Truyện ngắn của Đoàn Lê
Tôi hơn bốn chục tuổi, một vợ hai con. Kéo mấy toa đi cho trơn tru không phải dễ. Hôm nào túi lép con vợ tôi hệt một mụ bà chằng. Cũng phải thông cảm với nỗi lo âu đàn bà thiển cận của hắn thôi. Lắm lúc phát cáu, tôi chỉ còn cách xách xe lao ra đường phố ồn ào, tìm sự quên lãng, khuây khỏa. Tôi muốn được sống, ngập chìm vào dòng đời, trước khi bệnh “viêm túi” có thể đánh gục.
Và tôi bật cười thấy mình thích thú khi được ra đứng đường thực sự. Dưới chân cầu Tràng Tiền, tôi bình lặng lại, nhận ra ngày tháng trôi lặng lẽ như dòng sông Hương trước mặt, hôm nay chẳng khác hôm qua, cũng không hơn ngày mai, cho đến lúc tôi biến khỏi thế gian này. Tôi thường nhìn mặt nước xanh trong, lơ đãng nghĩ về dăm câu thơ vô tích sự bật ra không đúng lúc. Những câu thơ, chúng tựa đám giấy bọc kẹo lòe loẹt vứt trên đường, len lén bám vào gót chân ta. Dân xứ Huế không ai không vướng vít một vài câu thơ trong đầu, cũng vô thưởng vô phạt như cái giấy bọc kẹo.
Mùa du lịch đã hết. Hết những trò láu cá của dân xế ôm, xích lô. Chúng tôi sẵn sàng nhận chở khách đi mua sắm với giá rẻ hơn bèo. Đừng tưởng chúng tôi thương khách. Cò mồi dẫn khách đến mua đặc sản, chúng tôi sẽ được nhận ngầm phần trăm từ nhà hàng, cửa hiệu. Có ngày kiếm tiền triệu. Gấp mười lần cò kè tiền cụng chở khách. Những đận ấy con mụ vợ tôi vếch mặt lên, cắp rá đi chợ, cái mông ngoáy ngoáy, cấm thấy cáu gắt. Nhưng giờ hết rồi. Kể cả những anh Tây ba lô cũng sợ mưa Huế dầm dề, không mấy vãng lai tham quan. Tôi chỉ còn được đón đưa đám bà con nghèo xứ này chưa có xe máy, vui vẻ nhận dăm đồng bạc còm. Lắm bữa chỉ đủ tiền cà phê, thuốc lá.
Vào một buổi sáng chán đời như thế tôi bỗng gặp người ấy, cái người hẳn do định mệnh xui khiến đã xuất hiện. Không, xin đừng nghĩ tới một thiếu nữ chim sa cá lặn. Các cô gái này tôi vốn không để ý. Họ thuộc thế giới khác, không liên quan tới tôi. Khách đi xe ôm tôi nói đây là một cô gái xấu xí, gày nhom, lại thêm vẻ nhút nhát, với cái va li khá nặng, chỉ được cái nói trong trẻo giọng Bắc.
- Anh cho tôi về đường Nguyễn Sinh Cung, nhà nghỉ Thành Đạt.
- Thưa, tôi biết nhà nghỉ đó. Xin cô mười lăm ngàn.
Cô gái không mặc cả. Vả tôi không hay nói thách cao giá, chờ khách nì nèo thêm bớt. Nói đi bấy nhiêu là bấy nhiêu. Đặc biệt với khách xứ lạ tôi càng giữ gìn. Để người thiên hạ không cười thói vếch vác quen chèo kéo bắt nạt của dân xứ Huế. Gì thì gì mình dân thần kinh thừa lịch sự kia mà. Có chặt chém cũng tùy chỗ.
Tới nhà nghỉ, tôi mang va li cho cô gái lên tận phòng gác ba.
- Chiều hai giờ anh tới đưa tôi ra ga xem vé tàu về Hà Nội, được không?
- Vâng thưa cô, cô muốn đi đâu cứ bảo tôi. Đúng hai giờ tôi sẽ tới đón. Đây là số điện thoại di động của tôi.
Buổi chiều sau khi ra ga đặt trước vé tàu, cô gái muốn tôi đưa dạo chơi vòng quanh thành phố. Trên đường, trong lúc chuyện trò tôi biết đôi chút về khách. Cô nói đi công tác, tiện ghé qua thăm lại Huế. Cô nói trước đây dạy múa. Vậy là một nghệ sĩ múa.
Nhưng tôi không tưởng tượng nổi trên sàn diễn với bộ váy áo mỏng tang của một nàng thiên nga, trông cô thế nào. Vẻ ngoài hiện tại khiến tôi nghĩ tới một cô giáo nghiêm nghị nhẫn nhịn hay bị học trò bắt nạt thì đúng hơn.
Ngày hôm sau tôi đưa cô đi thăm Đại Nội từ sáng sớm. Lẽ ra buổi chiều có thể tranh thủ thăm lăng Minh Mạng. Nhưng cô gái cứ nấn ná trên từng con đường nhỏ, như có ý ngóng chờ ai. Rút cục tới quá trưa tôi phải đưa cô vào một quán cơm bình dân lúc mặt trời đứng bóng.
- Anh ăn cùng tôi cho vui. Sau đó ta tranh thủ đi luôn.
Tôi thế nào cũng xong. Đã quen lệ ở nhà vợ con tôi không mong tôi về dùng bữa. Trong lúc ăn, khi đã trở nên thân tình, cô đề nghị hai hôm còn ở Huế, tôi đưa cô đi lang thang, và tính tiền xe cả một ngày cho tiện. “Như một hướng dẫn viên bình dân”, cô dè dặt nói thế. Tôi đã quá quen với các kiểu khách amatơ như cô.
- Thưa cô, thế nào cũng được.
Buổi chiều, tại một quán giải khát bên chùa Thiên Mụ ngồi nhâm nhi ly cà phê, sau rất lâu lơ đãng nhìn dòng sông trước mặt, cô gái bỗng dưng khe khẽ thổ lộ:
- Tôi thích ở Huế lắm. Đây cũng là nơi đầy kỷ niệm của tôi. Anh biết không, chút nữa tôi đã làm dâu xứ Huế đấy.
- Thưa cô, nếu cô làm dâu xứ Huế, chắc tôi đã được chở cô đi luôn luôn. Tôi xin lỗi được hỏi vì răng cô không thành dâu xứ Huế?
- Vâng, cuộc đời có biết bao thứ ta dự định nhưng không thành. Chừ để lại một kỷ niệm ít vui mà thôi.
Cô nói chừ, không phải giờ. Đôi mắt nhìn ra xa của cô gái hình như có ngấn nước, gương mặt tự nhiên thành có duyên, bớt đi vẻ xấu xí.
- Cũng cái quán đây, có người hẹn tôi giờ này, hôm nay, nhưng… anh thấy đấy…
Trời ạ, người ta cất công từ Bắc vào, để giữ ngày hẹn, giờ hẹn, nơi hẹn, mà cái thằng cha… Nhân danh các chàng trai xứ Huế chung tình, nếu gặp hắn tôi thì tống cho một quả bằng trời giỏng!
Tôi còn đang hình dung ra hắn, một người tình đỏm dáng, bỗng trước mặt tôi xuất hiện thằng cha làm quảng cáo phố tôi, người luôn nhom nhem sơn màu, đã thế lại nói lắp. Tôi đâu lạ hắn. Nhưng tôi vụ cựng kinh ngạc thấy hắn tiến lại phía mình.
- Anh xin… xin lỗi em… em…
Hắn nói với cô gái. Cô không trả lời mà òa khóc thành tiếng. Chao ôi, xưa có chuyện sọ dừa biến thành hoàng tử, chả biết cha nhom nhem này có biến hóa được vậy không? Đã thế tôi biết túi hắn chưa bao giờ dư tiền. Chơi cờ thế với tôi hắn luôn chạy làng. Còn may, bữa nay thấy hắn đi cái xe máy cà tàng, dù thế cũng vẫn là xe máy.
Tôi trợn mắt ra hiệu cho hắn dỗ cô gái, nhưng cái gã bị thịt cứ lúng ta lúng túng. Thấy ngồi lại chứng kiến cảnh tình cảm sướt mướt không tiện, tôi tìm cách rút lui.
- Thôi, cô đã gặp bạn rồi, tôi xin phép phải đi có chút việc. Khi nào cần cô cứ nháy máy cho tôi.
Cô gái bẽn lẽn lau nước mắt, cười vỏn vẻn ngước nhìn tôi. Trông bẽn lẽn thành dễ thương. Trước khi đi, tôi kịp kéo thằng cha họa sĩ nửa mùa, kín đáo móc hết tiền trong túi dúi cho hắn. Hắn liếc mắt nhìn tôi im lặng. Đợi đấy, thế nào mi cũng được vài quả phật thủ nếu mi lừa tình cô gái kia.
Về tới bến đỗ xe với cái túi rỗng không, tôi bỗng tá hỏa thấy mụ bà chằng đang đứng đợi ở đó.
- Đi mô mà tui đợi hoài đợi hủy ở đây không thấy? Đưa tui tiền mua cặp sách cho thằng Bảo. Bữa ni nó khóc đòi nghỉ học, làm sao thì làm. Nghe nói chở cô nào người Bắc từ sớm tới chừ à? Tiền đâu?
Tôi giựt chắc. Giải thích với mụ bà chằng thế nào đây? Lại thêm cái tội chở cô gái miền Bắc nữa. Tôi vội ghé tai hắn thì thào:
- Tau lạy mẹ mi, tau hết tiền túi rồi. Là tau cho người ta mượn nóng, mai trả. Cái thằng cha làm quảng cáo… quảng cáo phố… phố mình đó. Tau thề…
Nó trợn mắt ngó tôi tưởng đâu cháy mặt. Không hiểu sao tôi thấy mình cũng lắp bắp như thằng cha kia.
- Tau thề… tau thề với mụ.
- Trời ơi, ma ám ông sao đó?
Có thể ma ám chứ răng!
_______________________________________________________
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà văn Đoàn Lê. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà văn Đoàn Lê. Hiển thị tất cả bài đăng
Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2011
Thứ Hai, 11 tháng 10, 2010
Vua gái (tiếp theo và hết)
Truyện ngắn của Đoàn Lê
Ta nghe những tiếng xì xào ý tứ khi chỉ một mình ta phải ở lại vấn an Thái hoàng thái hậu. Mấy phu nhân các quan đại thần trong tôn thất nhà Lý ngồi xung quanh giường bệnh của Thái hoàng thái hậu nhìn ta, ánh mắt rất lạ, vừa như ác cảm vừa như ái ngại.
Thái hoàng thái hậu thều thào hỏi:
- Chẳng hay Hoàng thượng có ra chùa Chân Giáo thăm ông sư tội nghiệp điên dại ấy không?
- Muôn tâu, hoàng tôn vẫn một tháng đôi lần tới chùa Chân Giáo vấn an người đấy ạ.
Thái hoàng thái hậu thở dài, tiếng thở dài não ruột rồi nhắm mắt như muốn ngủ. Gương mặt già nua phảng phất nét uy nghi một thời. Ta và các vị phu nhân ngồi yên lặng. Giữa ta với họ có một khoảng cách không thể lấp đầy. Dù mới bảy tuổi, ta vẫn mơ hồ cảm nhận được. Thâm tâm họ biết ta là con của ai, vì sao ta được đặt lên ngôi báu. Họ không hề yêu mến ta. Thái độ cung kính của họ là sự tôn trọng vương quyền, sự sợ hãi trước uy thế họ Trần đang ngày một trùm lấp. Và sự im lặng của họ chẳng khác sự lặng gió trước cơn dông bão. Bởi vậy kè kè bên ta bao giờ cũng có các hoàng bà thân tín của phủ họ Trần bảo vệ.
Nhưng chẳng ai dám nói gì. Tôn thất nhà Lý lẫn các nhà sử học thì nem nép dưới uy vũ của Trần Thủ Độ. Họ lặng thinh trước cả sự diệt vong của nhà Lý đang diễn ra trước mắt.
*
* *
Nhân gian nói: sướng tột cùng như được làm Vua! Nhưng hơn một năm trời làm vị vua gái đầu tiên đất nước này, hình như tôi chưa hề biết nỗi sung sướng hiếm hoi đó. Cả đến thứ hạnh phúc bình thường nhất cũng không. Tám tuổi (ất Dậu, tháng 10) tôi phải lấy một anh chồng trẻ con, người được cử vào cung hầu hạ tôi, vốn được dạy giáp mặt tôi phải kính sợ: Trần Cảnh, người anh trai con bác tôi, cũng mới tám tuổi đầu.
Thật hài hước, cuộc chơi vợ chồng vương giả trẻ con nọ chỉ là màn mở đầu cho một tấn bi kịch khốc liệt dưới bàn tay người đàn ông đáng sợ vốn là ngư dân không biết chữ xếp đặt.
Vâng, chính ông xếp đặt tôi ngồi trên ngai vàng hơn một năm (10 - 1224 đến 12 - 1225) để rồi trút ngự bào nhường ngôi cho Trần Cảnh, chồng tôi, tức vua Trần Thái Tôn.
Hoàng thái hậu mẹ tôi chịu giáng xuống làm Thiên Cực công chúa để đàng hoàng về sống với quan Điện tiền Trần Thủ Độ.
Thế là xong một cuộc thoán đoạt lẽ ra kinh thiên động địa, nhưng đã được diễn ra êm như ru.
Thoạt đầu tôi buộc phải mở bữa đại tiệc ở điện Thiên An. Trước mặt văn võ bá quan, tôi trút bộ hoàng bào nhường chồng lên ngôi thiên tử. Trần Cảnh khi ấy cũng là một cậu bé ngây ngô chẳng hơn gì tôi, lúc đội cái mũ triều thiên mồ hôi vã như tắm, ánh mắt nhìn tôi van vỉ cầu cứu. Tội nghiệp, tôi cứu sao nổi.
Với cô bé tám tuổi, việc đánh dấu chấm hết một triều đại, làm diệt vong một vương nghiệp, chẳng mấy quan trọng. Thậm chí tôi nhớ rõ còn thích thú từ nay không phải nghe các ông quan râu dài dữ tợn hò hét tung hô mỗi buổi thiết triều nữa.
Mất ngôi vua được một năm, chuyện động trời nổ ra. Quan Điện tiền Trần Thủ Độ đến tận chùa Chân Giáo ép ông sư tội nghiệp phải treo cổ tự tử. Làm sao không nhổ cái gai đầy hiểm họa ấy cho được?
Trần Thái Tôn dẫu đã được tôi nhường ngôi cho nhưng với mặc cảm chỉ là quân tốt dưới bàn tay của ông chú Trần Thủ Độ, dựng lên cốt chiếm đoạt ngôi vua của tôi, của nhà Lý, hẳn chàng không đủ can đảm nhìn mặt tôi, nói gì một lời yêu thương thành thật? Vì điều đó, sau mười hai năm tiếp theo làm hoàng hậu, mẫu nghi thiên hạ, tôi với chàng chưa một lần có thể ân ái cùng nhau. Thế tất tôi phải rời khỏi cung để nhường ngôi hoàng hậu cho chị gái, công chúa Thuận Thiên, lúc đó đã là vợ Trần Liễu, anh trai nhà vua.
Trong tiềm thức, tôi nhớ láng máng về một cuộc gặp mặt trong mật cung. Khi ấy tôi là một hoàng hậu nhan sắc chim sa cá lặn tuổi đôi mươi, nhưng gương mặt rầu rĩ u uẩn. Ngồi trước tôi là nhà vua Trần Thái Tôn, người tầm thước, giọng nhỏ nhẹ, luôn nhìn xuống, chưa một lần ngó thẳng tôi.
Quan Điện tiền Trần Thủ Độ nghiêm sắc mặt nói từng lời lạnh như băng:
- Thần buộc phải vì sơn hà xã tắc Đại Việt mà cắt đặt chuyện này. Hoàng hậu ở ngôi mẫu nghi đã mười hai năm không sinh nở. Tam cung lục viện cũng chưa hề được tin quý phi nương nương nào có phúc trời. Thật là điều không hay. Nay công chúa Thuận Thiên đang mang thai đứa con thứ hai trong bụng. Nếu nàng được lên ngôi hoàng hậu thay em gái, đương nhiên nhà vua có con nối dõi tức thì, dù đứa trẻ ấy thực chất là con Trần Liễu, anh trai nhà vua. Lọt sàng xuống nia, thế là ngôi vua vẫn trong tay họ Trần nhà ta! Như vậy chú cháu ta không phụ công ân tổ tiên, thánh thượng trước mắt thoát đại tội bất hiếu tuyệt tự. Xin mọi người vì nghiệp lớn mà chấp thuận cho.
Tôi nhớ lúc đó mình tan nát lòng dạ. Nhưng mẹ tôi, bà công chúa Thiên Cực với cha đẻ tôi, Trần Thủ Độ, cả hai đã phân tích kỹ càng bữa trước nên tôi chỉ việc làm theo ý họ. Tôi thong thả nói:
- Ta chấp thuận.
