Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2011

Tia nắng trời

Truyện ngắn của Tomasz Jastrun (Ba Lan)


Cách Barcelona không xa, có một ngọn núi tên là Montserrat(1). Xem ra Chúa Trời tạo ra ngọn núi này là Ngài có mục đích rõ ràng. Tuy nhiên, chúng ta làm gì có quyền được hỏi về những mục đích của Chúa Trời, khi chính chúng ta cũng chẳng biết mục đích của mình là gì?
Ngọn núi nằm trên bình nguyên, đơn độc, đỏ quạch, như được đắp từ cát nóng chảy đông đặc sau cú sét đánh. Trên đỉnh núi tọa lạc một tu viện. Họ đang đi, nhằm hướng tu viện này, trong một ngày nắng đẹp. Nàng đang bay trên đôi cánh ngắn, song chắc khỏe, của tuổi mười chín, đi bên cạnh là chị nàng, người đang mang trên vai gánh nặng của cuộc ly hôn không cưỡng nổi đang tới gần.
Thật khó gặp được một nơi dành cho phụ nữ đủ đầy như vậy - có thể nói như thế - dành cho phụ nữ theo kiểu hoàn toàn đàn ông. Từ trên tường các nhân vật nữ nghiêm nghị và linh thiêng trong Kinh Thánh Cựu ước và Tân ước đang nhìn, họ giả vờ không đích mục sở thị người qua lại. Nàng nhận ra trong số họ có vị thánh nữ bảo trợ của mình.
Tại nhà mồ, nàng đứng trước tượng đen Đức Mẹ tay trái cầm quả táo phước vàng, trên vòm cao các nữ thiên thần đang chơi đàn. Họ nở trên môi nụ cười của người đàn ông mà cách đây mấy tuần đã ân ái cùng nàng trong đêm, một trong những đêm nàng thấy chiêm bao, cái đêm này đang phai mờ dần, nhưng sẽ không bao giờ biến mất, cho dù sau nhiều năm tháng.
Chàng đã cười y hệt như vậy khi nàng không hất bàn tay rụt rè của chàng ra khỏi đùi nàng. Một vài hình ảnh lướt nhanh trước mắt nàng: hơi thở của chàng quyện vào hơi thở của nàng, tay nàng trong tay chàng, chân chàng quấn chân nàng. Và thời khắc này, thời khắc đã xong xuôi mọi chuyện, dường như là thời khắc sẽ tồn tại muôn đời. Tuy nhiên đó chỉ là thời khắc được cho phép tồn tại lâu hơn so với những thời khắc tồn tại bình thường mà thôi.
Có cảm giác những thiên thần đang nhìn từ trên cao phát xấu hổ trước những hình ảnh nàng mường tượng trong đầu – thậm chí ở chỗ như thế này mà nàng không đeo nổi dây chuyền. Nàng tin rằng, một số nhà thờ có khả năng đọc được ý nghĩ của con chiên. Có phải vì vậy mà các bức tường nhà thờ thường đen ngòm hay không nhỉ? Tường của nhà thờ này khá đen, nhưng nàng không nghĩ, đây là những bức tường nhơ bẩn.
Nàng chóng mặt. Chân nàng run như cầy sấy khi nàng bước ra khỏi nhà mồ. Không gian giáo đường lạnh lẽo, ngát mùi trầm hương – mùi thơm này khiến nàng yên dạ. Nàng cảm nhận, có ánh mắt đang nhìn nàng. Nhưng đó không phải là cái nhìn của một nữ thiên thần. Thường thì, chỉ cần một cái nhìn là nàng biết được người đàn ông có hấp dẫn hay không. Cảm giác của nàng về cái đẹp của người đàn ông đang nhìn nàng lúc này không phải là vô tiền khoáng hậu. Tác động lên các giác quan thẩm mỹ trí tưởng tượng của nàng là mái tóc đen, xoăn, da màu ô liu, và trên cái nền như vậy - hai hàm răng trắng, đều, đôi mắt sâu, tự tin, nụ cười ẩn giấu bên dưới nhãn cầu. Chàng đứng cách nàng trên chục mét – lý tưởng của nàng đó! – nàng mang trong mình lý tưởng này từ thời khắc nàng trở thành đàn bà, nghĩa là từ cách đây không lâu, nhưng nàng có cảm giác đã trăm năm nay rồi. Có ai lại không đợi chờ một cuộc gặp gỡ như thế này hay không nhỉ? Liệu niềm hy vọng này, niềm hy vọng có thể được thỏa mãn bất kỳ ở đâu và bất kỳ lúc nào, có phải là một trong những động cơ của cuộc sống hay không?
