cứ như có phép thần, chẳng ai bị mất cái chân cái tay. Bấy giờ một chị mới nghĩ ra. Có cái Đền Cô thiêng lắm, hôm đi cả xe mình đều ngủ mê mệt lúc đi qua đền, không ai vào trình cô, chắc cô phạt. Củ tam thất vội vàng mô Phật rồi bảo chồng, thôi đúng rồi, lát nữa tới Đền Cô, chúng mình mua hương hoa rồi anh lên với em, chúng mình xin cô tha cho, cô giơ cao đánh sẽ. Thảo nào.
__________________________________________________________
Thứ Tư, 14 tháng 7, 2010
Bãi tắm
Truyện ngắn của Hồ Anh Thái
Cô ngồi giữa. Xung quanh cô là lũ trẻ, con cái những người cùng cơ quan. Một lát sau thì lâu đài bằng cát ở giữa. Xung quanh là cô và lũ trẻ. Hì hục xây đắp bằng cát ẩm. Trên cát ẩm. Sóng biển ngấp nghé đe dọa xóa sạch thành quả của đám người ngây thơ. Cả cháu và cô sắp được bài triết học sơ khai đầu đời về lâu đài trên cát.
Cô đầu đời thật. Hai mươi hai tuổi vừa tốt nghiệp, cháu của một người quen của vợ của thủ trưởng của cơ quan, thủ trưởng cơ quan ở cái thế nhất thiết nên nhận. Con gái ngày nay không ai dạy nữ công gia chánh. Mỗi ngày một người trực phòng, chỉ việc đến sớm đun nước, pha trà cho cả phòng uống. Hôm nào phiên cô thì đến muộn, hồn nhiên: cháu ngủ quên. Hồn nhiên khác: cháu bị tắc đường. Hồn nhiên nữa, có đến sớm cũng không rửa chén đun nước: cháu không uống chè, báo người ta viết uống chè hại tim đấy các anh các chị các chú các bác ạ.
Đầu giờ buổi sáng, cô huỳnh huỵch đôi giầy bánh mì xách túi đến rồi ra đứng chắn trước lối ra vào cửa mở toang, tận dụng làn gió trời thổi vào qua hành lang và luồng gió điều hòa nhiệt độ thốc từ trong ra. Nghiên cứu viên Một cảm thán: chao ôi cơn gió cái. Nghiên cứu viên Hai bẻ vần: cô kia mặc lụa Hà Đông, đứng ra trước gió tôi trông rõ... rồi. Đến thế vẫn đứng nguyên trước cửa không hiểu gì. Hồn nhiên.
Khi cô vắng mặt trong phòng, nghiên cứu viên Hai gật gù, đúng là nhìn rất rõ, đùi đĩa tươm ra phết. Nghiên cứu viên Một vẫn cảm thán: nhưng mà hôi lách cực kỳ. Nghiên cứu viên Ba lúc này mới nhảy vào giữa cuộc hội thảo: ngày trước tớ cũng hôi lách, may mà tìm đúng thuốc. Cả phòng mười bốn người thì tám người buột miệng đồng thanh: thuốc gì? Chỉ một câu mà làm những tám người phải tự thú lúc bình minh.
Kết cục hội thảo người ta đi đến nghị quyết, từ nay mùi hành tây ủng ủ trong đống rác nhiệt đới trước những cổng chợ được mã hóa thành thỏ lon (thỏ lon = hôi lách). Chữ thỏ lon hợp với một cô gái hồn nhiên hơn.
Rồi cô Thỏ Lon được bầu vào công đoàn. Ở cơ quan nào khác được bầu vào công đoàn là niềm vinh quang. Cô Thỏ Lon được bầu ở đây là để rèn luyện lao động và rèn luyện tính hồn nhiên. Cô rèn luyện bằng cách cửu vạn cho ông chánh và chị phó công đoàn. Đi công tác đường xa với thủ trưởng, cô nôn ọe rũ rượi trong xe hơi. Đến nơi thì anh lái xe đẹp giai phải chạy vội đi thay quần áo vì bị cô nôn vào. Thủ trưởng thì phải mở cửa xe cho cô nhân viên, thủ trưởng phải đỡ cho nhân viên ra khỏi xe, thủ trưởng phải xách cặp xách dép cho nhân viên.
Thế rồi công đoàn tổ chức đi biển bốn ngày, đặc biệt khuyến khích đám mầm non trước khi vào năm học mới. Cô Thỏ Lon phản đối đi xe, nhưng không ai ủng hộ phương án của cô đi tàu hỏa. Đối lại hai mươi bốn con người trên xe phải thua mình cô chịu hít bụi đường xa vì cô đòi mở cửa sổ tắt điều hòa.