Trần Thái Tôn bấy giờ mới liếc mắt nhìn tôi, ngạc nhiên. Tôi chằm chằm nhìn trả lại chàng. Đã lâu lắm, giờ tôi mới có dịp ngắm kỹ gương mặt con người đó. Một màu đỏ hổ ngươi dần dần lan tỏa lên hai má rồi lên trán chàng… Kìa, chàng cũng đáng xót thương không kém tôi.
Trần Thủ Độ lại khẩn khoản nói tiếp:
- Việc kíp lắm rồi, xin chúa thượng đừng do dự.
- Ta chuẩn tấu. Việc này càng làm êm ả càng tốt. Chớ có ầm ĩ lên.
Nói xong nhà vua giũ áo đi ra. Khi đó mẹ tôi mới xuất hiện. Người ôm chầm lấy tôi trong vòng tay run rẩy. Hình như ánh mắt long lanh của bà mờ đi sau làn nước mắt.
- Ôi con gái tội nghiệp. Cả dòng tộc nhà Trần ta đời đời mang ơn sự hy sinh lặng lẽ của con đó.
Cha tôi tiến tới, đặt bàn tay mạnh mẽ lên vai tôi.
- Con gái ạ, con là phận gái, sự gánh vác chỉ có hạn. Trần Thái Tôn là anh con, chị Thuận Thiên cũng chị gái con, không phải ai người ngoài cuộc, con đừng so đo hơn thiệt.
Tôi nhớ rất rõ cảm giác ghê sợ bàn tay ấy. Tôi muốn kêu, muốn hét lên thật to, hất bàn tay của ông ra khỏi vai mình. Nhưng tôi như chết đứng, tê liệt.
Mẹ tôi khẽ nói với ông:
- Phu quân, thiếp sợ Thuận Thiên không cam chịu. Mấy ngày nay nó không ngừng khóc lóc.
- Phu nhân, lúc này bà hãy nói rõ cho con nó biết. Nó cũng là con gái ta, ta đã vì họ Trần của phu nhân nhảy lên lưng hổ, sơ sẩy một chút có thể mất đầu chín họ. Lý Chiêu Hoàng phải đương đầu mọi sự đến vậy, chẳng lẽ Thuận Thiên không gắng gỏi lên một chút được sao? Ta đã thuyết phục Trần Liễu thuận tình rồi. Thuận Thiên vào cung làm vì thôi, không phải sợ chuyện chăn gối luông tuồng. Nhà vua thiếu gì tam cung lục viện, đâu hết cung tần mỹ nữ phải ép buộc Thuận Thiên. Điều cốt tử phải làm sao sau này đứa con hiện đang trong bụng Thuận Thiên danh chính ngôn thuận lên ngôi trời mới được. Là ta xóa tan cái nguy cơ hoàng thượng không con nối dõi. Gương tày liếp kia không biết soi sao?
Rồi ông thở dài, đầy mệt mỏi:
- Cũng là để triệt hạ mầm mống hy vọng ở các công thần lẫn dân con trăm họ trông vời phục hưng nhà Lý. Không tề gia sao trị quốc đây?
Tôi biết chị gái tôi không thoát được trận đồ của ông, của một người cha bí mật ghê gớm nhất trong lịch sử. Hẳn người không đếm xỉa gì tới những tháng năm sầu thảm cô đơn của tôi, còn hơn chốn lãnh cung dở sống dở chết. Và người ngỡ màn kịch đảo lộn trời đất của người mãi mãi sau này không ai dám to gan bàn tán?
Cha ơi, quyền uy của cái ngai vàng lớn đến nỗi nào mà cha nỡ đẩy cả hai con gái mình vào những bi kịch kinh khủng thế? Như thể cha giết cả hai đứa con gái của mình làm lễ hiến tế mở mang cơ nghiệp họ Trần vậy!
*
* *
Cương tròn mắt hỏi tôi, giọng thì thào:
- Rồi cuộc đời vị vua gái ấy ra sao? Xin Lý Chiêu Hoàng hãy thổ lộ ít nhiều với tôi đi.
- Ta cứ sống vật vờ như vậy trong lầu son gác tía nơi cung cấm. Đã nhiều lúc ta muốn nhảy xuống giếng ngọc, muốn xuống tóc đi tu. Ta ngỡ đời ta chẳng còn gì để trông đợi. Nhưng ta thương mẹ, không nỡ để bà chết không nhắm được mắt.
- Thật thế, ai cũng có thể hình dung ra. Khủng khiếp quá.
- Nhưng kỳ lạ cho con tạo xoay vần, bốn mươi tuổi ta bỗng được biết thế nào là hạnh phúc làm vợ, làm mẹ, một hạnh phúc toàn vẹn đủ đầy nhất. Hóa ra chàng Trần Cảnh, ông vua Trần Thái Tôn ấy của đáng tội cũng không quên được quá khứ. “Trẫm nghĩ đến khanh ngày đêm không ngừng ngơi nghỉ. Nay Lê Phụ Trần có tấm lòng cầu ước, khanh nên vì trẫm mà thuận theo. Trẫm thấy khanh yên vui gia đạo, trẫm sẽ cất được nỗi áy náy đè nặng trong tâm khảm…” Lúc đó ta khóc mà vâng mệnh.
- Người thật sự hy sinh những gì đẹp đẽ nhất của cuộc đời cho vương triều Trần, thưa Lý Chiêu Hoàng.
- Ngươi nói đúng. Năm sáu mốt tuổi, ta về thăm quê Cổ Pháp rồi mất tại đó. Thần dân còn một dạ với triều xưa đã không chôn ta trong khu mộ nhà Lý, không thờ chung ta với tám triều vua Lý trong ngôi đền Đô, ẩn ý rằng ta không phải con nhà Lý dẫu có lúc làm vua nhà Lý.
- Xin hỏi thật nhé, khi thành phu nhân họ Lê, em vẫn… A, sorry, lúc ấy người vẫn còn… vẫn là con gái sao?
- Phải, ta hiểu ngươi muốn hỏi gì. Chính vì vậy ta đã thật sự tìm thấy hạnh phúc đằm thắm nhất và sự che chở tin yêu nơi người anh hùng họ Lê. Chúng ta được hai người con, sum vầy tới tận khi đầu bạc răng long…Nhưng lạ chưa, ta thấy nhà ngươi còn hàng đấu câu hỏi trong đầu. Tò mò, phạm thượng… Ô, không thể…
Cương thở ra một hơi dài. Cũng là lúc tôi rùng mình biết Lý Chiêu Hoàng vừa rời bỏ tôi…
Cương bất ngờ ôm chầm lấy tôi. Trong vòng tay cứng như thép, tôi chống đỡ một cách yếu ớt. Cả hai ngã xuống nền sàn đá hoa. Tôi chẳng hề ngỡ ngàng cái giây phút trọng đại này, thậm chí tôi còn lùa ngón tay vào mái tóc đen mướt xõa xuống trán hắn, mặc cho trái tim nhói lên. Cương nhìn sâu trong mắt tôi rất lâu, thì thầm:
- Anh chết vì những ý nghĩ tai ngược nhưng cực kỳ thông minh của em.
- Này, “anh” cơ à?
- Ừ, đã tiến rồi không lùi được nữa em ạ. Nếu lùi là rơi tõm xuống sông Hồng. Bây giờ đang mùa nước lớn.
- Nghĩa là sao đây?
- Anh yêu em, yêu khủng khiếp em ạ. Yêu cả em lẫn Lý Chiêu Hoàng trong em. Tin anh đi!
Tôi nhận nụ hôn đầu tiên say đắm của khoa lịch sử. Hình như tôi yêu môn lịch sử trước khi yêu hắn. Đồ quỷ gió!
- Cái gì thế? Cậu làm gì thế này?
- Em ạ, cái thuở Lý Chiêu Hoàng lấy chồng khi lên tám, rồi suốt thời thiếu nữ không hề biết xưng tớ. Phải không nào?
- Đợi khi tớ trở lại Lý Chiêu Hoàng hãy hỏi.
- Em lại xưng tớ với anh đấy nhé. Lần này không thể tha đâu.
Cương ấp hai bàn tay giữ chặt lấy khuôn mặt tôi mà hôn xiết.
- Nói lại!
- Em xin rồi!
Lúc đó Cương thì thào say đắm:
- Lý Chiêu Hoàng! Anh sẽ đánh đổi cả ngai vàng lẫn vương triều để cưới em. Anh không chịu như ông vua Trần Cảnh đâu. Rồi chúng ta sẽ nắm tay nhau lên vườn địa đàng xây cái tổ cò ở đó. Chúng ta sẽ viết trang sử đầu tiên của vườn địa đàng, mở đầu cuốn sử không có nước mắt của những vị vua gái... Tin anh đi!
__________________________________________________
Ta nghe những tiếng xì xào ý tứ khi chỉ một mình ta phải ở lại vấn an Thái hoàng thái hậu. Mấy phu nhân các quan đại thần trong tôn thất nhà Lý ngồi xung quanh giường bệnh của Thái hoàng thái hậu nhìn ta, ánh mắt rất lạ, vừa như ác cảm vừa như ái ngại.
Thái hoàng thái hậu thều thào hỏi:
- Chẳng hay Hoàng thượng có ra chùa Chân Giáo thăm ông sư tội nghiệp điên dại ấy không?
- Muôn tâu, hoàng tôn vẫn một tháng đôi lần tới chùa Chân Giáo vấn an người đấy ạ.
Thái hoàng thái hậu thở dài, tiếng thở dài não ruột rồi nhắm mắt như muốn ngủ. Gương mặt già nua phảng phất nét uy nghi một thời. Ta và các vị phu nhân ngồi yên lặng. Giữa ta với họ có một khoảng cách không thể lấp đầy. Dù mới bảy tuổi, ta vẫn mơ hồ cảm nhận được. Thâm tâm họ biết ta là con của ai, vì sao ta được đặt lên ngôi báu. Họ không hề yêu mến ta. Thái độ cung kính của họ là sự tôn trọng vương quyền, sự sợ hãi trước uy thế họ Trần đang ngày một trùm lấp. Và sự im lặng của họ chẳng khác sự lặng gió trước cơn dông bão. Bởi vậy kè kè bên ta bao giờ cũng có các hoàng bà thân tín của phủ họ Trần bảo vệ.
Nhưng chẳng ai dám nói gì. Tôn thất nhà Lý lẫn các nhà sử học thì nem nép dưới uy vũ của Trần Thủ Độ. Họ lặng thinh trước cả sự diệt vong của nhà Lý đang diễn ra trước mắt.
*
* *
Nhân gian nói: sướng tột cùng như được làm Vua! Nhưng hơn một năm trời làm vị vua gái đầu tiên đất nước này, hình như tôi chưa hề biết nỗi sung sướng hiếm hoi đó. Cả đến thứ hạnh phúc bình thường nhất cũng không. Tám tuổi (ất Dậu, tháng 10) tôi phải lấy một anh chồng trẻ con, người được cử vào cung hầu hạ tôi, vốn được dạy giáp mặt tôi phải kính sợ: Trần Cảnh, người anh trai con bác tôi, cũng mới tám tuổi đầu.
Thật hài hước, cuộc chơi vợ chồng vương giả trẻ con nọ chỉ là màn mở đầu cho một tấn bi kịch khốc liệt dưới bàn tay người đàn ông đáng sợ vốn là ngư dân không biết chữ xếp đặt.
Vâng, chính ông xếp đặt tôi ngồi trên ngai vàng hơn một năm (10 - 1224 đến 12 - 1225) để rồi trút ngự bào nhường ngôi cho Trần Cảnh, chồng tôi, tức vua Trần Thái Tôn.
Hoàng thái hậu mẹ tôi chịu giáng xuống làm Thiên Cực công chúa để đàng hoàng về sống với quan Điện tiền Trần Thủ Độ.
Thế là xong một cuộc thoán đoạt lẽ ra kinh thiên động địa, nhưng đã được diễn ra êm như ru.
Thoạt đầu tôi buộc phải mở bữa đại tiệc ở điện Thiên An. Trước mặt văn võ bá quan, tôi trút bộ hoàng bào nhường chồng lên ngôi thiên tử. Trần Cảnh khi ấy cũng là một cậu bé ngây ngô chẳng hơn gì tôi, lúc đội cái mũ triều thiên mồ hôi vã như tắm, ánh mắt nhìn tôi van vỉ cầu cứu. Tội nghiệp, tôi cứu sao nổi.
Với cô bé tám tuổi, việc đánh dấu chấm hết một triều đại, làm diệt vong một vương nghiệp, chẳng mấy quan trọng. Thậm chí tôi nhớ rõ còn thích thú từ nay không phải nghe các ông quan râu dài dữ tợn hò hét tung hô mỗi buổi thiết triều nữa.
Mất ngôi vua được một năm, chuyện động trời nổ ra. Quan Điện tiền Trần Thủ Độ đến tận chùa Chân Giáo ép ông sư tội nghiệp phải treo cổ tự tử. Làm sao không nhổ cái gai đầy hiểm họa ấy cho được?
Trần Thái Tôn dẫu đã được tôi nhường ngôi cho nhưng với mặc cảm chỉ là quân tốt dưới bàn tay của ông chú Trần Thủ Độ, dựng lên cốt chiếm đoạt ngôi vua của tôi, của nhà Lý, hẳn chàng không đủ can đảm nhìn mặt tôi, nói gì một lời yêu thương thành thật? Vì điều đó, sau mười hai năm tiếp theo làm hoàng hậu, mẫu nghi thiên hạ, tôi với chàng chưa một lần có thể ân ái cùng nhau. Thế tất tôi phải rời khỏi cung để nhường ngôi hoàng hậu cho chị gái, công chúa Thuận Thiên, lúc đó đã là vợ Trần Liễu, anh trai nhà vua.
Trong tiềm thức, tôi nhớ láng máng về một cuộc gặp mặt trong mật cung. Khi ấy tôi là một hoàng hậu nhan sắc chim sa cá lặn tuổi đôi mươi, nhưng gương mặt rầu rĩ u uẩn. Ngồi trước tôi là nhà vua Trần Thái Tôn, người tầm thước, giọng nhỏ nhẹ, luôn nhìn xuống, chưa một lần ngó thẳng tôi.
Quan Điện tiền Trần Thủ Độ nghiêm sắc mặt nói từng lời lạnh như băng:
- Thần buộc phải vì sơn hà xã tắc Đại Việt mà cắt đặt chuyện này. Hoàng hậu ở ngôi mẫu nghi đã mười hai năm không sinh nở. Tam cung lục viện cũng chưa hề được tin quý phi nương nương nào có phúc trời. Thật là điều không hay. Nay công chúa Thuận Thiên đang mang thai đứa con thứ hai trong bụng. Nếu nàng được lên ngôi hoàng hậu thay em gái, đương nhiên nhà vua có con nối dõi tức thì, dù đứa trẻ ấy thực chất là con Trần Liễu, anh trai nhà vua. Lọt sàng xuống nia, thế là ngôi vua vẫn trong tay họ Trần nhà ta! Như vậy chú cháu ta không phụ công ân tổ tiên, thánh thượng trước mắt thoát đại tội bất hiếu tuyệt tự. Xin mọi người vì nghiệp lớn mà chấp thuận cho.
Tôi nhớ lúc đó mình tan nát lòng dạ. Nhưng mẹ tôi, bà công chúa Thiên Cực với cha đẻ tôi, Trần Thủ Độ, cả hai đã phân tích kỹ càng bữa trước nên tôi chỉ việc làm theo ý họ. Tôi thong thả nói:
- Ta chấp thuận.
Trần Thái Tôn bấy giờ mới liếc mắt nhìn tôi, ngạc nhiên. Tôi chằm chằm nhìn trả lại chàng. Đã lâu lắm, giờ tôi mới có dịp ngắm kỹ gương mặt con người đó. Một màu đỏ hổ ngươi dần dần lan tỏa lên hai má rồi lên trán chàng… Kìa, chàng cũng đáng xót thương không kém tôi.
Trần Thủ Độ lại khẩn khoản nói tiếp:
- Việc kíp lắm rồi, xin chúa thượng đừng do dự.
- Ta chuẩn tấu. Việc này càng làm êm ả càng tốt. Chớ có ầm ĩ lên.
Nói xong nhà vua giũ áo đi ra. Khi đó mẹ tôi mới xuất hiện. Người ôm chầm lấy tôi trong vòng tay run rẩy. Hình như ánh mắt long lanh của bà mờ đi sau làn nước mắt.
- Ôi con gái tội nghiệp. Cả dòng tộc nhà Trần ta đời đời mang ơn sự hy sinh lặng lẽ của con đó.
Cha tôi tiến tới, đặt bàn tay mạnh mẽ lên vai tôi.