Như thể theo yêu cầu của nàng, chàng bước lại bên nàng, để lại nhìn nàng và lần này cái nhìn của chàng không thể là tình cờ nữa rồi. Sự khẳng định này làm các ý nghĩ của nàng rực sáng. Nàng đáp lại bằng nụ cười, chẳng bao giờ chàng bội tình nàng, có lẽ vì vậy mà chỉ khi nào nàng tin chàng thì nàng mới cho chàng xuất hiện. Tiếng thì thầm cục cằn của chị nàng đã bứt nàng ra khỏi giấc mơ.
- Ngay cả trong nhà thờ em cũng không thể giữ nổi mình!
Bên ngoài trời nắng như đổ lửa, nhưng nàng cảm thấy chân và tay nàng nổi da gà. Đây có phải là da quỷ hay không nhỉ, khi nàng đang ở nơi này?
Chàng đứng, tựa người vào bức tường bao quanh tu viện, như thể đang lấp đầy lỗ thủng nhỏ, cái lỗ thủng đã chờ sẵn họ từ hàng trăm năm nay. Chàng cười…
Nàng mỉm cười, bước lại, như thể để hôn chàng. Họ chìa tay cho nhau. Một câu hỏi được đặt ra, câu hỏi mà cả người trẻ lẫn người già ở tất cả các trường học tiếng đều phải luyện rèn, hy vọng đến một ngày nào đó sẽ là câu hỏi quan trọng nhất của đời họ. “Do you speak English?”
Họ có ít thời gian, xét cho cùng, thời gian và lời nói chẳng còn cần nữa. Cảm nhận sự hệ trọng của tình hình, chị nàng đi ra bên cạnh. Chàng dúi vào tay nàng mảnh giấy, kín đáo, như cậu học trò dúi phao thi cho bạn gái vậy. Không nhìn vào mắt nàng, chàng hỏi tên nàng.
- Monika? – Chàng gật đầu trân trọng, như thể đó chính là cái tên chàng chờ đợi và bây giờ đã nhận được sự khẳng định. Khi đã xong xuôi, chàng chạy theo các bậc cầu thang, không một tiếng động, như thể không bao giờ có chàng.
Nàng cuộn mảnh giấy lại, cẩn thận, như sợ rơi mất những lời ghi trong đó. Trên mảnh giấy này có điềm báo nhiệm mầu về một thời kỳ mới, có địa chỉ viết vội vàng, với chú khỉ đang cười ở giữa.
Nàng biết, sẽ không bao giờ nàng gặp lại chàng được nữa rồi, nàng biết có luật chi phối những cuộc gặp gỡ như thế này, nàng linh cảm, sẽ nguy hiểm biết nhường nào nếu thay đổi luật này. Trên đất Ba Lan, nếu có một người đàn ông nào đó đang chờ nàng, thì nàng cảm nhận sự tồn tại của người này trên cổ mình, do cổ nàng bị dây chuyền thít chặt. Nàng bước đi chậm rãi, chị nàng bước theo sau, lặng lẽ như một cái bóng.
Từ Warszawa nàng đã viết thư cho chàng. Tại sao nàng lại không làm như vậy nhỉ? Nàng sợ, phép màu của câu hỏi “Chuyện gì sẽ xảy ra nếu như…?” sẽ hành hạ nàng hàng năm trời.
Sự lặng im đến cùng cực và vô biên đã đáp lại bức thư của nàng, rằng trong nháy mắt mọi thứ đã quay về đường cũ rồi.
Nàng đã quên màu mắt của chàng, nhưng nàng vẫn nhớ, đó là một buổi chiều tháng chín, một buổi chiều nắng nóng, với ngọn núi trong gương chiếu hậu, được tia nắng trời chiếu rọi.
Lê Bá Thự dịch
Từ nguyên bản tiếng Ba Lan