Đến bãi tắm cô Thỏ Lon mới lấy lại được sinh khí công đoàn. Cô giật bằng được hai đứa con của Nghiên cứu viên Hai khỏi tay mẹ và bà ngoại của chúng. Bà già mặc áo tắm hoa cúc, tóc bạc phơ như ma nữ đầu bạc đành thả hai đứa trẻ ra, chuyển sang dắt tay bà con gái như một củ tam thất lùn chạy xuống giỡn sóng. Cô Thỏ Lon rồng rắn toàn bộ sáu đứa trẻ đi xây lâu đài trên cát, vẫn chưa thôi lẩm bẩm ra đến đây mà vẫn nhà nào riêng nhà ấy thì tan cả công đoàn.
Nghiên cứu viên Hai nhìn theo vợ và mẹ vợ tâng tâng nhảy sóng, lại nhìn hai đứa con trong nhóm xây cát. Nháy mắt: cô đúng, ra biển mà cứ mỗi nhà một cụm thì ở nhà mà cụm cho xong, còn gì là tập thể. Anh ta nói vậy nhưng không xuống tắm, vẩn vơ trên bãi tắm đầy người. Quần soóc cây dừa.
*
* *
Quần soóc cây dừa ở bãi tắm là tiện nhất. Muốn tắm thì cứ thế mà nhúng, cần gì phải quần bơi. Không tắm thì cứ khô quần lang thang trên bãi biển. Rộng rãi mát mẻ, lại là quần chun dễ tụt. Chả khó khăn như quần soóc có cạp luồn dây lưng.
Cũng vẫn quần soóc cây dừa, Nghiên cứu viên Hai quay về nhà nghỉ nhập vào nhóm tá lả. Nhóm này ra biển chỉ để tá lả, tá lả thay cho tắm biển, tá lả đến mức cứ một tiếng lại đi đổ gạt tàn một lần. Văn hóa may rủi có tá lả là đỉnh cao của một chặng tiếp sức kể từ chắn, tiến lên, ba cây, cho đến bây giờ là tá lả. Văn hóa bình dân bây giờ có tá lả là hình thức giải trí khắp nơi nơi. Mấy ngày ở biển, đám công chức tá lả suốt ngày tá lả thâu đêm. Mười hai giờ đêm còn bị vợ mò sang gọi về đi ngủ, Nghiên cứu viên Hai mắt vẫn không rời quân bài: tạm ứng lúc trưa rồi, còn đòi gì nữa, về cho con nó ngủ đi. Vợ ngồi ám được hơn một tiếng không chịu nổi phải ngúng nguẩy bỏ về mách mẹ. Tất nhiên bà ma nữ đầu bạc, hay như ông con rể thường gọi là bà Bạch Cốt Tinh, cũng chỉ an ủi con gái đôi câu. Rồi bà lại chìm tiếp vào cơn mơ đang chụp ảnh trên bãi biển, chiếc áo tắm đã đổi sang màu hoa đào.
*
* *
Mỗi ngày tắm biển hai lần, hai ngày là bốn lần, cộng thêm hai lần của ngày đầu và ngày cuối, tổng cộng là sáu lần. Sáu lần bà Bạch Cốt Tinh thay sáu cái áo, sáu màu sáu đi dai khác nhau. Gã thợ ảnh bám theo bà ăn theo vào sáu lần áo tắm mười lăm kiểu ảnh. Gã cũng quần soóc cây dừa, áo phông Kiss Me đeo huy hiệu thương binh tróc sơn, gặp khách nào cũng bảo mình thuộc diện chính sách. Mấy bà bán quán thì bảo chính sách gì nó, nó có tiền sử động kinh, cả đời nó chẳng đi ra khỏi hiệu ảnh tầm nhìn xa trên mười kilômét, ảnh viện của nó ngay đằng sau cây dừa cụt ngọn kia kìa. ảnh viện của gã có hai cái phông. Một là đứng che nón nghiêng nghiêng bên cây liễu Bờ Hồ, xa xa có Tháp Rùa đền Ngọc Sơn cầu Thê Húc. Một nữa ngồi ghế xích đu trước tòa lâu đài cột đá trắng Hy Lạp. Bao giờ giơ máy lên gã cũng hét như đại đội trưởng thúc quân xông lên quyết tử. Bà Bạch Cốt Tinh cũng bị gã thúc như thế. Hân hoan đi. Mơ màng đi. Âm u đi. Rồi gã cũng chẳng thèm đếm xỉa đến tuổi tác của bà, gã hét như thể với những cặp tình nhân vừa là tình cuối vừa là tình đầu. Đằm thắm đi. Lả lơi đi. Lãng mạn đi. Bà con gái thấy mẹ rộn ràng quá cầm lòng không được cũng chạy tới đòi chụp. Chụp riêng hẳn hoi một mình củ tam thất. Chỉ có một kiểu chụp chung cho mẹ khỏi phật lòng. Mọi rắc rối bắt đầu từ mấy kiểu ảnh này.