- Con gái ạ, con là phận gái, sự gánh vác chỉ có hạn. Trần Thái Tôn là anh con, chị Thuận Thiên cũng chị gái con, không phải ai người ngoài cuộc, con đừng so đo hơn thiệt.
Tôi nhớ rất rõ cảm giác ghê sợ bàn tay ấy. Tôi muốn kêu, muốn hét lên thật to, hất bàn tay của ông ra khỏi vai mình. Nhưng tôi như chết đứng, tê liệt.
Mẹ tôi khẽ nói với ông:
- Phu quân, thiếp sợ Thuận Thiên không cam chịu. Mấy ngày nay nó không ngừng khóc lóc.
- Phu nhân, lúc này bà hãy nói rõ cho con nó biết. Nó cũng là con gái ta, ta đã vì họ Trần của phu nhân nhảy lên lưng hổ, sơ sẩy một chút có thể mất đầu chín họ. Lý Chiêu Hoàng phải đương đầu mọi sự đến vậy, chẳng lẽ Thuận Thiên không gắng gỏi lên một chút được sao? Ta đã thuyết phục Trần Liễu thuận tình rồi. Thuận Thiên vào cung làm vì thôi, không phải sợ chuyện chăn gối luông tuồng. Nhà vua thiếu gì tam cung lục viện, đâu hết cung tần mỹ nữ phải ép buộc Thuận Thiên. Điều cốt tử phải làm sao sau này đứa con hiện đang trong bụng Thuận Thiên danh chính ngôn thuận lên ngôi trời mới được. Là ta xóa tan cái nguy cơ hoàng thượng không con nối dõi. Gương tày liếp kia không biết soi sao?
Rồi ông thở dài, đầy mệt mỏi:
- Cũng là để triệt hạ mầm mống hy vọng ở các công thần lẫn dân con trăm họ trông vời phục hưng nhà Lý. Không tề gia sao trị quốc đây?
Tôi biết chị gái tôi không thoát được trận đồ của ông, của một người cha bí mật ghê gớm nhất trong lịch sử. Hẳn người không đếm xỉa gì tới những tháng năm sầu thảm cô đơn của tôi, còn hơn chốn lãnh cung dở sống dở chết. Và người ngỡ màn kịch đảo lộn trời đất của người mãi mãi sau này không ai dám to gan bàn tán?
Cha ơi, quyền uy của cái ngai vàng lớn đến nỗi nào mà cha nỡ đẩy cả hai con gái mình vào những bi kịch kinh khủng thế? Như thể cha giết cả hai đứa con gái của mình làm lễ hiến tế mở mang cơ nghiệp họ Trần vậy!
*
* *
Cương tròn mắt hỏi tôi, giọng thì thào:
- Rồi cuộc đời vị vua gái ấy ra sao? Xin Lý Chiêu Hoàng hãy thổ lộ ít nhiều với tôi đi.
- Ta cứ sống vật vờ như vậy trong lầu son gác tía nơi cung cấm. Đã nhiều lúc ta muốn nhảy xuống giếng ngọc, muốn xuống tóc đi tu. Ta ngỡ đời ta chẳng còn gì để trông đợi. Nhưng ta thương mẹ, không nỡ để bà chết không nhắm được mắt.
- Thật thế, ai cũng có thể hình dung ra. Khủng khiếp quá.
- Nhưng kỳ lạ cho con tạo xoay vần, bốn mươi tuổi ta bỗng được biết thế nào là hạnh phúc làm vợ, làm mẹ, một hạnh phúc toàn vẹn đủ đầy nhất. Hóa ra chàng Trần Cảnh, ông vua Trần Thái Tôn ấy của đáng tội cũng không quên được quá khứ. “Trẫm nghĩ đến khanh ngày đêm không ngừng ngơi nghỉ. Nay Lê Phụ Trần có tấm lòng cầu ước, khanh nên vì trẫm mà thuận theo. Trẫm thấy khanh yên vui gia đạo, trẫm sẽ cất được nỗi áy náy đè nặng trong tâm khảm…” Lúc đó ta khóc mà vâng mệnh.
- Người thật sự hy sinh những gì đẹp đẽ nhất của cuộc đời cho vương triều Trần, thưa Lý Chiêu Hoàng.
- Ngươi nói đúng. Năm sáu mốt tuổi, ta về thăm quê Cổ Pháp rồi mất tại đó. Thần dân còn một dạ với triều xưa đã không chôn ta trong khu mộ nhà Lý, không thờ chung ta với tám triều vua Lý trong ngôi đền Đô, ẩn ý rằng ta không phải con nhà Lý dẫu có lúc làm vua nhà Lý.
- Xin hỏi thật nhé, khi thành phu nhân họ Lê, em vẫn… A, sorry, lúc ấy người vẫn còn… vẫn là con gái sao?
- Phải, ta hiểu ngươi muốn hỏi gì. Chính vì vậy ta đã thật sự tìm thấy hạnh phúc đằm thắm nhất và sự che chở tin yêu nơi người anh hùng họ Lê. Chúng ta được hai người con, sum vầy tới tận khi đầu bạc răng long…Nhưng lạ chưa, ta thấy nhà ngươi còn hàng đấu câu hỏi trong đầu. Tò mò, phạm thượng… Ô, không thể…
Cương thở ra một hơi dài. Cũng là lúc tôi rùng mình biết Lý Chiêu Hoàng vừa rời bỏ tôi…
Cương bất ngờ ôm chầm lấy tôi. Trong vòng tay cứng như thép, tôi chống đỡ một cách yếu ớt. Cả hai ngã xuống nền sàn đá hoa. Tôi chẳng hề ngỡ ngàng cái giây phút trọng đại này, thậm chí tôi còn lùa ngón tay vào mái tóc đen mướt xõa xuống trán hắn, mặc cho trái tim nhói lên. Cương nhìn sâu trong mắt tôi rất lâu, thì thầm:
- Anh chết vì những ý nghĩ tai ngược nhưng cực kỳ thông minh của em.
- Này, “anh” cơ à?
- Ừ, đã tiến rồi không lùi được nữa em ạ. Nếu lùi là rơi tõm xuống sông Hồng. Bây giờ đang mùa nước lớn.
- Nghĩa là sao đây?
- Anh yêu em, yêu khủng khiếp em ạ. Yêu cả em lẫn Lý Chiêu Hoàng trong em. Tin anh đi!
Tôi nhận nụ hôn đầu tiên say đắm của khoa lịch sử. Hình như tôi yêu môn lịch sử trước khi yêu hắn. Đồ quỷ gió!
- Cái gì thế? Cậu làm gì thế này?
- Em ạ, cái thuở Lý Chiêu Hoàng lấy chồng khi lên tám, rồi suốt thời thiếu nữ không hề biết xưng tớ. Phải không nào?
- Đợi khi tớ trở lại Lý Chiêu Hoàng hãy hỏi.
- Em lại xưng tớ với anh đấy nhé. Lần này không thể tha đâu.
Cương ấp hai bàn tay giữ chặt lấy khuôn mặt tôi mà hôn xiết.
- Nói lại!
- Em xin rồi!
Lúc đó Cương thì thào say đắm:
- Lý Chiêu Hoàng! Anh sẽ đánh đổi cả ngai vàng lẫn vương triều để cưới em. Anh không chịu như ông vua Trần Cảnh đâu. Rồi chúng ta sẽ nắm tay nhau lên vườn địa đàng xây cái tổ cò ở đó. Chúng ta sẽ viết trang sử đầu tiên của vườn địa đàng, mở đầu cuốn sử không có nước mắt của những vị vua gái... Tin anh đi!
__________________________________________________
Thứ Năm, 7 tháng 10, 2010
Vua gái
Truyện ngắn của Đoàn Lê
Tôi là ai đây? Nhiều khi tôi cố quên những hình ảnh luôn hiện về từ một thời vàng son rất xa xưa, cố đẩy lùi những ái ố hỉ nộ bất ngờ trỗi dậy. Nhưng không xong. Tại sao lại thế? Thực sự tôi là ai trong hai con người: Tôi - Lý Chiêu Hoàng? Tôi, cô sinh viên y khoa năm thứ hai? Trường hợp này phải chăng y học kết luận trong tôi có hai con người, hai nhân cách cùng tồn tại?
Nhiều khi ngồi trước gương tôi hoàn toàn xa lạ với hình ảnh cô gái có cặp mắt to đang chòng chọc nhìn. Cô sinh viên Y khoa kia từ đâu tới, cô mượn cái lốt này với mục đích gì? Cô khiến tôi tê liệt trước niềm vui cuộc sống hôm nay và làm khổ tâm hồn tôi với những trăn trở dằn vặt vô lối từ bảy, tám thế kỷ trước.
Sách Đại Việt toàn thư ghi: “Năm Mậu Dần 1218, tháng 9, hoàng thứ nữ sinh, sau phong làm công chúa Chiêu Thánh. Tháng 10 năm Giáp Thân, 1224 công chúa Chiêu Thánh được truyền ngôi hoàng đế”.
Tôi phải dành dịp nghỉ hè tra cứu ngày tháng, tìm hiểu nhân thân của tôi trong lịch sử, cái thuở làm vua gái. Thật là một tiền kiếp kinh hoàng tôi ơi!
Đôi lúc tỉnh táo, tôi lại mừng đến tê dại. Thiên hạ hẳn sửng sốt khi được biết một cô sinh viên Y khoa bé nhỏ tầm thường hiện đang nắm giữ một sự kiện vô cùng bí mật của lịch sử.
Tôi sẽ nói Lý Chiêu Hoàng là con Trần Thủ Độ chứ không phải con Lý Huệ Tôn. Ông vua èo uột khi còn là Hoàng thái tử Sảm, mười lăm tuổi, lấy cô gái đẹp nổi tiếng nhà họ Trần ở một vùng biển trong lúc chạy giặc, lánh nạn tại đó. Cô gái Trần Thị Dung xấp xỉ tuổi Hoàng thái tử, chắc hẳn khi ấy đã mang nặng tình ý với người anh nuôi họ Trần, Trần Thủ Độ, một chàng ngư dân ít chữ nghĩa nhưng khỏe mạnh, cơ mưu võ lược đứng đầu đám gia binh. Cô gái bất đắc dĩ phải lấy Hoàng thái tử Sảm vì quyền uy trói buộc, vì mưu đồ của cả một dòng tộc nhiều tham vọng đè nặng lên vai. Để dắt mũi một cậu Hoàng thái tử non choẹt với quân bài mỹ nhân kế, luôn luôn phía sau có người anh ruột cô gái là Trần Tự Khánh và chàng trai Trần Thủ Độ đầy mưu đồ che chắn.
Mùa xuân Canh Ngọ năm 1210, giặc đã yên, vua Cao Tôn đón Hoàng thái tử Sảm về triều, cô gái thì cho ở lại nhà cha mẹ. Mùa đông vua Cao Tôn chết, Hoàng thái tử Sảm lên ngôi thành vua Lý Huệ Tôn. Khi ấy Huệ Tôn mới mười sáu tuổi. Nhà vua phái thuyền rồng đi đón Trần Thị Dung, nhưng Trần Tự Khánh chưa đưa em gái đi ngay vì cớ đương thời loạn lạc. Mãi tháng 2 năm 1211 Trần Thị mới được đón về cung, lập làm Nguyên phi.
Tại sao Trần Thị chậm được tiến cung? Hơn một năm ăn ở với ông hoàng yếu ớt tại miền biển quê nhà, nàng không có dấu hiệu mang thai, họ Trần có thể sợ cô gái về triều địa vị không được vững vàng chăng?
Bao nhiêu câu hỏi rắc rối mà tôi cần lý giải cho chính cha mẹ mình.
Mấy hôm nay trời oi nồng, mọi người như sống trong lò bánh mì. Nếu không được phơi trần dưới quạt, bảo đảm sẽ biến thành bánh đa nướng trong mớ quần áo. Tôi bảo Cương, anh chàng sinh viên khoa Sử sắp ra trường, hai năm nay lúc nào cũng quấn quýt bám trụ tại nhà trọ của tôi:
- Cậu làm phúc đi khỏi đây vài tiếng trưa nay cho tớ nhờ. Tớ cần được giải phóng vài tiếng không bị áp bức.
Cương ngạc nhiên khẽ hỏi:
- Tớ khủng bố cậu đến thế sao?
- Thế cậu nghĩ tớ làm Eva trước mặt cậu được ư?
- Hiểu. Khủng khiếp. Trái đất đang nóng dần lên có nghĩa đen thế này đây. Nhưng sẽ rất hoang vắng nếu Eva thiếu Ađam. Bị nàng đuổi ra khỏi vườn địa đàng suốt cả buổi trưa hỏi còn sống làm gì? Được rồi, chiều tớ mang xe đến đưa cậu đi hồ Tây cho hạ hỏa.
- Không, chiều nay tớ bận truy tìm ông Trần Thủ Độ.
- Để làm gì, nói cho tớ nghe! Hình như cậu quyết diệt ông Trần Thủ Độ hả? Nhưng chiều nay cậu đừng thành Lý Chiêu Hoàng có được không?
- Cậu sắp thành nhà sử học, tớ hỏi cậu: thời gian bà Trần Thị Dung sinh công chúa đầu lòng Thuận Thiên ở bãi Cửu Liên, ông Trần Thủ Độ đang ở đâu? Nếu ông ấy vẫn kè kè hộ giá, cùng một nhúm hoàng gia lang thang chạy giặc, đích thị ông ấy… có vấn đề.
Tức thì Cương vồ lấy cuốn Đại Việt toàn thư tôi để trên bàn, mở đến trang tôi đánh dấu
- Ừ nhỉ, ở đây không thấy nói.
- Giai đoạn này ông ấy đang cần ẩn mặt. Nhưng rõ ràng Trần Tự Khánh không thể để cô em gái đơn thân sống trong vòng hành hạ ghét bỏ của bà Đàm thái hậu, mẹ vua Lý Huệ Tôn. Trần Thị Dung từng bị Thái hậu ép phải tự tử, bị đầu độc ngay cả lúc nàng đang mang thai, mà khi ấy nhà vua chưa có đứa con nào. May nhờ Lý Huệ Tôn che chắn mọi bề nên Trần Thị Dung mới thoát chết. Đến mức vua và vợ nửa đêm phải trốn về với Trần Tự Khánh. Đương nhiên Trần Thủ Độ phải luôn bên cạnh nhà vua cùng hoàng hậu để bảo vệ họ.
- Tại sao Đàm Thái hậu ghét hoàng hậu Trần Thị Dung thế nhỉ? Chắc hẳn bà biết rõ con trai bà tức vua Lý Huệ Tôn mang trong mình chứng bệnh nan y không thể có con? Và bà biết đứa con do Trần Thị Dung sinh ra là con Trần Thủ Độ?
- Chính thế. Đến lúc thoái vị, nhà vua mới ngoài ba mươi tuổi nhưng trong tam cung lục viện Lý Huệ Tôn cũng không hề có người con nào khác ngoài hai công chúa do hoàng hậu Trần Thị Dung sinh ra… Bất lực hoặc vô sinh, tớ đoán vậy. Và này…
Cương mở to mắt chờ đợi điều tôi sắp nói. Mắt hắn nâu đen, nói chính xác là màu bã trầu, sáng ướt long lanh. Rõ là có nắng trong đó. Để nắng đi vào trong mắt em… Trái tim tôi bỗng thổn thức rất lạ. Tôi biết đấy là nỗi thổn thức của nhân cách thứ hai trong tôi… Hỡi chàng Trần Cảnh tội nghiệp, chúng ta đã bị ngọn lửa quyền lực, cháy lên từ cái ngai vàng, thiêu ra tro tuổi thanh xuân lẫn tình yêu thời trinh nguyên quý giá. Đây, được nhìn vào mắt nhau sung sướng biết bao nhiêu!
Tôi nói rành rọt từng lời mà không hề rời đôi mắt nâu thăm thẳm trước mặt.
- Nghe cho rõ, hỡi nhà sử học tương lai. Ta là Lý Chiêu Hoàng. Theo Đại Việt sử ký, ta được mẫu hậu mang thai vào mùa xuân năm Mậu Dần 1218 trong khi vua cha Lý Huệ Tôn đã nổi bệnh trúng phong ngay từ cuối năm Bính Tý 1216, và mùa xuân năm Đinh Sửu 1217 vua đã điên dại rất nặng. Làm sao ông ấy sinh được ra ta vào năm 1218? Chẳng phải cũng do Điện tiền Chỉ huy sứ Trần Thủ Độ, đêm ngày cai quản trong cung mới có thể tự do bịt mắt một ông vua tâm thần lẫn đám hầu hạ hèn mọn sao? Cả mẫu hậu ta lẫn Trần Thủ Độ đều trông chờ ở lần mang thai thứ hai được một Hoàng thái tử, ai ngờ lại là gái nữa. Thì họ buộc phải ép Lý Huệ Tôn sớm rời ngôi để bày cuộc nhà Lý nhường ngôi cho nhà Trần một cách ngoạn mục kiểu ấy. Chả phải vậy sao?