____________________________________________________________

Sóng thần núi voi

Truyện ngắn của Tiến Đạt

1.
Anh bị dựng đầu dậy lúc ba giờ mười lăm phút bảy giây sáng. Giọng ông chủ bút Củ Cải nói không dứt “Chú đón xe về Bãi Bồi gấp. Có nguồn tin riêng vừa báo sắp có đợt sóng thần”. Anh hiểu, đó là lệnh, không được chậm trễ.
Bãi Bồi, làng chài nằm cạnh núi Voi, đang là tâm điểm của các giới đầu tư đón đầu săn đất xây khu nghỉ dưỡng dành cho du khách hạng sang và nhà nghỉ cao cấp dành cho giới thượng lưu, anh đã đặt chân đến cùng ông chủ bút. Mục đích chuyến đi lần đó ông chủ bút tìm đất xây nhà nghỉ cho tuổi xế chiều. Đó cũng là ngày đầu tiên anh đặt bút ký hợp đồng làm việc tại tạp chí Củ Cải. Ông chủ bút cho anh hai lựa chọn. Một, nắm mảng săn tin hậu trường ngôi sao. Tất cả mọi chuyện liên quan đời sống và nghề nghiệp của sao phải cập nhật liên tục trên trang “Các sao làm gì?” Hai, phụ trách trang “Sự kiện sốt”, chuyên theo dõi những sự kiện xã hội nổi tiếng được dân tình quan tâm. Tin nóng, tiền thưởng tươi. Tin nóng độc quyền, thu nhập bài viết bằng thu nhập trung bình cả tháng. Tin nguội, thu nhập giảm. Tin cọp báo bạn, áp dụng hình thức kỷ luật từ cảnh cáo đến buộc thôi việc. Mọi ràng buộc, chi tiết dích dắc ghi rõ trong hợp đồng.
Ông chủ bút có lý do để bác đề nghị của anh muốn lập ra và phụ trách hai trang “Phút cuối tử tù” và “Theo dấu chân tê giác núi Chúa”. Nghề viết đã dạy anh rằng, tâm sự cuối cùng của tử tù trước khi bước ra trường bắn là đề tài hấp dẫn về mặt truyền thông và mang tính hiệu quả cao về mặt tuyên truyền pháp luật. Sở thích đeo đuổi đời sống tê giác núi Chúa, vì anh thích phiêu lưu.
Anh quyết định phò ông chủ bút vì ông là ân nhân kéo anh thoát khỏi đám u mê xôi thịt. Sau một thời gian, anh bị ngộp thở vì mùi tiền và son phấn. Anh ngộ sau một buổi sáng ngồi nghe ông giảng thuyết vô vi.
“Chú em không làm đại sự được nếu chỉ biết nghĩ đến tiền và gái đẹp. Tiền chỉ là phương tiện. Gái đẹp rất dễ làm đàn ông ngộ nhận và hư hỏng. Đàn ông muốn làm chuyện lớn phải biết từ bỏ đam mê vụn vặt. Chú em là cây bút có nghề. Chú muốn để lại tiếng thơm cho đời, phải biết áp dụng quy trình và công nghệ. Còn không, vứt sọt rác”.