*
* *
Cô Thỏ Lon và sáu đứa trẻ vẫn mải mê xây lâu đài trên cát. Trò chơi này cũng như đánh bạc, càng thua càng ham. Hôm sau ra bãi biển, thấy thành quả của mình đã bị sóng xóa sạch không còn một dấu vết, cô cháu lại hùng hục lao vào xây mới. Cô Thỏ Lon bắt đầu linh cảm rằng muốn được lòng công đoàn viên thì phải yêu con cái họ. Chuyến đi này của công đoàn mà tốt thì mới gây dựng được uy tín ban đầu cho cô.
Thằng con bé của Nghiên cứu viên Hai đang cắm những vỏ ốc trang trí cho lâu đài, bất chợt dừng tay. Nó mổ mổ con ốc giáo dài như một cái tẩu thuốc về phía ngực cô, thản nhiên đòi cho cháu sờ ti cô một cái. Thằng anh ngượng, mắng át, mày im đi. Thế là thằng bé sáu tuổi gào lên đòi sờ ti. Thằng anh đạp cho thằng em một cái, thanh minh, ngày nào cũng thế đấy, cứ năm giờ chiều là nó đòi sờ ti. Có hôm mẹ cháu bận, bà cháu đi đón thay, giữa đường nó cứ gào lên đòi, bà cháu cố đạp xe về nhà cho nhanh mà cũng chẳng được. Cuối cùng bà cháu đành phải xuống xe, che nón cho nó sờ nó mới thôi khóc. Thằng anh mới mười tuổi mà đã biết kể chuyện cho cô Thỏ Lon đỡ ngượng, khôn thế. Nhưng cô đỡ ngượng không có nghĩa là thằng em đỡ đòi. Nó dọa không chơi với cô nữa, nó sẽ bỏ đi tìm bà tìm mẹ để sờ. Nó không dọa, nó bỏ đi thật, chạy lao vào đám người chen chúc trên bãi. Cô Thỏ Lon phải chạy theo. Một lát sau hai cô cháu tung tăng trở lại. Cô Thỏ Lon thật khéo dỗ trẻ. Không tìm được bà và mẹ, nhưng thằng bé vui vẻ lắm.
(còn nữa)
___________________________________________
Cô ngồi giữa. Xung quanh cô là lũ trẻ, con cái những người cùng cơ quan. Một lát sau thì lâu đài bằng cát ở giữa. Xung quanh là cô và lũ trẻ. Hì hục xây đắp bằng cát ẩm. Trên cát ẩm. Sóng biển ngấp nghé đe dọa xóa sạch thành quả của đám người ngây thơ. Cả cháu và cô sắp được bài triết học sơ khai đầu đời về lâu đài trên cát.
Cô đầu đời thật. Hai mươi hai tuổi vừa tốt nghiệp, cháu của một người quen của vợ của thủ trưởng của cơ quan, thủ trưởng cơ quan ở cái thế nhất thiết nên nhận. Con gái ngày nay không ai dạy nữ công gia chánh. Mỗi ngày một người trực phòng, chỉ việc đến sớm đun nước, pha trà cho cả phòng uống. Hôm nào phiên cô thì đến muộn, hồn nhiên: cháu ngủ quên. Hồn nhiên khác: cháu bị tắc đường. Hồn nhiên nữa, có đến sớm cũng không rửa chén đun nước: cháu không uống chè, báo người ta viết uống chè hại tim đấy các anh các chị các chú các bác ạ.
Đầu giờ buổi sáng, cô huỳnh huỵch đôi giầy bánh mì xách túi đến rồi ra đứng chắn trước lối ra vào cửa mở toang, tận dụng làn gió trời thổi vào qua hành lang và luồng gió điều hòa nhiệt độ thốc từ trong ra. Nghiên cứu viên Một cảm thán: chao ôi cơn gió cái. Nghiên cứu viên Hai bẻ vần: cô kia mặc lụa Hà Đông, đứng ra trước gió tôi trông rõ... rồi. Đến thế vẫn đứng nguyên trước cửa không hiểu gì. Hồn nhiên.