Cương lập tức chúi đầu vào cuốn sử, kiểm tra từng năm tháng những lời tôi vừa nói. Khi hắn ngước mắt lên, tôi nhận ra nét kinh ngạc chứa đầy trong đôi mắt nâu mở lớn hết cỡ. Hắn nắm lấy tay tôi thì thào khẩn khoản:
- Rồi sao nữa Lý Chiêu Hoàng?
- Sao ư? Chỉ có Thái hoàng Thái hậu Đàm Thị biết rành mạch điều đó, nhưng trước thế lực mạnh mẽ khuynh loát triều đình của họ Trần, cái mạng sống của bà cũng còn ngàn cân treo sợi tóc, huống hồ. Và rất dễ hiểu vì sao Trần Thủ Độ không tha Lý Huệ Tôn, bức chết cả khi nhà vua đã nhường ngôi cho ta, xuống tóc quy y. Có vậy mới thỏa nỗi hận của một người tình với một tình địch.
- Đáng thương ông vua bệnh hoạn thất thế. Cương thở dài.
- Sự đời luôn cay đắng như vậy. Nhưng ta hoàn toàn khâm phục quan Điện tiền chỉ huy sứ Trần Thủ Độ. Đó là người đàn ông đích thực, dám vì nghiệp lớn hy sinh tình riêng, lại dám vì tình yêu bất chấp tất cả. Sau khi dựng cơ đồ xong, người đàng hoàng đón mẹ ta về chung sống, thủy chung suốt đời, dành trọn vẹn tình yêu duy nhất cho người đàn bà duy nhất, không màng danh vọng chức tước, không hề lập thêm phu nhân nào khác.
Cương nắm lấy tay tôi, cười rất dịu dàng:
- Mình cũng cố noi tư cách phong độ của một chàng trai ngư dân, không kém chút nào đâu Lý Chiêu Hoàng ạ.
*
* *
Ta, Lý Chiêu Hoàng, vị vua gái thứ chín triều Lý. Ta lên ngôi thiên tử lúc bảy tuổi. Nói chính xác, ta mới sinh ra đời sáu năm một tháng đã được đặt lên ngai vàng. Thoạt tiên đang là công chúa Chiêu Thánh ta bỗng nhận sắc phong của phụ hoàng Lý Huệ Tôn lập làm Hoàng thái tử rồi truyền ngôi cho. Hừm, sau này ta mới hay cha đẻ đích thực của ta đã không thể chờ lâu hơn, người muốn đi thật mau tới cái đích lớn lao đúng thời cơ đã định.
Thế là vì tình hình thế sự, ta thành vị Vua gái đầu tiên trong lịch sử Đại Việt. Bảy tuổi, ta nhớ rằng khi ấy mới khỏi bệnh đái dầm, vẫn sợ hết hồn những đêm trời nổi dông gió sấm sét. Khi dạo chơi cùng các phu nhân trong vườn thượng uyển ta khóc thét vì một con bướm đậu vào vai áo gấm. Ngày đăng quang, quan đại thần Phụ quốc Thái úy Trần Thừa, ông bác ruột đồng thời là bố chồng ta sau này, khoác lên vai ta tấm áo hoàng bào chẳng khác một tấm chăn vàng ngọc thùng thình, nặng trịch, phải hai thị vệ đứng bên nâng giùm. Nếu không, chắc chắn ta đổ sụp dưới sức nặng của nó.
Các ông quan văn võ đứng xếp hai hàng dưới sân rồng. Trước con mắt ngơ ngác của ta, họ bỗng quỳ sụp cả xuống tung hô vạn tuế. Ta cố nén sợ lấy hết sức hét to như mẫu hậu dặn:
- Miễn lễ! Các khanh bình thân!
Ta nghe rõ giọng trẻ con của ta vang lên khắp cung điện mênh mông im lặng như tờ.
- Chúng thần tạ ân hoàng thượng. Kính dâng thiên tử hai chữ vạn thọ như cương.
Ông quan đứng đầu hô tiếp rồi tất cả đồng thanh:
- Thánh thượng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!
Tiếng hô như sấm rền. Ta giật mình làm lệch cái mũ triều thiên suýt rơi. May sao thị vệ đứng bên giúp ta kịp giữ. Mong cho mọi nghi lễ khó chịu này sớm chấm dứt để ta trở về cung thôi.
Sau đó yến tiệc linh đình. Họ bày trò múa hát vui lắm.
Xem ra lên ngôi vua cũng chẳng có gì mới. Ta vẫn luôn phải đánh lừa hoàng bà (nhũ mẫu của vua) nhổ những ngụm thang sặc vị thuốc bắc, do ông ngự y râu dài buộc ta uống. Mặt ông ấy nghiêm như tượng đá khiến ta rất sợ.
Lên ngôi trời chỉ có nghĩa mỗi đêm hoàng bà bế ta đi tiểu phải cung kính nói:
- Muôn tâu thánh thượng, xin thứ tội cho phép thần được hầu hạ.
Trong lúc mơ màng ngái ngủ, nghe thấy thế ta gà gật lẩm nhẩm:
- Mình là Vua... là Vua…
Để nhập tâm điều đó không dễ. Mỗi khi vào vấn an Thái hậu, ta buộc phải xưng Hoàng nhi, phải lạy chào đúng lễ, không được chạy ào tới ôm chầm mẹ, phải nhận lễ ngược lại của chị gái ta là công chúa Thuận Thiên mỗi khi gặp mặt. Thật khó chịu những thứ lẩm cẩm ấy.
Và cũng thật phức tạp không thể tưởng được những nghi lễ triều chính. Thái hậu luôn kèm cặp ta không ngơi, và chưa lúc nào ta vuột khỏi ánh mắt quan tâm săn sóc của quan Điện tiền Chỉ huy sứ Trần Thủ Độ. Ta được mẹ dạy phải luôn nhất nhất vâng lời con người này, dù chưa thể hiểu ngọn nguồn vì sao.
Nhưng bằng linh cảm ta biết người đó chính thực là cha đẻ ta. Nhất là khi mẹ ta rời cung về sống với quan Điện tiền. Ta biết chứ.
(còn nữa)
_______________________________________________
Tôi là ai đây? Nhiều khi tôi cố quên những hình ảnh luôn hiện về từ một thời vàng son rất xa xưa, cố đẩy lùi những ái ố hỉ nộ bất ngờ trỗi dậy. Nhưng không xong. Tại sao lại thế? Thực sự tôi là ai trong hai con người: Tôi - Lý Chiêu Hoàng? Tôi, cô sinh viên y khoa năm thứ hai? Trường hợp này phải chăng y học kết luận trong tôi có hai con người, hai nhân cách cùng tồn tại?
Nhiều khi ngồi trước gương tôi hoàn toàn xa lạ với hình ảnh cô gái có cặp mắt to đang chòng chọc nhìn. Cô sinh viên Y khoa kia từ đâu tới, cô mượn cái lốt này với mục đích gì? Cô khiến tôi tê liệt trước niềm vui cuộc sống hôm nay và làm khổ tâm hồn tôi với những trăn trở dằn vặt vô lối từ bảy, tám thế kỷ trước.
Sách Đại Việt toàn thư ghi: “Năm Mậu Dần 1218, tháng 9, hoàng thứ nữ sinh, sau phong làm công chúa Chiêu Thánh. Tháng 10 năm Giáp Thân, 1224 công chúa Chiêu Thánh được truyền ngôi hoàng đế”.
Tôi phải dành dịp nghỉ hè tra cứu ngày tháng, tìm hiểu nhân thân của tôi trong lịch sử, cái thuở làm vua gái. Thật là một tiền kiếp kinh hoàng tôi ơi!
Đôi lúc tỉnh táo, tôi lại mừng đến tê dại. Thiên hạ hẳn sửng sốt khi được biết một cô sinh viên Y khoa bé nhỏ tầm thường hiện đang nắm giữ một sự kiện vô cùng bí mật của lịch sử.
Tôi sẽ nói Lý Chiêu Hoàng là con Trần Thủ Độ chứ không phải con Lý Huệ Tôn. Ông vua èo uột khi còn là Hoàng thái tử Sảm, mười lăm tuổi, lấy cô gái đẹp nổi tiếng nhà họ Trần ở một vùng biển trong lúc chạy giặc, lánh nạn tại đó. Cô gái Trần Thị Dung xấp xỉ tuổi Hoàng thái tử, chắc hẳn khi ấy đã mang nặng tình ý với người anh nuôi họ Trần, Trần Thủ Độ, một chàng ngư dân ít chữ nghĩa nhưng khỏe mạnh, cơ mưu võ lược đứng đầu đám gia binh. Cô gái bất đắc dĩ phải lấy Hoàng thái tử Sảm vì quyền uy trói buộc, vì mưu đồ của cả một dòng tộc nhiều tham vọng đè nặng lên vai. Để dắt mũi một cậu Hoàng thái tử non choẹt với quân bài mỹ nhân kế, luôn luôn phía sau có người anh ruột cô gái là Trần Tự Khánh và chàng trai Trần Thủ Độ đầy mưu đồ che chắn.
Mùa xuân Canh Ngọ năm 1210, giặc đã yên, vua Cao Tôn đón Hoàng thái tử Sảm về triều, cô gái thì cho ở lại nhà cha mẹ. Mùa đông vua Cao Tôn chết, Hoàng thái tử Sảm lên ngôi thành vua Lý Huệ Tôn. Khi ấy Huệ Tôn mới mười sáu tuổi. Nhà vua phái thuyền rồng đi đón Trần Thị Dung, nhưng Trần Tự Khánh chưa đưa em gái đi ngay vì cớ đương thời loạn lạc. Mãi tháng 2 năm 1211 Trần Thị mới được đón về cung, lập làm Nguyên phi.
Tại sao Trần Thị chậm được tiến cung? Hơn một năm ăn ở với ông hoàng yếu ớt tại miền biển quê nhà, nàng không có dấu hiệu mang thai, họ Trần có thể sợ cô gái về triều địa vị không được vững vàng chăng?
Bao nhiêu câu hỏi rắc rối mà tôi cần lý giải cho chính cha mẹ mình.
Mấy hôm nay trời oi nồng, mọi người như sống trong lò bánh mì. Nếu không được phơi trần dưới quạt, bảo đảm sẽ biến thành bánh đa nướng trong mớ quần áo. Tôi bảo Cương, anh chàng sinh viên khoa Sử sắp ra trường, hai năm nay lúc nào cũng quấn quýt bám trụ tại nhà trọ của tôi:
- Cậu làm phúc đi khỏi đây vài tiếng trưa nay cho tớ nhờ. Tớ cần được giải phóng vài tiếng không bị áp bức.
Cương ngạc nhiên khẽ hỏi:
- Tớ khủng bố cậu đến thế sao?
- Thế cậu nghĩ tớ làm Eva trước mặt cậu được ư?
- Hiểu. Khủng khiếp. Trái đất đang nóng dần lên có nghĩa đen thế này đây. Nhưng sẽ rất hoang vắng nếu Eva thiếu Ađam. Bị nàng đuổi ra khỏi vườn địa đàng suốt cả buổi trưa hỏi còn sống làm gì? Được rồi, chiều tớ mang xe đến đưa cậu đi hồ Tây cho hạ hỏa.
- Không, chiều nay tớ bận truy tìm ông Trần Thủ Độ.
- Để làm gì, nói cho tớ nghe! Hình như cậu quyết diệt ông Trần Thủ Độ hả? Nhưng chiều nay cậu đừng thành Lý Chiêu Hoàng có được không?
- Cậu sắp thành nhà sử học, tớ hỏi cậu: thời gian bà Trần Thị Dung sinh công chúa đầu lòng Thuận Thiên ở bãi Cửu Liên, ông Trần Thủ Độ đang ở đâu? Nếu ông ấy vẫn kè kè hộ giá, cùng một nhúm hoàng gia lang thang chạy giặc, đích thị ông ấy… có vấn đề.
Tức thì Cương vồ lấy cuốn Đại Việt toàn thư tôi để trên bàn, mở đến trang tôi đánh dấu
- Ừ nhỉ, ở đây không thấy nói.
- Giai đoạn này ông ấy đang cần ẩn mặt. Nhưng rõ ràng Trần Tự Khánh không thể để cô em gái đơn thân sống trong vòng hành hạ ghét bỏ của bà Đàm thái hậu, mẹ vua Lý Huệ Tôn. Trần Thị Dung từng bị Thái hậu ép phải tự tử, bị đầu độc ngay cả lúc nàng đang mang thai, mà khi ấy nhà vua chưa có đứa con nào. May nhờ Lý Huệ Tôn che chắn mọi bề nên Trần Thị Dung mới thoát chết. Đến mức vua và vợ nửa đêm phải trốn về với Trần Tự Khánh. Đương nhiên Trần Thủ Độ phải luôn bên cạnh nhà vua cùng hoàng hậu để bảo vệ họ.
- Tại sao Đàm Thái hậu ghét hoàng hậu Trần Thị Dung thế nhỉ? Chắc hẳn bà biết rõ con trai bà tức vua Lý Huệ Tôn mang trong mình chứng bệnh nan y không thể có con? Và bà biết đứa con do Trần Thị Dung sinh ra là con Trần Thủ Độ?
- Chính thế. Đến lúc thoái vị, nhà vua mới ngoài ba mươi tuổi nhưng trong tam cung lục viện Lý Huệ Tôn cũng không hề có người con nào khác ngoài hai công chúa do hoàng hậu Trần Thị Dung sinh ra… Bất lực hoặc vô sinh, tớ đoán vậy. Và này…
Cương mở to mắt chờ đợi điều tôi sắp nói. Mắt hắn nâu đen, nói chính xác là màu bã trầu, sáng ướt long lanh. Rõ là có nắng trong đó. Để nắng đi vào trong mắt em… Trái tim tôi bỗng thổn thức rất lạ. Tôi biết đấy là nỗi thổn thức của nhân cách thứ hai trong tôi… Hỡi chàng Trần Cảnh tội nghiệp, chúng ta đã bị ngọn lửa quyền lực, cháy lên từ cái ngai vàng, thiêu ra tro tuổi thanh xuân lẫn tình yêu thời trinh nguyên quý giá. Đây, được nhìn vào mắt nhau sung sướng biết bao nhiêu!
Tôi nói rành rọt từng lời mà không hề rời đôi mắt nâu thăm thẳm trước mặt.
- Nghe cho rõ, hỡi nhà sử học tương lai. Ta là Lý Chiêu Hoàng. Theo Đại Việt sử ký, ta được mẫu hậu mang thai vào mùa xuân năm Mậu Dần 1218 trong khi vua cha Lý Huệ Tôn đã nổi bệnh trúng phong ngay từ cuối năm Bính Tý 1216, và mùa xuân năm Đinh Sửu 1217 vua đã điên dại rất nặng. Làm sao ông ấy sinh được ra ta vào năm 1218? Chẳng phải cũng do Điện tiền Chỉ huy sứ Trần Thủ Độ, đêm ngày cai quản trong cung mới có thể tự do bịt mắt một ông vua tâm thần lẫn đám hầu hạ hèn mọn sao? Cả mẫu hậu ta lẫn Trần Thủ Độ đều trông chờ ở lần mang thai thứ hai được một Hoàng thái tử, ai ngờ lại là gái nữa. Thì họ buộc phải ép Lý Huệ Tôn sớm rời ngôi để bày cuộc nhà Lý nhường ngôi cho nhà Trần một cách ngoạn mục kiểu ấy. Chả phải vậy sao?
Cương lập tức chúi đầu vào cuốn sử, kiểm tra từng năm tháng những lời tôi vừa nói. Khi hắn ngước mắt lên, tôi nhận ra nét kinh ngạc chứa đầy trong đôi mắt nâu mở lớn hết cỡ. Hắn nắm lấy tay tôi thì thào khẩn khoản:
- Rồi sao nữa Lý Chiêu Hoàng?
- Sao ư? Chỉ có Thái hoàng Thái hậu Đàm Thị biết rành mạch điều đó, nhưng trước thế lực mạnh mẽ khuynh loát triều đình của họ Trần, cái mạng sống của bà cũng còn ngàn cân treo sợi tóc, huống hồ. Và rất dễ hiểu vì sao Trần Thủ Độ không tha Lý Huệ Tôn, bức chết cả khi nhà vua đã nhường ngôi cho ta, xuống tóc quy y. Có vậy mới thỏa nỗi hận của một người tình với một tình địch.
- Đáng thương ông vua bệnh hoạn thất thế. Cương thở dài.
- Sự đời luôn cay đắng như vậy. Nhưng ta hoàn toàn khâm phục quan Điện tiền chỉ huy sứ Trần Thủ Độ. Đó là người đàn ông đích thực, dám vì nghiệp lớn hy sinh tình riêng, lại dám vì tình yêu bất chấp tất cả. Sau khi dựng cơ đồ xong, người đàng hoàng đón mẹ ta về chung sống, thủy chung suốt đời, dành trọn vẹn tình yêu duy nhất cho người đàn bà duy nhất, không màng danh vọng chức tước, không hề lập thêm phu nhân nào khác.