2.
Nhiếp ảnh gia tự do. Gã đàn ông mặt tái. Cô gái mười hai ngón tay chủ quán cà phê kiêm chủ dãy phòng trọ mang khuôn mặt buồn u uẩn.
Nhiếp ảnh gia trải ra bàn hàng chục tấm hình chụp chân dung cô gái. Cô gái hờ hững nhìn lướt qua.
“Em có thần thái hoa hậu”, nhiếp ảnh gia ngắm nghía tấm ảnh cô gái chống cằm nhìn ra chiến thuyền mờ xa ngoài biển, đưa ra nhận xét.
Anh từng xem tác phẩm của nhiếp ảnh gia trong thời gian anh ta làm cộng tác viên tạp chí Củ Cải trong chuyên mục “Các sao làm gì?” Anh ta từng chụp hàng loạt ảnh sao X nóng bỏng vòng một, diễn viên Q thon thả vòng hai, cô đào N rực lửa vòng ba. Ông chủ bút đánh giá hiệu quả của tác phẩm nhưng đành quyết định ngừng cộng tác do không chịu nổi yêu sách tiền nhuận ảnh ngày càng tăng.
Gã đàn ông xòe bộ bài năm mươi hai lá điệu nghệ như tài tử Hồng Kông trong các phim casino. Gã cười hơ hớ và rút ra con đầm pích, lật ngửa trước ánh mắt lơ đãng của cô gái.
“Số em hồng nhan bạc tỉ. Tuổi mười tám bị tình lừa. Tuổi hai tám lừa tình. Tiền bạc đến sau tuổi bốn mươi. Hậu vận trung bình khá. Nhưng luôn có quới nhơn đàn ông phù trợ”.
Gã đàn ông từng dắt anh và chủ bút Củ Cải loanh quanh Bãi Bồi từ sáng sớm đến sáu giờ chiều. Anh ta nói kẻ nào muốn có duyên sống và làm ăn tại Bãi Bồi chân phải giẫm hết mọi ngõ ngách để chào thổ địa. Được ông chủ bút tâng bốc và mời uống xoay vòng vài ly, gã nằm ngủ ngay trên bàn nhậu, ngáy như sấm. Tỉnh dậy, dịu mắt, thông báo vừa gặp thổ địa. Thổ địa phán kẻ săn đất hôm nay (ý nói ông chủ bút) không có cơ duyên vì thời trai trẻ từng có lần báng bổ thánh thần. Ông chủ bút cười khẩy, nhưng trong bụng tin sái cổ. Bằng chứng, khi yên vị trong xe ô tô quay lại thành phố, tuyên bố từ bỏ ý định dưỡng già tại Bãi Bồi.
Gã đàn ông đã nhận ra anh là người quen.
“Khỏe không, anh nhà báo?”
“Cảm ơn anh, tôi cũng bình thường”.
“Ông chủ anh đâu?”
“Ổng bận không đi”.
“Anh đi săn sóng thần, đúng không?”
Anh im lặng. Anh vừa nhìn thấy gáy trắng ngần của cô gái có dán hình con bướm. Bướm nhỏ, xanh lam.
Gã đàn ông đứng lên, đi ra khỏi quán. Anh ta đi một đoạn, quay trở lại, ghé miệng vào tai anh.
“Con bé xinh nhưng hôi nách. Thằng cha chụp ảnh đã bị trúng chưởng. Cảnh giác nghen anh nhà báo!”