Khi cô vắng mặt trong phòng, nghiên cứu viên Hai gật gù, đúng là nhìn rất rõ, đùi đĩa tươm ra phết. Nghiên cứu viên Một vẫn cảm thán: nhưng mà hôi lách cực kỳ. Nghiên cứu viên Ba lúc này mới nhảy vào giữa cuộc hội thảo: ngày trước tớ cũng hôi lách, may mà tìm đúng thuốc. Cả phòng mười bốn người thì tám người buột miệng đồng thanh: thuốc gì? Chỉ một câu mà làm những tám người phải tự thú lúc bình minh.
Kết cục hội thảo người ta đi đến nghị quyết, từ nay mùi hành tây ủng ủ trong đống rác nhiệt đới trước những cổng chợ được mã hóa thành thỏ lon (thỏ lon = hôi lách). Chữ thỏ lon hợp với một cô gái hồn nhiên hơn.
Rồi cô Thỏ Lon được bầu vào công đoàn. Ở cơ quan nào khác được bầu vào công đoàn là niềm vinh quang. Cô Thỏ Lon được bầu ở đây là để rèn luyện lao động và rèn luyện tính hồn nhiên. Cô rèn luyện bằng cách cửu vạn cho ông chánh và chị phó công đoàn. Đi công tác đường xa với thủ trưởng, cô nôn ọe rũ rượi trong xe hơi. Đến nơi thì anh lái xe đẹp giai phải chạy vội đi thay quần áo vì bị cô nôn vào. Thủ trưởng thì phải mở cửa xe cho cô nhân viên, thủ trưởng phải đỡ cho nhân viên ra khỏi xe, thủ trưởng phải xách cặp xách dép cho nhân viên.
Thế rồi công đoàn tổ chức đi biển bốn ngày, đặc biệt khuyến khích đám mầm non trước khi vào năm học mới. Cô Thỏ Lon phản đối đi xe, nhưng không ai ủng hộ phương án của cô đi tàu hỏa. Đối lại hai mươi bốn con người trên xe phải thua mình cô chịu hít bụi đường xa vì cô đòi mở cửa sổ tắt điều hòa.
Đến bãi tắm cô Thỏ Lon mới lấy lại được sinh khí công đoàn. Cô giật bằng được hai đứa con của Nghiên cứu viên Hai khỏi tay mẹ và bà ngoại của chúng. Bà già mặc áo tắm hoa cúc, tóc bạc phơ như ma nữ đầu bạc đành thả hai đứa trẻ ra, chuyển sang dắt tay bà con gái như một củ tam thất lùn chạy xuống giỡn sóng. Cô Thỏ Lon rồng rắn toàn bộ sáu đứa trẻ đi xây lâu đài trên cát, vẫn chưa thôi lẩm bẩm ra đến đây mà vẫn nhà nào riêng nhà ấy thì tan cả công đoàn.
Nghiên cứu viên Hai nhìn theo vợ và mẹ vợ tâng tâng nhảy sóng, lại nhìn hai đứa con trong nhóm xây cát. Nháy mắt: cô đúng, ra biển mà cứ mỗi nhà một cụm thì ở nhà mà cụm cho xong, còn gì là tập thể. Anh ta nói vậy nhưng không xuống tắm, vẩn vơ trên bãi tắm đầy người. Quần soóc cây dừa.
*
* *
Quần soóc cây dừa ở bãi tắm là tiện nhất. Muốn tắm thì cứ thế mà nhúng, cần gì phải quần bơi. Không tắm thì cứ khô quần lang thang trên bãi biển. Rộng rãi mát mẻ, lại là quần chun dễ tụt. Chả khó khăn như quần soóc có cạp luồn dây lưng.
Cũng vẫn quần soóc cây dừa, Nghiên cứu viên Hai quay về nhà nghỉ nhập vào nhóm tá lả. Nhóm này ra biển chỉ để tá lả, tá lả thay cho tắm biển, tá lả đến mức cứ một tiếng lại đi đổ gạt tàn một lần. Văn hóa may rủi có tá lả là đỉnh cao của một chặng tiếp sức kể từ chắn, tiến lên, ba cây, cho đến bây giờ là tá lả. Văn hóa bình dân bây giờ có tá lả là hình thức giải trí khắp nơi nơi. Mấy ngày ở biển, đám công chức tá lả suốt ngày tá lả thâu đêm. Mười hai giờ đêm còn bị vợ mò sang gọi về đi ngủ, Nghiên cứu viên Hai mắt vẫn không rời quân bài: tạm ứng lúc trưa rồi, còn đòi gì nữa, về cho con nó ngủ đi. Vợ ngồi ám được hơn một tiếng không chịu nổi phải ngúng nguẩy bỏ về mách mẹ. Tất nhiên bà ma nữ đầu bạc, hay như ông con rể thường gọi là bà Bạch Cốt Tinh, cũng chỉ an ủi con gái đôi câu. Rồi bà lại chìm tiếp vào cơn mơ đang chụp ảnh trên bãi biển, chiếc áo tắm đã đổi sang màu hoa đào.