Cương nắm lấy tay tôi, cười rất dịu dàng:
- Mình cũng cố noi tư cách phong độ của một chàng trai ngư dân, không kém chút nào đâu Lý Chiêu Hoàng ạ.
*
* *
Ta, Lý Chiêu Hoàng, vị vua gái thứ chín triều Lý. Ta lên ngôi thiên tử lúc bảy tuổi. Nói chính xác, ta mới sinh ra đời sáu năm một tháng đã được đặt lên ngai vàng. Thoạt tiên đang là công chúa Chiêu Thánh ta bỗng nhận sắc phong của phụ hoàng Lý Huệ Tôn lập làm Hoàng thái tử rồi truyền ngôi cho. Hừm, sau này ta mới hay cha đẻ đích thực của ta đã không thể chờ lâu hơn, người muốn đi thật mau tới cái đích lớn lao đúng thời cơ đã định.
Thế là vì tình hình thế sự, ta thành vị Vua gái đầu tiên trong lịch sử Đại Việt. Bảy tuổi, ta nhớ rằng khi ấy mới khỏi bệnh đái dầm, vẫn sợ hết hồn những đêm trời nổi dông gió sấm sét. Khi dạo chơi cùng các phu nhân trong vườn thượng uyển ta khóc thét vì một con bướm đậu vào vai áo gấm. Ngày đăng quang, quan đại thần Phụ quốc Thái úy Trần Thừa, ông bác ruột đồng thời là bố chồng ta sau này, khoác lên vai ta tấm áo hoàng bào chẳng khác một tấm chăn vàng ngọc thùng thình, nặng trịch, phải hai thị vệ đứng bên nâng giùm. Nếu không, chắc chắn ta đổ sụp dưới sức nặng của nó.
Các ông quan văn võ đứng xếp hai hàng dưới sân rồng. Trước con mắt ngơ ngác của ta, họ bỗng quỳ sụp cả xuống tung hô vạn tuế. Ta cố nén sợ lấy hết sức hét to như mẫu hậu dặn:
- Miễn lễ! Các khanh bình thân!
Ta nghe rõ giọng trẻ con của ta vang lên khắp cung điện mênh mông im lặng như tờ.
- Chúng thần tạ ân hoàng thượng. Kính dâng thiên tử hai chữ vạn thọ như cương.
Ông quan đứng đầu hô tiếp rồi tất cả đồng thanh:
- Thánh thượng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!
Tiếng hô như sấm rền. Ta giật mình làm lệch cái mũ triều thiên suýt rơi. May sao thị vệ đứng bên giúp ta kịp giữ. Mong cho mọi nghi lễ khó chịu này sớm chấm dứt để ta trở về cung thôi.
Sau đó yến tiệc linh đình. Họ bày trò múa hát vui lắm.
Xem ra lên ngôi vua cũng chẳng có gì mới. Ta vẫn luôn phải đánh lừa hoàng bà (nhũ mẫu của vua) nhổ những ngụm thang sặc vị thuốc bắc, do ông ngự y râu dài buộc ta uống. Mặt ông ấy nghiêm như tượng đá khiến ta rất sợ.
Lên ngôi trời chỉ có nghĩa mỗi đêm hoàng bà bế ta đi tiểu phải cung kính nói:
- Muôn tâu thánh thượng, xin thứ tội cho phép thần được hầu hạ.
Trong lúc mơ màng ngái ngủ, nghe thấy thế ta gà gật lẩm nhẩm:
- Mình là Vua... là Vua…
Để nhập tâm điều đó không dễ. Mỗi khi vào vấn an Thái hậu, ta buộc phải xưng Hoàng nhi, phải lạy chào đúng lễ, không được chạy ào tới ôm chầm mẹ, phải nhận lễ ngược lại của chị gái ta là công chúa Thuận Thiên mỗi khi gặp mặt. Thật khó chịu những thứ lẩm cẩm ấy.
Và cũng thật phức tạp không thể tưởng được những nghi lễ triều chính. Thái hậu luôn kèm cặp ta không ngơi, và chưa lúc nào ta vuột khỏi ánh mắt quan tâm săn sóc của quan Điện tiền Chỉ huy sứ Trần Thủ Độ. Ta được mẹ dạy phải luôn nhất nhất vâng lời con người này, dù chưa thể hiểu ngọn nguồn vì sao.
Nhưng bằng linh cảm ta biết người đó chính thực là cha đẻ ta. Nhất là khi mẹ ta rời cung về sống với quan Điện tiền. Ta biết chứ.
(còn nữa)
_______________________________________________
Thứ Bảy, 18 tháng 9, 2010
Con Mốc
Truyện ngắn của ĐOÀN LÊ
Người ta bảo: chó chết, hết chuyện. Xem ra con Mốc xóm Chùa đã chết cho hết chuyện.
Mốc, tên con chó cái lai của lão kép cải lương. Nó đẻ được ba lứa rồi ốm lay lắt như người đàn bà hậu sản, hôm nay chết còng queo ở xó vườn. Nguyên nhân dẫn đến cái chết có thể do nó bị đói khát kinh niên. Bởi từ dạo bà vợ đi theo tiên tổ, lão kép cải lương sống trơ thân cụ, rất coi khinh cái sự ăn uống. Gặp gì ăn nấy, bốc bải cho xong bữa, chỉ rượu là tài. Lão bảo rượu đích thị tinh gạo, lại chả bổ. Con chó không uống được rượu, không nốc được chút tinh gạo vào ruột, do vậy gầy trơ xương. Giống chó, nó giữ đúng câu: chó không chê chủ. Đói quá không nhịn được, nó lang thang tha thẩn các bãi rác khắp làng sục sạo, rồi lại về phủ phục dưới chân lão già.
Tội nghiệp, thế cũng yên phận. Sinh thời nó thường được dùng làm biểu tượng để lão kép ám chỉ những điều chướng tai gai mắt. Ví như muốn chửi khéo cô nhân tình dặt dẹo khiến lão ngứa mắt, lão bô bô mắng con Mốc giữa đám bạn bè tụ bạ:
- Nỡm chửa, mày phải nhớ mẹ mày gốc quê mắt toét chính cống nhá. Ông đã gọi mày là Mốc để mày đừng quên. Giờ mày ra cái điều được dính tí máu Tây, mông to như lồng bàn, váy xẻ ngược xẻ xuôi lấy mẽ, trông lộn ruột lắm!
Cô nhân tình điên tiết, dỗi không cho lão động đến người bữa đó.
- Sao, mày dám chê không ăn hả? Thứ này gọi đúng danh thơ chấm mắm tôm đấy con ạ.
Là lão nói kháy ông bạn thơ rượu ngồi trước mặt. Ai chấp. Lão trái tính, trở mặt như bàn tay, khen đấy, chửi đấy, móc máy văn vẻ tựa con bò cạp độc. Chửi quen miệng rồi. Xưa còn mồ ma vợ lão, bà ta đã phải kêu lên:
- Khiếp, ông được mỗi tài róc rỉa thiên hạ. Ông có biết nghề chính của ông là gì không? Thưa, nghề làm bố thiên hạ đấy ạ. Cấm thấy sờ lên gáy.
Gáy mình lạ gì phải sờ? Bây giờ lão qua ngưỡng thất thập cổ lai hy, càng thích nói cho sướng miệng. Chính phủ à? Quốc hội à? Ôbama à? Chuyện gì lão cũng có thể nhếch một bên mép, phán tung hoăng. Thiên hạ biết tính lão nên chẳng ai muốn nối lời. Lão lại ngỡ họ… phục sát đất, càng nói tợn!
Sĩ Thái sư, nhân vật nổi tiếng xóm Chùa, thi thoảng vẫn đủng đỉnh xuống cuối làng thăm lão già dở chứng chết ấy. Ông chịu đựng mãi cũng quen đi. Không ai muốn qua lại ngó ngàng đến lão kép hát, song ông vẫn giữ nguyên một lời hứa với người đã khuất. Dạo đó, khi thăm vợ lão kép trước lúc bà ta qua đời, chính bà đã nhìn Sĩ Thái sư với ánh mắt trao gửi rầu rĩ.
- Bác ơi, chỉ có bác chân tình với ông cháu. Sau này tôi đi rồi, mong bác đừng bỏ ông ấy, bác qua lại cho nhà cửa đỡ vắng vẻ.
Ông giữ đúng lời hứa. Bị mọi người gọi gàn bát sách ông cũng lờ. Không còn bóng ông ra vào, căn nhà cuối xóm dễ thành nhà hoang.
Hôm nay vừa tới sân, Sĩ Thái sư ngạc nhiên thấy lão kép tề chỉnh quần áo hơn mọi bữa.
- Ông tạo dáng đi đâu mà choáng thế ?
- Tôi đi thăm thú đám khiếu kiện ông ạ. Mình là lãnh đạo, đôi khi cũng phải hé mắt nhìn xuống dân một tí chứ. Nói để ông biết, ngoài nghĩa địa xóm Chùa nhà ta cũng rặt dân khiếu kiện, chật cả sân Diêm Vương đấy.
Lão kép vênh cái mặt lên. Gớm chửa, xưa rày lão chỉ thích đóng vai lãnh đạo, càng cao cấp càng hăng. Và Sĩ Thái sư hiểu lão kép nhắc khéo đến vụ kiện tụng đất cát đang rùm beng cả làng kia.
Sĩ Thái sư hùa theo:
- Thưa vâng. Vậy tôi có phải về để “lãnh đạo” đi thị sát tình hình không?
Lúc đó lão kép mới chùng mặt xuống, nhe răng cười nhẹ:
- ấy, đi rồi. Vừa về. Là đi mua đôi dép mới. Phàm cái gì đổi mới cũng tốt cụ ạ.
- Thì vưỡn!
- Mừng đổi mới, tôi pha ấm chè Ô Long cháu nó vừa gửi biếu để hai ta thưởng thức nhá!
Trà Ô Long pha nước mưa hứng tàu cau còn gì bằng. Lão kép bày sẵn bàn trà bên thềm ngôi nhà thờ nhỏ rêu phong cho thêm thi vị. Mấy chùm hoa mộc li ti lão kép hái ngay trên cây bỏ vào ấm, giờ phảng phất tỏa lên thứ hương thật thanh tao quý phái.
Lão kép khơi mào câu chuyện sau tuần trà đầu tiên:
- Giời oái oăm lắm. Người đẻ sòn sòn, đất lại không nở thêm lấy một ly. Giá mà đất cát tự sinh sản như bèo hoa dâu có phải thiên hạ đỡ kiện tụng nhau không.
Trầm ngâm giây lát, Sĩ Thái sư bỗng hỏi:
- Ông đã nghe chúng nó sắp làm lễ khởi công sân gôn chưa?
- Dám khởi công? Còn bao nhiêu đơn từ phản đối, đã ngã ngũ đâu?
- Phản đối ư? Chúng nó thì… thì đập tiền tấn vào mặt, khắc xong tất.
- Đã đành. Cái chính chúng đập tiền tấn vào mặt ai cơ? Mặt dân đen chúng cóc cần đập cho phí tay.
- Thì vưỡn!
Vừa mới nói đến đấy cả hai lão bỗng dỏng tai nghe. Cái gì ầm ĩ thế? Nghe rõ tiếng quát tháo hò hét ghê người. Hai lão ngồi lặng, đưa mắt cho nhau. Đấy, cuộc sống nhốn nháo không còn ra thể thống gì nữa. Sao mà buồn! Cái xóm Chùa êm ả xưa, ra đường gặp nhau chắp tay vái chào đã lui vào sân khấu cổ tích. Giờ ra đường chậm chân không tránh kịp, xe máy nó tông ngã chổng vó. Nó tha chửi là phúc, lại mong nó vái mình cơ. Hóa ra xóm Chùa chỉ giữ mấy chữ Nho đầu cổng làng làm sang thôi. Triều phục thôn!
Thoáng thấy bóng lão Bân đi qua ngõ, roi bò ve vẩy trong tay, Sĩ Thái sư ơi ới gọi:
- Ông Bân, làm chén nước đã!
Lão Bân hơi ngần ngừ, nhưng cái tính bẻo lẻo xui chân lão rẽ luôn vào ngõ.
- Ui chao, các cụ ngồi bình chân như vại quá nhỉ? Không ra xem người ta sắp giết nhau kia kìa.
- Ai giết ai?
- Anh em thằng chủ tịch Nhì.
- Cứ tưởng anh em nó phe cánh với nhau chứ.
- Phe cũng chẳng bằng tiền. Phen này giết nhau thì có.
Giọng tưng tửng lão Bân kể thành hồi thành chương như kể Tam Quốc diễn nghĩa, mặc dù ai cũng đã lơ mơ ít nhiều biết chuyện. Chuyện rằng đám quan chức xã chắc hẳn vớ bẫm khi giải quyết đất cho làm sân gôn. Chủ tịch Nhì đầu trò vụ này nên rất quyết liệt trấn áp đám dân không chịu nhận tiền đền bù bán đất. Ai ngờ hôm trước lộ ra lão giáo Nhất, anh ruột chủ tịch, đứng đầu đơn khiếu nại lên huyện, lên tỉnh chứ ai. Sáng nay bảnh mắt ông em đã đến dọa đưa ông anh ra công an. Lão Nhất điên tiết vớ chày giã cốm đuổi đánh chủ tịch Nhì. Không có người can, khéo chừng anh em họ bữa nay thịt nhau.
- Đấy, đồng tiền đảo lộn nhân tình. Chả trách người ta gọi nó là đồng bạc.
Lão Bân hấp háy đôi mắt ranh mãnh buông một câu kết luận.
Sĩ Thái sư hỏi lấp lửng:
- Thằng Quân nhà ông nghe nói nhận tiền đền bù rồi kia mà?
- Nói làm gì cái thằng ngẩn ngơ ấy. Nghe người ta xui khôn xui dại nhận tiền buổi sáng, buổi chiều tôi bắt mang trả tắp lự. Định bán đất ra làm xe ôm ngoài tỉnh. Rõ ngu như chó. Tí đất ấy rau cháo cũng nuôi sống cả nhà nó, đời con, đời cháu mãi mãi. Bán đi vài chục triệu mua cái xe ôm, chỉ vắt mũi bỏ miệng được mình thần xác nó thôi. Vài năm xe rã vứt đi là tuyệt đường sinh sống.
Lão kép tư lự:
- Con cháu nó muốn đổi đời ông ạ. Cắm mặt xuống ruộng cũng khổ ngang kiếp con trâu, sung sướng gì?
- Đã đành. Nhưng cha ông tổ tiên mình sống đến giờ đều trông miếng đất ấy cả. Nay lấy đất nông nghiệp làm sân gôn phục vụ mấy thằng cha rửng mỡ, giúp cho mấy thằng đầu cơ hốt tiền, có khác gì nhà nước bòn nơi khố rách đãi nơi quần hồng kia chứ?
Một khi lão Bân giở món tranh luận ra, cấm ai theo kịp. Mặt lão nổi gân, mắt hiếng nhìn trời, tựa hồ lão không thèm đếm xỉa cái thằng đối thoại kém cỏi trước mặt. Trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, bị mỗi bệnh táo bón kinh niên nên lão hay nổi nóng lý sự thôi.
Nghe tiếng lão Bân nói như quát, con Mốc sợ hãi cố lê từ gầm bàn thờ trong nhà ra ngoài thềm... Gớm các ông ơi, chỉ giỏi võ mồm góc nhà. Dễ không sợ thằng công an xã con nhà Quảng à? Mà sao cứ làm như bị giằng lấy mất khúc xương thế? Thôi, kính các ông tranh cãi, con đi tìm hớp nước...
Khi qua chỗ các lão ngồi, con Mốc lấm lét giống người có lỗi. Lão kép nhìn thấy con Mốc vội gọi:
- Mốc, êu Mốc!
Con chó cái nghe chủ gọi dừng lại, đứng ì ra đó. Được lão kép vất đến tận mõm một cái bánh rán, nó ngửi qua, không ăn, chỉ ngước đôi mắt rầu rĩ ậng nước, nhìn đăm đắm vào mắt chủ. Ông ơi, ăn uống bây giờ chẳng được nữa rồi. Miệng đắng ngăn ngắt. Sắp tới sợ rằng con không còn nhìn thấy ông nữa thôi. Con mệnh hệ nào, xin ông tha lỗi cho con đã không hầu hạ bầu bạn cùng ông trọn tình trọn nghĩa. Nào con có muốn thế. Cũng do cái số phận hẩm hiu xui nên…
Con Mốc hức một tiếng rất khẽ, rồi từng bước lê đi, không một lần ngoảnh lại. Cứ đứng đấy nhìn chủ, nó thêm tan nát cõi lòng, khéo khóc mất.
Lão kép nhăn mặt nhìn theo con Mốc nghĩ ngợi, lẩm bẩm:
- Quái thật, con Mốc nghe chừng ốm quá.