3.
Anh trọ tại quán cà phê của cô gái mười hai ngón tay. Phòng anh nằm cạnh phòng nhiếp ảnh gia tự do. Bức tường gỗ ngăn giữa hai phòng không xua được mùi thuốc lá, bia rượu cùng nước hoa của người phòng bên cạnh. Dạo anh và ông chủ bút đến đây, ông chủ bút có ý định tìm chỗ ngủ trưa, nhưng khi khảo sát căn phòng đã bỏ ngay ý định vì ông đánh hơi có mùi chuột cống.
“Tôi có nguyên tắc kinh doanh riêng, anh phải tuân thủ”, trước khi làm thủ tục nhận phòng, cô chủ ra điều kiện khách không được dắt gái về phòng.
Mười hai giờ đêm, sau khi báo cáo tình hình với chủ bút, anh nằm xuống giường, nhưng giấc ngủ không đến. Tiếng sóng ngoài biển dội ầm ào. Anh linh cảm vùng biển này không thể có sóng thần, như từ bao đời nay. Buổi chiều, anh đi dạo khắp làng, cảm nhận sinh hoạt của người dân trong vùng vẫn như ngày thường. Anh quên không kịp báo với ông chủ bút đã gặp nhiếp ảnh gia tự do. Anh không tin anh ta đến đây để săn sóng thần, như anh.
Anh đã truy ra nhân thân của gã đàn ông mặt tái và cô gái mười hai ngón tay. Dân trong vùng khẳng định gã đàn ông từng làm công nhân xuất khẩu lao động. Anh ta biệt xứ tại nước ngoài gần mười năm. Ngày trở về, thay vì thành đại gia hoặc trung gia, anh ta chỉ còn bộ đồ mặc trên người và trong giỏ xách toàn hóa đơn nợ nần. Cô gái mười hai ngón tay là con gái út của ông chủ đoàn cải lương Thanh Nghệ xuất thân từ vùng đất cách Bãi Bồi khoảng năm mươi cây số. Người mẹ dắt cô chạy đến vùng này vì không chịu nổi tính trăng hoa của chồng. Hầu hết các cô đào trẻ trong đoàn hát vướng vòng tình ái với ông chủ. Cách đây năm năm, mẹ cô gái mất vì huyết áp cao. Trăn trở lớn nhất của bà trước khi chết là được nhìn thấy đứa con gái trẻ đẹp bước lên xe hoa. Thanh niên trong vùng mê khuôn mặt đẹp, vóc dáng nóng bỏng của cô gái nhưng không ai dám tính chuyện hôn nhân.
“Đàn ông nhìn vào hai bàn tay của tôi sợ chạy mất dép. Họ sợ lấy vợ mang lại xúi quẩy”, cô gái xòe bàn tay ra trước mặt anh.
“Tôi thấy bàn tay cô cân đối!”
“Cân đối hay dị thường?”
“Tôi nghĩ nó không dị thường!”
“Tôi không dễ mắc lừa trò tán gái của trai thành phố các anh đâu!”
Gã đàn ông đi nhanh vào quán. Gã kéo ghế ngồi ngay bàn của anh và cô gái, móc bao thuốc lá trong túi lấy ra một điếu, ngắt bỏ đầu lọc, bật quẹt châm lửa.
“Vẫn chưa có tin sóng thần”, gã lên tiếng. “Chờ đợi chắc cũng tốn kém kha khá cho nhà báo và nhà chụp ảnh đấy”.
“Phong lan mùa này trổ chưa anh Quân?”, cô gái hỏi.
 Gã đàn ông nhìn cô gái không chớp mắt.
“Anh nghĩ tôi chỉ biết mê tiền?”
“Không. Anh nghĩ em… còn mê cả trai đẹp và nghệ sĩ thành phố!”
“Quỷ tha ma bắt anh! Tôi nói thật, đến xứ này gần mười lăm năm nhưng chưa biết hoa phong lan núi Voi như thế nào, dù nghe thiên hạ khen đẹp và mùi thơm thấu trời xanh!”
“Hoa phong lan vùng này đẹp lắm sao?”, anh hỏi gã đàn ông.
“Nó đẹp vì nguyên sơ. Chưa bị khai thác do lâm tặc không có thời gian chơi hoa”, nhiếp ảnh gia bước ra từ trong nhà, góp chuyện. “Tôi đã lên hồ trên đỉnh núi. Tôi choáng ngợp vì vẻ diễm ảo của nó. Gái đẹp lên đó tạo dáng thì tuyệt”.