*
* *
Mỗi ngày tắm biển hai lần, hai ngày là bốn lần, cộng thêm hai lần của ngày đầu và ngày cuối, tổng cộng là sáu lần. Sáu lần bà Bạch Cốt Tinh thay sáu cái áo, sáu màu sáu đi dai khác nhau. Gã thợ ảnh bám theo bà ăn theo vào sáu lần áo tắm mười lăm kiểu ảnh. Gã cũng quần soóc cây dừa, áo phông Kiss Me đeo huy hiệu thương binh tróc sơn, gặp khách nào cũng bảo mình thuộc diện chính sách. Mấy bà bán quán thì bảo chính sách gì nó, nó có tiền sử động kinh, cả đời nó chẳng đi ra khỏi hiệu ảnh tầm nhìn xa trên mười kilômét, ảnh viện của nó ngay đằng sau cây dừa cụt ngọn kia kìa. ảnh viện của gã có hai cái phông. Một là đứng che nón nghiêng nghiêng bên cây liễu Bờ Hồ, xa xa có Tháp Rùa đền Ngọc Sơn cầu Thê Húc. Một nữa ngồi ghế xích đu trước tòa lâu đài cột đá trắng Hy Lạp. Bao giờ giơ máy lên gã cũng hét như đại đội trưởng thúc quân xông lên quyết tử. Bà Bạch Cốt Tinh cũng bị gã thúc như thế. Hân hoan đi. Mơ màng đi. Âm u đi. Rồi gã cũng chẳng thèm đếm xỉa đến tuổi tác của bà, gã hét như thể với những cặp tình nhân vừa là tình cuối vừa là tình đầu. Đằm thắm đi. Lả lơi đi. Lãng mạn đi. Bà con gái thấy mẹ rộn ràng quá cầm lòng không được cũng chạy tới đòi chụp. Chụp riêng hẳn hoi một mình củ tam thất. Chỉ có một kiểu chụp chung cho mẹ khỏi phật lòng. Mọi rắc rối bắt đầu từ mấy kiểu ảnh này.
*
* *
Cô Thỏ Lon và sáu đứa trẻ vẫn mải mê xây lâu đài trên cát. Trò chơi này cũng như đánh bạc, càng thua càng ham. Hôm sau ra bãi biển, thấy thành quả của mình đã bị sóng xóa sạch không còn một dấu vết, cô cháu lại hùng hục lao vào xây mới. Cô Thỏ Lon bắt đầu linh cảm rằng muốn được lòng công đoàn viên thì phải yêu con cái họ. Chuyến đi này của công đoàn mà tốt thì mới gây dựng được uy tín ban đầu cho cô.
Thằng con bé của Nghiên cứu viên Hai đang cắm những vỏ ốc trang trí cho lâu đài, bất chợt dừng tay. Nó mổ mổ con ốc giáo dài như một cái tẩu thuốc về phía ngực cô, thản nhiên đòi cho cháu sờ ti cô một cái. Thằng anh ngượng, mắng át, mày im đi. Thế là thằng bé sáu tuổi gào lên đòi sờ ti. Thằng anh đạp cho thằng em một cái, thanh minh, ngày nào cũng thế đấy, cứ năm giờ chiều là nó đòi sờ ti. Có hôm mẹ cháu bận, bà cháu đi đón thay, giữa đường nó cứ gào lên đòi, bà cháu cố đạp xe về nhà cho nhanh mà cũng chẳng được. Cuối cùng bà cháu đành phải xuống xe, che nón cho nó sờ nó mới thôi khóc. Thằng anh mới mười tuổi mà đã biết kể chuyện cho cô Thỏ Lon đỡ ngượng, khôn thế. Nhưng cô đỡ ngượng không có nghĩa là thằng em đỡ đòi. Nó dọa không chơi với cô nữa, nó sẽ bỏ đi tìm bà tìm mẹ để sờ. Nó không dọa, nó bỏ đi thật, chạy lao vào đám người chen chúc trên bãi. Cô Thỏ Lon phải chạy theo. Một lát sau hai cô cháu tung tăng trở lại. Cô Thỏ Lon thật khéo dỗ trẻ. Không tìm được bà và mẹ, nhưng thằng bé vui vẻ lắm.
(còn nữa)
___________________________________________
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)