Hai lão bạn mải tranh luận không để ý.
Con chó cái bỗng thèm chút mật ngọt trong chảo nấu kẹo nhà ông giáo Nhất. Nhà ông giáo cách đó một ngõ, nhưng giáp vườn nhà lão kép, bà giáo chuyên sản xuất món kẹo dồi, bánh cốm mạch nha. Hai cái chảo đại sau khi nấu mật trộn cốm xong, tầm này chúng được quẳng ra góc sân giếng, ngâm nước, bà giáo chưa rửa vội. Con Mốc thường lân la tới đó liếm láp chút nước ngọt trong chảo cho đỡ xót ruột. Hôm nay nó mệt đứt hơi, nhưng nghĩ đến chảo nước lại thèm cháy gan cháy ruột, cố liêu xiêu lê đi.
Chưa đến ngõ nhà ông giáo, nó bị đạp bắn vào gốc duối vì những bàn chân hùng hổ chạy qua. Khốn nạn, vội gì thế không biết? Theo bản năng nó định ngoặc răng vào bắp chân những kẻ thô lỗ, nhưng không còn đủ sức làm việc đó. Nó cố nén đau đớn nép vào bờ rào, vừa rên ư ử. Chao ôi, họ đang giằng xé nhau, hay đúng hơn họ đang giằng xé một bà cụ già áo quần tơi tả. Nếu con Mốc không kịp né ra xa sau cú đạp mạnh, họ giẫm bẹp ruột là cái chắc.
(còn nữa)
_____________________________________________-
Người ta bảo: chó chết, hết chuyện. Xem ra con Mốc xóm Chùa đã chết cho hết chuyện.
Mốc, tên con chó cái lai của lão kép cải lương. Nó đẻ được ba lứa rồi ốm lay lắt như người đàn bà hậu sản, hôm nay chết còng queo ở xó vườn. Nguyên nhân dẫn đến cái chết có thể do nó bị đói khát kinh niên. Bởi từ dạo bà vợ đi theo tiên tổ, lão kép cải lương sống trơ thân cụ, rất coi khinh cái sự ăn uống. Gặp gì ăn nấy, bốc bải cho xong bữa, chỉ rượu là tài. Lão bảo rượu đích thị tinh gạo, lại chả bổ. Con chó không uống được rượu, không nốc được chút tinh gạo vào ruột, do vậy gầy trơ xương. Giống chó, nó giữ đúng câu: chó không chê chủ. Đói quá không nhịn được, nó lang thang tha thẩn các bãi rác khắp làng sục sạo, rồi lại về phủ phục dưới chân lão già.
Tội nghiệp, thế cũng yên phận. Sinh thời nó thường được dùng làm biểu tượng để lão kép ám chỉ những điều chướng tai gai mắt. Ví như muốn chửi khéo cô nhân tình dặt dẹo khiến lão ngứa mắt, lão bô bô mắng con Mốc giữa đám bạn bè tụ bạ:
- Nỡm chửa, mày phải nhớ mẹ mày gốc quê mắt toét chính cống nhá. Ông đã gọi mày là Mốc để mày đừng quên. Giờ mày ra cái điều được dính tí máu Tây, mông to như lồng bàn, váy xẻ ngược xẻ xuôi lấy mẽ, trông lộn ruột lắm!
Cô nhân tình điên tiết, dỗi không cho lão động đến người bữa đó.
- Sao, mày dám chê không ăn hả? Thứ này gọi đúng danh thơ chấm mắm tôm đấy con ạ.
Là lão nói kháy ông bạn thơ rượu ngồi trước mặt. Ai chấp. Lão trái tính, trở mặt như bàn tay, khen đấy, chửi đấy, móc máy văn vẻ tựa con bò cạp độc. Chửi quen miệng rồi. Xưa còn mồ ma vợ lão, bà ta đã phải kêu lên:
- Khiếp, ông được mỗi tài róc rỉa thiên hạ. Ông có biết nghề chính của ông là gì không? Thưa, nghề làm bố thiên hạ đấy ạ. Cấm thấy sờ lên gáy.
Gáy mình lạ gì phải sờ? Bây giờ lão qua ngưỡng thất thập cổ lai hy, càng thích nói cho sướng miệng. Chính phủ à? Quốc hội à? Ôbama à? Chuyện gì lão cũng có thể nhếch một bên mép, phán tung hoăng. Thiên hạ biết tính lão nên chẳng ai muốn nối lời. Lão lại ngỡ họ… phục sát đất, càng nói tợn!
Sĩ Thái sư, nhân vật nổi tiếng xóm Chùa, thi thoảng vẫn đủng đỉnh xuống cuối làng thăm lão già dở chứng chết ấy. Ông chịu đựng mãi cũng quen đi. Không ai muốn qua lại ngó ngàng đến lão kép hát, song ông vẫn giữ nguyên một lời hứa với người đã khuất. Dạo đó, khi thăm vợ lão kép trước lúc bà ta qua đời, chính bà đã nhìn Sĩ Thái sư với ánh mắt trao gửi rầu rĩ.
- Bác ơi, chỉ có bác chân tình với ông cháu. Sau này tôi đi rồi, mong bác đừng bỏ ông ấy, bác qua lại cho nhà cửa đỡ vắng vẻ.
Ông giữ đúng lời hứa. Bị mọi người gọi gàn bát sách ông cũng lờ. Không còn bóng ông ra vào, căn nhà cuối xóm dễ thành nhà hoang.
Hôm nay vừa tới sân, Sĩ Thái sư ngạc nhiên thấy lão kép tề chỉnh quần áo hơn mọi bữa.
- Ông tạo dáng đi đâu mà choáng thế ?
- Tôi đi thăm thú đám khiếu kiện ông ạ. Mình là lãnh đạo, đôi khi cũng phải hé mắt nhìn xuống dân một tí chứ. Nói để ông biết, ngoài nghĩa địa xóm Chùa nhà ta cũng rặt dân khiếu kiện, chật cả sân Diêm Vương đấy.
Lão kép vênh cái mặt lên. Gớm chửa, xưa rày lão chỉ thích đóng vai lãnh đạo, càng cao cấp càng hăng. Và Sĩ Thái sư hiểu lão kép nhắc khéo đến vụ kiện tụng đất cát đang rùm beng cả làng kia.
Sĩ Thái sư hùa theo:
- Thưa vâng. Vậy tôi có phải về để “lãnh đạo” đi thị sát tình hình không?
Lúc đó lão kép mới chùng mặt xuống, nhe răng cười nhẹ:
- ấy, đi rồi. Vừa về. Là đi mua đôi dép mới. Phàm cái gì đổi mới cũng tốt cụ ạ.
- Thì vưỡn!
- Mừng đổi mới, tôi pha ấm chè Ô Long cháu nó vừa gửi biếu để hai ta thưởng thức nhá!
Trà Ô Long pha nước mưa hứng tàu cau còn gì bằng. Lão kép bày sẵn bàn trà bên thềm ngôi nhà thờ nhỏ rêu phong cho thêm thi vị. Mấy chùm hoa mộc li ti lão kép hái ngay trên cây bỏ vào ấm, giờ phảng phất tỏa lên thứ hương thật thanh tao quý phái.
Lão kép khơi mào câu chuyện sau tuần trà đầu tiên:
- Giời oái oăm lắm. Người đẻ sòn sòn, đất lại không nở thêm lấy một ly. Giá mà đất cát tự sinh sản như bèo hoa dâu có phải thiên hạ đỡ kiện tụng nhau không.
Trầm ngâm giây lát, Sĩ Thái sư bỗng hỏi:
- Ông đã nghe chúng nó sắp làm lễ khởi công sân gôn chưa?
- Dám khởi công? Còn bao nhiêu đơn từ phản đối, đã ngã ngũ đâu?
- Phản đối ư? Chúng nó thì… thì đập tiền tấn vào mặt, khắc xong tất.
- Đã đành. Cái chính chúng đập tiền tấn vào mặt ai cơ? Mặt dân đen chúng cóc cần đập cho phí tay.
- Thì vưỡn!
Vừa mới nói đến đấy cả hai lão bỗng dỏng tai nghe. Cái gì ầm ĩ thế? Nghe rõ tiếng quát tháo hò hét ghê người. Hai lão ngồi lặng, đưa mắt cho nhau. Đấy, cuộc sống nhốn nháo không còn ra thể thống gì nữa. Sao mà buồn! Cái xóm Chùa êm ả xưa, ra đường gặp nhau chắp tay vái chào đã lui vào sân khấu cổ tích. Giờ ra đường chậm chân không tránh kịp, xe máy nó tông ngã chổng vó. Nó tha chửi là phúc, lại mong nó vái mình cơ. Hóa ra xóm Chùa chỉ giữ mấy chữ Nho đầu cổng làng làm sang thôi. Triều phục thôn!
Thoáng thấy bóng lão Bân đi qua ngõ, roi bò ve vẩy trong tay, Sĩ Thái sư ơi ới gọi:
- Ông Bân, làm chén nước đã!
Lão Bân hơi ngần ngừ, nhưng cái tính bẻo lẻo xui chân lão rẽ luôn vào ngõ.
- Ui chao, các cụ ngồi bình chân như vại quá nhỉ? Không ra xem người ta sắp giết nhau kia kìa.
- Ai giết ai?
- Anh em thằng chủ tịch Nhì.
- Cứ tưởng anh em nó phe cánh với nhau chứ.
- Phe cũng chẳng bằng tiền. Phen này giết nhau thì có.
Giọng tưng tửng lão Bân kể thành hồi thành chương như kể Tam Quốc diễn nghĩa, mặc dù ai cũng đã lơ mơ ít nhiều biết chuyện. Chuyện rằng đám quan chức xã chắc hẳn vớ bẫm khi giải quyết đất cho làm sân gôn. Chủ tịch Nhì đầu trò vụ này nên rất quyết liệt trấn áp đám dân không chịu nhận tiền đền bù bán đất. Ai ngờ hôm trước lộ ra lão giáo Nhất, anh ruột chủ tịch, đứng đầu đơn khiếu nại lên huyện, lên tỉnh chứ ai. Sáng nay bảnh mắt ông em đã đến dọa đưa ông anh ra công an. Lão Nhất điên tiết vớ chày giã cốm đuổi đánh chủ tịch Nhì. Không có người can, khéo chừng anh em họ bữa nay thịt nhau.
- Đấy, đồng tiền đảo lộn nhân tình. Chả trách người ta gọi nó là đồng bạc.
Lão Bân hấp háy đôi mắt ranh mãnh buông một câu kết luận.
Sĩ Thái sư hỏi lấp lửng:
- Thằng Quân nhà ông nghe nói nhận tiền đền bù rồi kia mà?
- Nói làm gì cái thằng ngẩn ngơ ấy. Nghe người ta xui khôn xui dại nhận tiền buổi sáng, buổi chiều tôi bắt mang trả tắp lự. Định bán đất ra làm xe ôm ngoài tỉnh. Rõ ngu như chó. Tí đất ấy rau cháo cũng nuôi sống cả nhà nó, đời con, đời cháu mãi mãi. Bán đi vài chục triệu mua cái xe ôm, chỉ vắt mũi bỏ miệng được mình thần xác nó thôi. Vài năm xe rã vứt đi là tuyệt đường sinh sống.
Lão kép tư lự:
- Con cháu nó muốn đổi đời ông ạ. Cắm mặt xuống ruộng cũng khổ ngang kiếp con trâu, sung sướng gì?
- Đã đành. Nhưng cha ông tổ tiên mình sống đến giờ đều trông miếng đất ấy cả. Nay lấy đất nông nghiệp làm sân gôn phục vụ mấy thằng cha rửng mỡ, giúp cho mấy thằng đầu cơ hốt tiền, có khác gì nhà nước bòn nơi khố rách đãi nơi quần hồng kia chứ?
Một khi lão Bân giở món tranh luận ra, cấm ai theo kịp. Mặt lão nổi gân, mắt hiếng nhìn trời, tựa hồ lão không thèm đếm xỉa cái thằng đối thoại kém cỏi trước mặt. Trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, bị mỗi bệnh táo bón kinh niên nên lão hay nổi nóng lý sự thôi.
Nghe tiếng lão Bân nói như quát, con Mốc sợ hãi cố lê từ gầm bàn thờ trong nhà ra ngoài thềm... Gớm các ông ơi, chỉ giỏi võ mồm góc nhà. Dễ không sợ thằng công an xã con nhà Quảng à? Mà sao cứ làm như bị giằng lấy mất khúc xương thế? Thôi, kính các ông tranh cãi, con đi tìm hớp nước...
Khi qua chỗ các lão ngồi, con Mốc lấm lét giống người có lỗi. Lão kép nhìn thấy con Mốc vội gọi:
- Mốc, êu Mốc!
Con chó cái nghe chủ gọi dừng lại, đứng ì ra đó. Được lão kép vất đến tận mõm một cái bánh rán, nó ngửi qua, không ăn, chỉ ngước đôi mắt rầu rĩ ậng nước, nhìn đăm đắm vào mắt chủ. Ông ơi, ăn uống bây giờ chẳng được nữa rồi. Miệng đắng ngăn ngắt. Sắp tới sợ rằng con không còn nhìn thấy ông nữa thôi. Con mệnh hệ nào, xin ông tha lỗi cho con đã không hầu hạ bầu bạn cùng ông trọn tình trọn nghĩa. Nào con có muốn thế. Cũng do cái số phận hẩm hiu xui nên…
Con Mốc hức một tiếng rất khẽ, rồi từng bước lê đi, không một lần ngoảnh lại. Cứ đứng đấy nhìn chủ, nó thêm tan nát cõi lòng, khéo khóc mất.
Lão kép nhăn mặt nhìn theo con Mốc nghĩ ngợi, lẩm bẩm:
- Quái thật, con Mốc nghe chừng ốm quá.
Hai lão bạn mải tranh luận không để ý.
Con chó cái bỗng thèm chút mật ngọt trong chảo nấu kẹo nhà ông giáo Nhất. Nhà ông giáo cách đó một ngõ, nhưng giáp vườn nhà lão kép, bà giáo chuyên sản xuất món kẹo dồi, bánh cốm mạch nha. Hai cái chảo đại sau khi nấu mật trộn cốm xong, tầm này chúng được quẳng ra góc sân giếng, ngâm nước, bà giáo chưa rửa vội. Con Mốc thường lân la tới đó liếm láp chút nước ngọt trong chảo cho đỡ xót ruột. Hôm nay nó mệt đứt hơi, nhưng nghĩ đến chảo nước lại thèm cháy gan cháy ruột, cố liêu xiêu lê đi.
Chưa đến ngõ nhà ông giáo, nó bị đạp bắn vào gốc duối vì những bàn chân hùng hổ chạy qua. Khốn nạn, vội gì thế không biết? Theo bản năng nó định ngoặc răng vào bắp chân những kẻ thô lỗ, nhưng không còn đủ sức làm việc đó. Nó cố nén đau đớn nép vào bờ rào, vừa rên ư ử. Chao ôi, họ đang giằng xé nhau, hay đúng hơn họ đang giằng xé một bà cụ già áo quần tơi tả. Nếu con Mốc không kịp né ra xa sau cú đạp mạnh, họ giẫm bẹp ruột là cái chắc.
(còn nữa)
_____________________________________________-
Thứ Bảy, 5 tháng 6, 2010
Nhập hồn (Phần 1)
Truyện ngắn của Đoàn Lê
Ông uể oải buông màn. Cái giường mỗi ngày như rộng thêm ra. Khi cúi xuống giắt màn, trong một thoáng ông bỗng bắt gặp phảng phất mùi thơm của nước lá gội đầu. Đúng thế, không lẫn được. Cái mùi ấy... quái lạ, mùi hương nhu không sai. Ôi cái mùi... nó khiến ông nôn nao nỗi nhớ.
Ông nằm xuống, thở một hơi dài.
Thế cũng tiêu xong được một ngày!
Từ khi vắng bóng Huệ, ông nhận ra thời gian dài dặc, cố tiêu mãi mới hết. Tiêu là tiêu pha, tiêu tán, tiêu diệt... Tiêu xong một ngày thực rất chật vật. Bởi như lời một bài thơ xa xưa ông còn nhớ: “Ngày dài và đêm cũng dài. Vì ta sống trong cô đơn lạnh lẽo...” Rồi đến lúc nào đó sẽ thấy chuyện phải sống là một cực hình, chẳng sung sướng gì đâu.
Cũng bởi ông cổ hủ, không giống mấy ông bạn ngoài bảy mươi vẫn kéo nhau đi câu lạc bộ nhảy đầm, đi câu cá rồi picnic tại chỗ. Họ kháo nhau những sinh hoạt lành mạnh ấy khiến họ hào hứng sống, trẻ hẳn lại. Thậm chí họ còn hồi xuân, bắt bồ với mấy bà bạn trên sàn nhảy ngon lành nữa kia.