4.
Anh là người cuối cùng rời quán cà phê lúc bốn giờ sáng để chạy lên đỉnh núi Voi sau tiếng đập cửa báo động của gã đàn ông mặt tái.
Sóng thần!
Đứng trước tình huống chưa từng xảy ra trong đời, anh bối rối. Anh kịp trấn an. Nhiệm vụ của anh đến đây không phải chạy trốn trước mọi người, dù cái chết đối với anh lúc này cũng đáng sợ và phi lý. Ít ra, anh phải hoàn thành sứ mệnh đã hứa với ông chủ bút và trở thành một trong những người đưa tin tường tận về cơn đại hồng thủy, cho dù tạp chí của anh chỉ dành cho độc giả là các bà nội trợ và những cá nhân chuyên sưu tầm chuyện lạ, đời sống của các sao. Sau những thăng trầm từ sự bồng bột và tính hiếu thắng trẻ con đã dạy anh bài học đàn ông hơn thua nhau ở chữ tín và sự nhạy cảm thời cuộc. Quyết định theo chân mọi người lên đỉnh núi Voi cũng vừa an toàn cho bản thân vừa là địa thế tốt để anh tác nghiệp.
Gã đàn ông mặt tái nắm tay cô gái chạy trước, dẫn đường, phía sau tay nhiếp ảnh gia khoác lỉnh kỉnh máy móc bám theo sau, miệng thở hổn hển, mồ hôi nhễ nhại. Anh đi cuối cùng. Những ánh bình minh đầu tiên đang dần lộ lên từ góc biển. Tay nhiếp ảnh gia đứng lại, luống cuống chọn thế đứng, bấm máy liên hồi. Bấm xong, co giò chạy thục mạng lên phía con đường dốc ngày càng khúc khuỷu.
“Dừng lại, dừng lại các anh ơi!”, cô gái đưa ra đề nghị.
Một đàn bướm rừng bay phấp phới trong màn sương sớm. Không gian bốn bề tĩnh lặng, thuần khiết. Khuôn mặt cô gái hớn hở, đôi mắt ngời sáng. Lần đầu tiên anh phát hiện vẻ đẹp khó cưỡng của cô gái. Từ ngày rời bỏ chốn son phấn phù hoa, anh chưa hình dung có một ngày trái tim mình rung động lại trước sức hút phụ nữ.
Nhiếp ảnh gia đốt phim không tiếc. Gã đàn ông mặt tái không khoanh hai tay, đứng nhìn.
“Em sướng chết mất các anh ơi!”, cô gái đánh tan im lặng của ba gã đàn ông.
“Đẹp không em?”, gã đàn ông đi lại nắm tay cô gái, hỏi.
Cô gái lặng lẽ gật đầu. Anh nhìn thấy những sợi tóc mảnh mai và mềm mại vương trên trán cô gái. Mười hai ngón tay nhẹ nhàng buông chùng xuống chiếc áo hoa màu hồng nhạt chủ nhân của nó.
“Người đẹp làm anh ngộp thở”, nhiếp ảnh gia nhún vai.
“Hồ trên đỉnh còn xa không anh Quân?”, cô gái hỏi.
“Khoảng chừng vài nhát rựa dân lâm tặc”, gã đàn ông nháy mắt.