Chậc, mong họ được sống thỏa thích. Từ lâu, đến niềm đam mê hội họa ông theo đuổi suốt đời cũng nguội dần. Ông ngẫm nghĩ tự hỏi: nếu quả thật lẽ sống đời ông đã cạn, ông còn lý do nào để tồn tại?
Ông muốn tắt ngọn đèn đêm. Ánh sáng dù rất dịu cũng khiến ông mất ngủ. Hoàn cảnh đơn độc của ông từ trẻ đến già đã tạo cho ông những thói quen không thể thay đổi. Hình như ánh sáng bắt ông phải ra khỏi giường, tới ngồi trước giá vẽ, mặc dầu đầu óc trống rỗng. Có thể vì cái giường ngủ kê gọn ở góc căn phòng lớn trên gác hai, nơi ông vẽ ban ngày, ngủ ban đêm, hoặc ngược lại ngủ ban ngày, vẽ ban đêm rất thuận tiện, không cần tách bạch.
Nhưng mới chạm vào công tắc, ông bỗng giật mình dừng tay lại. Ánh mắt ông vừa chợt lướt qua bức tranh Thiếu nữ với hoa ngọc trâm treo ngay giữa bức tường đối diện, nơi ông hàng ngày quen nằm dài trên giường ngắm nó. Có cái gì khác lạ thế nhỉ? Cái gì thế?
Ông nhỏm dậy vén màn đi ra, bật ngọn đèn lớn. Chưa tới sát bức tranh ông đã chết sững. Bức tranh này ông vẽ Huệ đứng khỏa thân bên khóm hoa ngọc trâm. Người ta chỉ nhìn thấy nàng từ phía sau, một tấm lưng thiếu nữ trắng ngần vô cùng gợi cảm. Bức tranh ông đã thân thuộc mỗi vết màu, mỗi vùng phớt thẫm dịu dàng, như thể nhắm mắt ông cũng hình dung ra miền da thịt thương nhớ từng run rẩy dưới bàn tay ông... Giờ đây tấm lưng trong bức tranh óng ánh những giọt nước đọng lại, tựa hồ mồ hôi Huệ đang không ngừng túa ra.
Thế là thế nào? Ông biết vùng đất bờ biển ẩm ướt mặn mòi không dễ giữ cho tranh khỏi hư hỏng. Nhưng những ngày này đâu phải gió nồm nam thời điểm mưa xuân dầm dề? Tất cả những bức tranh khác đều khô ráo, ổn định cả đấy thôi. Không, nhất định có chuyện gì không ổn đây.
Loay hoay một lát, ông định tìm khăn thấm nước bức tranh nhưng kịp dừng lại. A, lúc chiều ông ra biển dạo chơi một lát như thường lệ, chả lẽ lão Hiệng dám lau nước lên bức tranh trong khi dọn dẹp ư? Lão dám liều thế ư? Mà không lão thì ai? Rành rành nước vẫn đọng từng giọt đây thôi?
Ông tức giận nhấn chuông.
Không đầy một phút, tiếng bước chân hấp tấp của lão Hiệng chạy lên. Bộ mặt ngái ngủ của lão ngơ ngác xuất hiện.
- Thưa ông, ông gọi cháu đấy ạ?
Dù đã năm mươi tám tuổi nhưng lão Hiệng một mực kính cẩn xưng cháu với ông chủ gần bảy mươi.
- Ông lại gần đây. Đây, ông nhìn xem, thế là thế nào?
- Thưa... thưa, ông nói về những giọt nước ấy ạ?
- Chiều nay ông có lên thu dọn trên gác này không?
- Dạ, cháu có lên thu dọn... Nhưng thưa ông, đời nào cháu dám động vào những bức tranh. Cháu lại chả biết công việc của mình từ vài chục năm nay rồi sao?
- Vậy những giọt nước ở đâu ra?
- Cháu không biết thưa ông.
- Lạ thật. Nhà có ông với tôi, hỏi còn ai vào đây?
- Ông... ông nhìn kỹ xem, có lẽ... tự bức tranh. Nếu bị té nước thì cây cối hoa lá cũng phải ướt chứ ạ. Sao lại...
Lão Hiệng liếc mắt thật nhanh nhìn ông với đầy ẩn ý. Hơn ai hết lão biết ông mới vẽ bức tranh Thiếu nữ với hoa ngọc trâm dăm tháng trước, trong lúc lão về quê chăm vợ ốm. Lão cũng thừa biết người đứng mẫu là Huệ, cháu họ lão, người lão thường nhờ tới đây làm việc thay mình khi bất đắc dĩ phải vắng mặt. Còn ai có mái tóc dài như thế cơ chứ? Nhưng lão tế nhị không bao giờ hé răng đả động tới bức tranh.
Ông chợt nhận thấy lão Hiệng có lý. Phải, nếu bức tranh bị té nước, thể nào cũng có giọt bắn ra chung quanh. Đằng này chỉ thân hình người thiếu nữ ướt át thôi. Ông nhìn kỹ cả khung tranh gỗ phía dưới. Vẫn khô nguyên!
- Thôi được rồi. Để tôi tìm hiểu. Ông xuống đi ngủ đi.
Ông dịu giọng. Lão Hiệng đi xuống sau khi lại liếc nhanh ông một lần nữa.
Dù sao, trước nhất cũng phải lau khô bức tranh đã.
Lấy cái khăn sạch ông khẽ khàng thấm từng giọt nước... như thể ông đang khẽ khàng thấm khô tấm lưng trần của nàng với bao kỷ niệm xót xa tràn về tựa thác lũ. Nào, em hãy để tôi lau những giọt mồ hôi cho em. Bờ vai này tôi hay nhẹ hôn vào đó. Mái tóc hương nhu này tôi thường lặng lẽ hít hà, vùi mặt trong cái mát rười rượi. Eo lưng này tôi ôm chưa khít vòng tay, không dám siết chặt. Có còn một ly da thịt nào tôi chưa đặt môi mình lên trên? Em ơi... em có cảm nhận ra bàn tay tôi âu yếm xoa nhẹ trên lưng em đây không? Tôi đoán giờ này em đã xong mọi việc chăm nom người chồng tâm thần, rồi nhẹ nhàng ngả lưng xuống giường trong lúc chưa dứt lo toan bữa cơm ngày mai. Em vẫn kể đây chính là giây phút em bớt ra sống với khoảng trời riêng của em. Liệu hình ảnh tôi có được lởn vởn chút nào bên em không? Em có nhớ tôi chút nào như tôi vẫn nhớ em quay quắt đây không?
Bức tranh đã khô ráo trở lại. Ông không dám nhìn lâu, vội đi vào giường nằm. Ông biết đêm nay rồi sẽ thức trắng. Vẫn để đèn sáng, ông mở cuốn truyện kinh dị đọc vài trang hy vọng mỏi con mắt. Hừm, xem ra thế giới không còn gì hấp dẫn ngoài những chuyện kinh dị.
Chợt cái điện thoại di động ở đầu giường réo chuông. Ông lại giật mình. Ai gọi giờ này? Đồng hồ trong phòng chỉ nửa đêm rồi. Huệ ư? Đúng là Huệ. Hẳn nàng thừa biết ông mong mỏi tin nàng chừng nào. Ông chợt nghĩ tới chuyện thần giao cách cảm. Tim ông nảy lên.
Nhưng ông chưa kịp cầm lấy điện thoại nó đã im bặt. Quái lạ thật. Bấm xem số máy gọi đến, ông ngạc nhiên nhận ra một dãy số 3 không thể hiểu nổi. Gần đây ông nghe láng máng những kẻ nghịch ngợm thường hay trêu thiên hạ bằng điện thoại di động đủ mọi kiểu. Ai ngờ nó tới với ông bất thình lình cũng chẳng khác một chuyện kinh dị trong đêm. Hừm, đêm nay quỷ ám thật sao?
Tựa hồ trả lời ông, ánh mắt ông bắt gặp những giọt nước li ti không biết từ lúc nào lại mới óng ánh xuất hiện trên bức tranh. Chết chửa, chẳng lẽ ông thấm không được khô? Làm gì có chuyện ấy!
Ông vội tung màn, cứ chân đất đi tới bức tranh. Khẽ lấy ngón tay sờ vào mặt toan, ông nhận biết rành rành nó đang rịn nước thật. Ông thận trọng đưa lên gần mũi. Chao ôi, chỉ thấy phảng phất mùi hương nhu! Huệ ơi, có phải em muốn thầm nhắn với tôi chăng? Đã vậy tôi sẽ không lau đi, để xem em muốn nói điều gì qua những giọt nước này.
Một làn gió lạnh khác thường ào tới. Có cảm giác ai đó vừa lướt qua, khẽ chạm vào da thịt ông. Ông cố ép mình không đưa mắt tới bức tranh nữa, tắt hết đèn, mò mẫm vào giường nằm.
Tất cả chìm trong bóng tối đen mướt.
Ngoài vườn chợt nổi cơn dông đêm rất mạnh. Ông nghe một tàu cau rơi loạt soạt xuống sân gạch. Con chó sủa gay gắt dăm tiếng rồi lặng ngắt. Giờ chỉ còn biển phía xa xa nổi sóng ầm ì. Không hiểu sao ông thoáng nghĩ tới một bàn tay mờ xanh, xoa lên mặt mình cùng cái buốt giá như trong cuốn sách vừa đọc. Chao ôi, bảy mươi tuổi nghĩa là cùng tuổi với những con ma già lão, có gì làm ta rùng mình được nữa?
Một con đom đóm rất to lập lòe từ cửa sổ bay vào, đậu lên lá màn. Chắc gió tạt con vật tí xíu này lọt tới phòng ông. Kìa, nó như hoảng sợ, chấp chới bay, lượn lòng vòng, ánh sáng thoi thóp bất định. Ông nín thở chờ đợi nó đáp xuống đâu đó. Nhưng con đom đóm cứ bay loạn không ngừng.
Một nỗi lo âu mơ hồ xâm chiếm ông. Hay là Huệ làm sao? Có thể Huệ đã gặp chuyện bất hạnh và muốn báo cho ông biết? Nghĩ vậy ông không còn giữ nổi bình tĩnh.
*
* *
Mờ sáng ông chuẩn bị đi chuyến xe lúc sáu giờ lên Chũ. Trước khi đi ông gọi lão Hiệng, trỏ vào bức tranh vẫn long lanh ướt bảo:
- Cứ giữ nguyên thế cho tôi, không được đụng vào nó. Chờ tôi về hãy hay.
- Vâng. Ông đi chừng nào về ạ?
- Tôi đột xuất nhận lời mời của một người bạn ở Vĩnh Yên... Này, tôi muốn tiện thể ghé thăm cô Huệ đấy, ông nhắn gì không?
- Thưa ông... Hay ông đưa giúp cháu ít tiền cho con bé thêm thắt tiêu pha. Thế có được không ạ? Ông cũng hỏi hộ xem lâu nay cháu nó bận việc gì không thấy xuống dưới này đi chợ. Sợ thằng chồng điên khùng giở bệnh nặng, đánh cho không ngóc dậy được thì khổ. Ông xuống bến xe, rẽ tay phải chừng vài trăm mét hỏi thăm nhà cháu khắc ai cũng biết.
Đáng lẽ ông không cầm mấy chục bạc cũ kỹ mà lão Hiệng lôi từ đáy hòm ra. Ông đã rút hết tiết kiệm còn lại trong sổ, chuẩn bị mang theo tất năm triệu tiền mặt đây rồi. Nhưng ông muốn có lý do để tìm đến nhà Huệ.
- Ông nhớ xuống bến xe cứ rẽ tay phải.
Lão Hiệng sợ ông quên, dặn thêm lần nữa.
Lão chẳng cần dặn ông cũng đã nghe Huệ kể. Bao lâu nay ông tâm niệm sẽ đích thân lên thăm nhà Huệ một lần. Để biết ngọn nguồn. Nhưng Huệ luôn ngăn cản. Nàng mặc cảm hoàn cảnh khốn khổ không muốn ông biết quá rõ hay còn vì lý do nào khác?
Thật sự ông gặp nàng từ rất nhiều năm nay, mỗi dịp nàng quẩy gánh chè chai lông vịt ghé thăm lão Hiệng. Lần đầu tiên gặp nàng, ông hơi bất ngờ thấy lão giúp việc có cô cháu họ xinh xắn như vậy, lại thưa gửi rất dịu dàng lễ độ.
- Là cháu rủ rê con bé xuống đây kiếm sống. Ông tính làm cô giáo cấp một đói bục dạ dày chứ bỡn. Đấy, giờ nó kiếm dăm bảy chục một ngày ngon lành. Chai lọ vùng biển du lịch có mà ựa. Tội nghiệp, nó đi thu gom sáu ngày trong tuần thôi, rồi hớt hải mua sắm để hai ngày cuối về chăm thằng chồng thần kinh. Lắm lúc thằng ấy nổi cơn điên đánh cho thâm tím mặt mũi, nó chỉ khóc chứ không bỏ mới tài. May sinh được thằng con trai học hành giỏi giang, lại ngoan lắm ông ạ
Ông xót xa thương một kiếp đàn bà. Nào đui què mẻ sứt cho cam! Cũng muốn có đôi lời an ủi động viên nhưng ông rất ít dịp giáp mặt với Huệ. Kể cả khi lão Hiệng về quê thăm nhà dăm hôm, Huệ phải tới đây giúp lão, đêm đêm nàng ở lại, không về nhà trọ cách bãi biển cả bảy cây số, nhưng nàng cũng chẳng mấy lúc rảnh rỗi trò chuyện với ông.
Đầu tháng tám năm ngoái lão Hiệng xin phép về quê giỗ tổ. Đương nhiên đã có Huệ tới lo công việc hộ lão. Ông không quan tâm nhưng vô cớ thấy mình không vui. Ông ngại ăn ở phải giữ gìn trước mặt người lạ. Đành rằng Huệ kém ông khá nhiều tuổi, đáng tuổi con ông. Nếu ông lấy vợ chắc chắn con ông lớn ngần ấy. Rất tiếc cuộc đời ông chưa từng gắn bó với ai. Giờ ông tự thấy mình thật vụng về trước mặt đàn bà, chỉ lo sơ suất.
Đêm đầu tiên Huệ ở lại lần ấy gặp ngay trận bão khủng khiếp. Gió gầm rú, nhà cửa rung bần bật và sấm sét như giáng thẳng xuống ngôi nhà. Cây cối gãy răng rắc trong vườn, bay quăng lên mái tôn tựa bom nổ. Có tiếng chai lọ bị hất rơi vỡ dưới bếp. Lâu lắm Đồ Sơn mới xảy trận bão dữ dội thế.
Khi ra ngoài xem xét nhà cửa, ông chợt thấy Huệ rúm ró ngồi ngay bậc cầu thang trước phòng gác. Nàng ngước gương mặt lo sợ đầm đìa nước mắt lên nhìn ông. Anh mắt van vỉ cầu cứu thật tội nghiệp. Có thể nàng đã ngồi đây hy vọng ông xuất hiện từ chập tối, lúc cơn bão bắt đầu cũng nên. Ông đặt tay lên vai nàng, dịu dàng trấn an:
- Sao thế? Cô Huệ không ngủ được à? Cứ bình tĩnh, việc gì phải sợ quá vậy?
- Cháu...
Nàng cố nén nức nở. Mãi sau này ông mới biết cả hai bố mẹ nàng đều chết do sét đánh ngay giữa ruộng khi Huệ mới sáu tuổi. Ký ức đau đớn kinh hoàng ấy ám ảnh nàng đến mức bệnh hoạn. Huệ không giữ nổi bình tĩnh mỗi khi ngoài trời dông bão sấm sét, thậm chí nàng bất tỉnh hoặc lên cơn co giật.
Dưới nhà, cửa sổ phòng lão Hiệng kính vỡ loảng xoảng. Hình như mái tôn nhà ai bay vèo xuống khu vực cuối vườn nghe rầm rầm. Chính ông cũng hoảng hồn. Điện phụt tắt ngóm. Hai bàn tay lạnh giá của Huệ níu chặt lấy ông. Ông phải dìu cái thân thể run bần bật của Huệ vào giường mình, lần mò đắp chăn ủ kín cho nàng.
(còn nữa)
___________________________________________________________
Ông uể oải buông màn. Cái giường mỗi ngày như rộng thêm ra. Khi cúi xuống giắt màn, trong một thoáng ông bỗng bắt gặp phảng phất mùi thơm của nước lá gội đầu. Đúng thế, không lẫn được. Cái mùi ấy... quái lạ, mùi hương nhu không sai. Ôi cái mùi... nó khiến ông nôn nao nỗi nhớ.
Ông nằm xuống, thở một hơi dài.
Thế cũng tiêu xong được một ngày!
Từ khi vắng bóng Huệ, ông nhận ra thời gian dài dặc, cố tiêu mãi mới hết. Tiêu là tiêu pha, tiêu tán, tiêu diệt... Tiêu xong một ngày thực rất chật vật. Bởi như lời một bài thơ xa xưa ông còn nhớ: “Ngày dài và đêm cũng dài. Vì ta sống trong cô đơn lạnh lẽo...” Rồi đến lúc nào đó sẽ thấy chuyện phải sống là một cực hình, chẳng sung sướng gì đâu.
Cũng bởi ông cổ hủ, không giống mấy ông bạn ngoài bảy mươi vẫn kéo nhau đi câu lạc bộ nhảy đầm, đi câu cá rồi picnic tại chỗ. Họ kháo nhau những sinh hoạt lành mạnh ấy khiến họ hào hứng sống, trẻ hẳn lại. Thậm chí họ còn hồi xuân, bắt bồ với mấy bà bạn trên sàn nhảy ngon lành nữa kia.
Chậc, mong họ được sống thỏa thích. Từ lâu, đến niềm đam mê hội họa ông theo đuổi suốt đời cũng nguội dần. Ông ngẫm nghĩ tự hỏi: nếu quả thật lẽ sống đời ông đã cạn, ông còn lý do nào để tồn tại?
Ông muốn tắt ngọn đèn đêm. Ánh sáng dù rất dịu cũng khiến ông mất ngủ. Hoàn cảnh đơn độc của ông từ trẻ đến già đã tạo cho ông những thói quen không thể thay đổi. Hình như ánh sáng bắt ông phải ra khỏi giường, tới ngồi trước giá vẽ, mặc dầu đầu óc trống rỗng. Có thể vì cái giường ngủ kê gọn ở góc căn phòng lớn trên gác hai, nơi ông vẽ ban ngày, ngủ ban đêm, hoặc ngược lại ngủ ban ngày, vẽ ban đêm rất thuận tiện, không cần tách bạch.
Nhưng mới chạm vào công tắc, ông bỗng giật mình dừng tay lại. Ánh mắt ông vừa chợt lướt qua bức tranh Thiếu nữ với hoa ngọc trâm treo ngay giữa bức tường đối diện, nơi ông hàng ngày quen nằm dài trên giường ngắm nó. Có cái gì khác lạ thế nhỉ? Cái gì thế?
Ông nhỏm dậy vén màn đi ra, bật ngọn đèn lớn. Chưa tới sát bức tranh ông đã chết sững. Bức tranh này ông vẽ Huệ đứng khỏa thân bên khóm hoa ngọc trâm. Người ta chỉ nhìn thấy nàng từ phía sau, một tấm lưng thiếu nữ trắng ngần vô cùng gợi cảm. Bức tranh ông đã thân thuộc mỗi vết màu, mỗi vùng phớt thẫm dịu dàng, như thể nhắm mắt ông cũng hình dung ra miền da thịt thương nhớ từng run rẩy dưới bàn tay ông... Giờ đây tấm lưng trong bức tranh óng ánh những giọt nước đọng lại, tựa hồ mồ hôi Huệ đang không ngừng túa ra.
Thế là thế nào? Ông biết vùng đất bờ biển ẩm ướt mặn mòi không dễ giữ cho tranh khỏi hư hỏng. Nhưng những ngày này đâu phải gió nồm nam thời điểm mưa xuân dầm dề? Tất cả những bức tranh khác đều khô ráo, ổn định cả đấy thôi. Không, nhất định có chuyện gì không ổn đây.
Loay hoay một lát, ông định tìm khăn thấm nước bức tranh nhưng kịp dừng lại. A, lúc chiều ông ra biển dạo chơi một lát như thường lệ, chả lẽ lão Hiệng dám lau nước lên bức tranh trong khi dọn dẹp ư? Lão dám liều thế ư? Mà không lão thì ai? Rành rành nước vẫn đọng từng giọt đây thôi?
Ông tức giận nhấn chuông.
Không đầy một phút, tiếng bước chân hấp tấp của lão Hiệng chạy lên. Bộ mặt ngái ngủ của lão ngơ ngác xuất hiện.
- Thưa ông, ông gọi cháu đấy ạ?
Dù đã năm mươi tám tuổi nhưng lão Hiệng một mực kính cẩn xưng cháu với ông chủ gần bảy mươi.
- Ông lại gần đây. Đây, ông nhìn xem, thế là thế nào?
- Thưa... thưa, ông nói về những giọt nước ấy ạ?
- Chiều nay ông có lên thu dọn trên gác này không?
- Dạ, cháu có lên thu dọn... Nhưng thưa ông, đời nào cháu dám động vào những bức tranh. Cháu lại chả biết công việc của mình từ vài chục năm nay rồi sao?
- Vậy những giọt nước ở đâu ra?
- Cháu không biết thưa ông.
- Lạ thật. Nhà có ông với tôi, hỏi còn ai vào đây?
- Ông... ông nhìn kỹ xem, có lẽ... tự bức tranh. Nếu bị té nước thì cây cối hoa lá cũng phải ướt chứ ạ. Sao lại...
Lão Hiệng liếc mắt thật nhanh nhìn ông với đầy ẩn ý. Hơn ai hết lão biết ông mới vẽ bức tranh Thiếu nữ với hoa ngọc trâm dăm tháng trước, trong lúc lão về quê chăm vợ ốm. Lão cũng thừa biết người đứng mẫu là Huệ, cháu họ lão, người lão thường nhờ tới đây làm việc thay mình khi bất đắc dĩ phải vắng mặt. Còn ai có mái tóc dài như thế cơ chứ? Nhưng lão tế nhị không bao giờ hé răng đả động tới bức tranh.
Ông chợt nhận thấy lão Hiệng có lý. Phải, nếu bức tranh bị té nước, thể nào cũng có giọt bắn ra chung quanh. Đằng này chỉ thân hình người thiếu nữ ướt át thôi. Ông nhìn kỹ cả khung tranh gỗ phía dưới. Vẫn khô nguyên!
- Thôi được rồi. Để tôi tìm hiểu. Ông xuống đi ngủ đi.
Ông dịu giọng. Lão Hiệng đi xuống sau khi lại liếc nhanh ông một lần nữa.
Dù sao, trước nhất cũng phải lau khô bức tranh đã.
Lấy cái khăn sạch ông khẽ khàng thấm từng giọt nước... như thể ông đang khẽ khàng thấm khô tấm lưng trần của nàng với bao kỷ niệm xót xa tràn về tựa thác lũ. Nào, em hãy để tôi lau những giọt mồ hôi cho em. Bờ vai này tôi hay nhẹ hôn vào đó. Mái tóc hương nhu này tôi thường lặng lẽ hít hà, vùi mặt trong cái mát rười rượi. Eo lưng này tôi ôm chưa khít vòng tay, không dám siết chặt. Có còn một ly da thịt nào tôi chưa đặt môi mình lên trên? Em ơi... em có cảm nhận ra bàn tay tôi âu yếm xoa nhẹ trên lưng em đây không? Tôi đoán giờ này em đã xong mọi việc chăm nom người chồng tâm thần, rồi nhẹ nhàng ngả lưng xuống giường trong lúc chưa dứt lo toan bữa cơm ngày mai. Em vẫn kể đây chính là giây phút em bớt ra sống với khoảng trời riêng của em. Liệu hình ảnh tôi có được lởn vởn chút nào bên em không? Em có nhớ tôi chút nào như tôi vẫn nhớ em quay quắt đây không?
Bức tranh đã khô ráo trở lại. Ông không dám nhìn lâu, vội đi vào giường nằm. Ông biết đêm nay rồi sẽ thức trắng. Vẫn để đèn sáng, ông mở cuốn truyện kinh dị đọc vài trang hy vọng mỏi con mắt. Hừm, xem ra thế giới không còn gì hấp dẫn ngoài những chuyện kinh dị.
Chợt cái điện thoại di động ở đầu giường réo chuông. Ông lại giật mình. Ai gọi giờ này? Đồng hồ trong phòng chỉ nửa đêm rồi. Huệ ư? Đúng là Huệ. Hẳn nàng thừa biết ông mong mỏi tin nàng chừng nào. Ông chợt nghĩ tới chuyện thần giao cách cảm. Tim ông nảy lên.
Nhưng ông chưa kịp cầm lấy điện thoại nó đã im bặt. Quái lạ thật. Bấm xem số máy gọi đến, ông ngạc nhiên nhận ra một dãy số 3 không thể hiểu nổi. Gần đây ông nghe láng máng những kẻ nghịch ngợm thường hay trêu thiên hạ bằng điện thoại di động đủ mọi kiểu. Ai ngờ nó tới với ông bất thình lình cũng chẳng khác một chuyện kinh dị trong đêm. Hừm, đêm nay quỷ ám thật sao?
Tựa hồ trả lời ông, ánh mắt ông bắt gặp những giọt nước li ti không biết từ lúc nào lại mới óng ánh xuất hiện trên bức tranh. Chết chửa, chẳng lẽ ông thấm không được khô? Làm gì có chuyện ấy!
Ông vội tung màn, cứ chân đất đi tới bức tranh. Khẽ lấy ngón tay sờ vào mặt toan, ông nhận biết rành rành nó đang rịn nước thật. Ông thận trọng đưa lên gần mũi. Chao ôi, chỉ thấy phảng phất mùi hương nhu! Huệ ơi, có phải em muốn thầm nhắn với tôi chăng? Đã vậy tôi sẽ không lau đi, để xem em muốn nói điều gì qua những giọt nước này.
Một làn gió lạnh khác thường ào tới. Có cảm giác ai đó vừa lướt qua, khẽ chạm vào da thịt ông. Ông cố ép mình không đưa mắt tới bức tranh nữa, tắt hết đèn, mò mẫm vào giường nằm.
Tất cả chìm trong bóng tối đen mướt.
Ngoài vườn chợt nổi cơn dông đêm rất mạnh. Ông nghe một tàu cau rơi loạt soạt xuống sân gạch. Con chó sủa gay gắt dăm tiếng rồi lặng ngắt. Giờ chỉ còn biển phía xa xa nổi sóng ầm ì. Không hiểu sao ông thoáng nghĩ tới một bàn tay mờ xanh, xoa lên mặt mình cùng cái buốt giá như trong cuốn sách vừa đọc. Chao ôi, bảy mươi tuổi nghĩa là cùng tuổi với những con ma già lão, có gì làm ta rùng mình được nữa?
Một con đom đóm rất to lập lòe từ cửa sổ bay vào, đậu lên lá màn. Chắc gió tạt con vật tí xíu này lọt tới phòng ông. Kìa, nó như hoảng sợ, chấp chới bay, lượn lòng vòng, ánh sáng thoi thóp bất định. Ông nín thở chờ đợi nó đáp xuống đâu đó. Nhưng con đom đóm cứ bay loạn không ngừng.
Một nỗi lo âu mơ hồ xâm chiếm ông. Hay là Huệ làm sao? Có thể Huệ đã gặp chuyện bất hạnh và muốn báo cho ông biết? Nghĩ vậy ông không còn giữ nổi bình tĩnh.
*
* *
Mờ sáng ông chuẩn bị đi chuyến xe lúc sáu giờ lên Chũ. Trước khi đi ông gọi lão Hiệng, trỏ vào bức tranh vẫn long lanh ướt bảo:
- Cứ giữ nguyên thế cho tôi, không được đụng vào nó. Chờ tôi về hãy hay.
- Vâng. Ông đi chừng nào về ạ?
- Tôi đột xuất nhận lời mời của một người bạn ở Vĩnh Yên... Này, tôi muốn tiện thể ghé thăm cô Huệ đấy, ông nhắn gì không?
- Thưa ông... Hay ông đưa giúp cháu ít tiền cho con bé thêm thắt tiêu pha. Thế có được không ạ? Ông cũng hỏi hộ xem lâu nay cháu nó bận việc gì không thấy xuống dưới này đi chợ. Sợ thằng chồng điên khùng giở bệnh nặng, đánh cho không ngóc dậy được thì khổ. Ông xuống bến xe, rẽ tay phải chừng vài trăm mét hỏi thăm nhà cháu khắc ai cũng biết.
Đáng lẽ ông không cầm mấy chục bạc cũ kỹ mà lão Hiệng lôi từ đáy hòm ra. Ông đã rút hết tiết kiệm còn lại trong sổ, chuẩn bị mang theo tất năm triệu tiền mặt đây rồi. Nhưng ông muốn có lý do để tìm đến nhà Huệ.
- Ông nhớ xuống bến xe cứ rẽ tay phải.
Lão Hiệng sợ ông quên, dặn thêm lần nữa.
Lão chẳng cần dặn ông cũng đã nghe Huệ kể. Bao lâu nay ông tâm niệm sẽ đích thân lên thăm nhà Huệ một lần. Để biết ngọn nguồn. Nhưng Huệ luôn ngăn cản. Nàng mặc cảm hoàn cảnh khốn khổ không muốn ông biết quá rõ hay còn vì lý do nào khác?
Thật sự ông gặp nàng từ rất nhiều năm nay, mỗi dịp nàng quẩy gánh chè chai lông vịt ghé thăm lão Hiệng. Lần đầu tiên gặp nàng, ông hơi bất ngờ thấy lão giúp việc có cô cháu họ xinh xắn như vậy, lại thưa gửi rất dịu dàng lễ độ.
- Là cháu rủ rê con bé xuống đây kiếm sống. Ông tính làm cô giáo cấp một đói bục dạ dày chứ bỡn. Đấy, giờ nó kiếm dăm bảy chục một ngày ngon lành. Chai lọ vùng biển du lịch có mà ựa. Tội nghiệp, nó đi thu gom sáu ngày trong tuần thôi, rồi hớt hải mua sắm để hai ngày cuối về chăm thằng chồng thần kinh. Lắm lúc thằng ấy nổi cơn điên đánh cho thâm tím mặt mũi, nó chỉ khóc chứ không bỏ mới tài. May sinh được thằng con trai học hành giỏi giang, lại ngoan lắm ông ạ
Ông xót xa thương một kiếp đàn bà. Nào đui què mẻ sứt cho cam! Cũng muốn có đôi lời an ủi động viên nhưng ông rất ít dịp giáp mặt với Huệ. Kể cả khi lão Hiệng về quê thăm nhà dăm hôm, Huệ phải tới đây giúp lão, đêm đêm nàng ở lại, không về nhà trọ cách bãi biển cả bảy cây số, nhưng nàng cũng chẳng mấy lúc rảnh rỗi trò chuyện với ông.
Đầu tháng tám năm ngoái lão Hiệng xin phép về quê giỗ tổ. Đương nhiên đã có Huệ tới lo công việc hộ lão. Ông không quan tâm nhưng vô cớ thấy mình không vui. Ông ngại ăn ở phải giữ gìn trước mặt người lạ. Đành rằng Huệ kém ông khá nhiều tuổi, đáng tuổi con ông. Nếu ông lấy vợ chắc chắn con ông lớn ngần ấy. Rất tiếc cuộc đời ông chưa từng gắn bó với ai. Giờ ông tự thấy mình thật vụng về trước mặt đàn bà, chỉ lo sơ suất.
Đêm đầu tiên Huệ ở lại lần ấy gặp ngay trận bão khủng khiếp. Gió gầm rú, nhà cửa rung bần bật và sấm sét như giáng thẳng xuống ngôi nhà. Cây cối gãy răng rắc trong vườn, bay quăng lên mái tôn tựa bom nổ. Có tiếng chai lọ bị hất rơi vỡ dưới bếp. Lâu lắm Đồ Sơn mới xảy trận bão dữ dội thế.
Khi ra ngoài xem xét nhà cửa, ông chợt thấy Huệ rúm ró ngồi ngay bậc cầu thang trước phòng gác. Nàng ngước gương mặt lo sợ đầm đìa nước mắt lên nhìn ông. Anh mắt van vỉ cầu cứu thật tội nghiệp. Có thể nàng đã ngồi đây hy vọng ông xuất hiện từ chập tối, lúc cơn bão bắt đầu cũng nên. Ông đặt tay lên vai nàng, dịu dàng trấn an:
- Sao thế? Cô Huệ không ngủ được à? Cứ bình tĩnh, việc gì phải sợ quá vậy?
- Cháu...
Nàng cố nén nức nở. Mãi sau này ông mới biết cả hai bố mẹ nàng đều chết do sét đánh ngay giữa ruộng khi Huệ mới sáu tuổi. Ký ức đau đớn kinh hoàng ấy ám ảnh nàng đến mức bệnh hoạn. Huệ không giữ nổi bình tĩnh mỗi khi ngoài trời dông bão sấm sét, thậm chí nàng bất tỉnh hoặc lên cơn co giật.
Dưới nhà, cửa sổ phòng lão Hiệng kính vỡ loảng xoảng. Hình như mái tôn nhà ai bay vèo xuống khu vực cuối vườn nghe rầm rầm. Chính ông cũng hoảng hồn. Điện phụt tắt ngóm. Hai bàn tay lạnh giá của Huệ níu chặt lấy ông. Ông phải dìu cái thân thể run bần bật của Huệ vào giường mình, lần mò đắp chăn ủ kín cho nàng.
(còn nữa)
___________________________________________________________
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)