5.
Cuối cùng, anh cũng diện kiến hồ trên đỉnh. Hồ nhỏ, nếu dân đồng bằng gọi vũng nước, không hơn! Bán kính khoảng 8m, nhấp nhô những tảng đá ẩn hiện trong dòng nước trong vắt. Điểm nổi bật nhất quanh hồ là những gốc cây cổ thụ bám vào các tảng đá, quấn quanh cây là những chùm phong lan mùa rộ hoa.
Bàn chân cô gái tung tăng khắp nơi. Gã đàn ông lột khuôn mặt nhợt nhạt và láu lỉnh ngày thường, biến thành hoàng tử hào hoa dìu công chúa sắc nước hương trời lang thang trong khu rừng cổ tích. Tiếng họ cười nói vang vọng vào thân cây, vách đá, dội lại.
“Tôi ngờ ngợ điều gì đó bất ổn”, nhiếp ảnh gia nói với anh khi cả hai ngồi im lặng nhìn gã đàn ông và cô gái. 
Góc hồ, vẫn mặc nguyên quần áo, cô gái nhúng mình xuống dòng nước trong vắt. Mái tóc cột bó đằng sau bung ra, nghiêng xuống mặt hồ. Gã đàn ông bụm nước vào lòng hai bàn tay, rưới nhẹ lên mái tóc cô gái. Giọng cô gái cười lảnh lót, hòa dàn hợp ca chim rừng sớm mai.
“Trong phi vụ này tôi và ông bị lừa vố đau”, nhiếp ảnh gia không kiềm được tức giận. “Tôi xuống núi”, nhiếp ảnh gia đứng dậy, vùng vằng bỏ đi.
Lúc này, dù cơn sóng thần bất ngờ ầm ào đến, cũng chẳng thúc ép được anh. Anh nhắm mắt, tọa thiền, tự thưởng cho mình nụ cười khi tìm ra lời nói để lúc xuống núi chia tay cô gái sở hữu mười hai ngón tay xinh.

______________________________________________________________

Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2011

Người ma ám

Truyện ngắn của Đoàn Lê

Tôi hơn bốn chục tuổi, một vợ hai con. Kéo mấy toa đi cho trơn tru không phải dễ. Hôm nào túi lép con vợ tôi hệt một mụ bà chằng. Cũng phải thông cảm với nỗi lo âu đàn bà thiển cận của hắn thôi. Lắm lúc phát cáu, tôi chỉ còn cách xách xe lao ra đường phố ồn ào, tìm sự quên lãng, khuây khỏa. Tôi muốn được sống, ngập chìm vào dòng đời, trước khi bệnh “viêm túi” có thể đánh gục.
Và tôi bật cười thấy mình thích thú khi được ra đứng đường thực sự. Dưới chân cầu Tràng Tiền, tôi bình lặng lại, nhận ra ngày tháng trôi lặng lẽ như dòng sông Hương trước mặt, hôm nay chẳng khác hôm qua, cũng không hơn ngày mai, cho đến lúc tôi biến khỏi thế gian này. Tôi thường nhìn mặt nước xanh trong, lơ đãng nghĩ về dăm câu thơ vô tích sự bật ra không đúng lúc. Những câu thơ, chúng tựa đám giấy bọc kẹo lòe loẹt vứt trên đường, len lén bám vào gót chân ta. Dân xứ Huế không ai không vướng vít một vài câu thơ trong đầu, cũng vô thưởng vô phạt như cái giấy bọc kẹo.
Mùa du lịch đã hết. Hết những trò láu cá của dân xế ôm, xích lô. Chúng tôi sẵn sàng nhận chở khách đi mua sắm với giá rẻ hơn bèo. Đừng tưởng chúng tôi thương khách. Cò mồi dẫn khách đến mua đặc sản, chúng tôi sẽ được nhận ngầm phần trăm từ nhà hàng, cửa hiệu. Có ngày kiếm tiền triệu. Gấp mười lần cò kè tiền cụng chở khách. Những đận ấy con mụ vợ tôi vếch mặt lên, cắp rá đi chợ, cái mông ngoáy ngoáy, cấm thấy cáu gắt. Nhưng giờ hết rồi. Kể cả những anh Tây ba lô cũng sợ mưa Huế dầm dề, không mấy vãng lai tham quan. Tôi chỉ còn được đón đưa đám bà con nghèo xứ này chưa có xe máy, vui vẻ nhận dăm đồng bạc còm. Lắm bữa chỉ đủ tiền cà phê, thuốc lá.
Vào một buổi sáng chán đời như thế tôi bỗng gặp người ấy, cái người hẳn do định mệnh xui khiến đã xuất hiện. Không, xin đừng nghĩ tới một thiếu nữ chim sa cá lặn. Các cô gái này tôi vốn không để ý. Họ thuộc thế giới khác, không liên quan tới tôi. Khách đi xe ôm tôi nói đây là một cô gái xấu xí, gày nhom, lại thêm vẻ nhút nhát, với cái va li khá nặng, chỉ được cái nói trong trẻo giọng Bắc.
- Anh cho tôi về đường Nguyễn Sinh Cung, nhà nghỉ Thành Đạt.
- Thưa, tôi biết nhà nghỉ đó. Xin cô mười lăm ngàn.
Cô gái không mặc cả. Vả tôi không hay nói thách cao giá, chờ khách nì nèo thêm bớt. Nói đi bấy nhiêu là bấy nhiêu. Đặc biệt với khách xứ lạ tôi càng giữ gìn. Để người thiên hạ không cười thói vếch vác quen chèo kéo bắt nạt của dân xứ Huế. Gì thì gì mình dân thần kinh thừa lịch sự kia mà. Có chặt chém cũng tùy chỗ.
Tới nhà nghỉ, tôi mang va li cho cô gái lên tận phòng gác ba.
- Chiều hai giờ anh tới đưa tôi ra ga xem vé tàu về Hà Nội, được không?
- Vâng thưa cô, cô muốn đi đâu cứ bảo tôi. Đúng hai giờ tôi sẽ tới đón. Đây là số điện thoại di động của tôi.
Buổi chiều sau khi ra ga đặt trước vé tàu, cô gái muốn tôi đưa dạo chơi vòng quanh thành phố. Trên đường, trong lúc chuyện trò tôi biết đôi chút về khách. Cô nói đi công tác, tiện ghé qua thăm lại Huế. Cô nói trước đây dạy múa. Vậy là một nghệ sĩ múa.
Nhưng tôi không tưởng tượng nổi trên sàn diễn với bộ váy áo mỏng tang của một nàng thiên nga, trông cô thế nào. Vẻ ngoài hiện tại khiến tôi nghĩ tới một cô giáo nghiêm nghị nhẫn nhịn hay bị học trò bắt nạt thì đúng hơn.
Ngày hôm sau tôi đưa cô đi thăm Đại Nội từ sáng sớm. Lẽ ra buổi chiều có thể tranh thủ thăm lăng Minh Mạng. Nhưng cô gái cứ nấn ná trên từng con đường nhỏ, như có ý ngóng chờ ai. Rút cục tới quá trưa tôi phải đưa cô vào một quán cơm bình dân lúc mặt trời đứng bóng.
- Anh ăn cùng tôi cho vui. Sau đó ta tranh thủ đi luôn.
Tôi thế nào cũng xong. Đã quen lệ ở nhà vợ con tôi không mong tôi về dùng bữa. Trong lúc ăn, khi đã trở nên thân tình, cô đề nghị hai hôm còn ở Huế, tôi đưa cô đi lang thang, và tính tiền xe cả một ngày cho tiện. “Như một hướng dẫn viên bình dân”, cô dè dặt nói thế. Tôi đã quá quen với các kiểu khách amatơ như cô.
- Thưa cô, thế nào cũng được.
Buổi chiều, tại một quán giải khát bên chùa Thiên Mụ ngồi nhâm nhi ly cà phê, sau rất lâu lơ đãng nhìn dòng sông trước mặt, cô gái bỗng dưng khe khẽ thổ lộ:
- Tôi thích ở Huế lắm. Đây cũng là nơi đầy kỷ niệm của tôi. Anh biết không, chút nữa tôi đã làm dâu xứ Huế đấy.
- Thưa cô, nếu cô làm dâu xứ Huế, chắc tôi đã được chở cô đi luôn luôn. Tôi xin lỗi được hỏi vì răng cô không thành dâu xứ Huế?
- Vâng, cuộc đời có biết bao thứ ta dự định nhưng không thành. Chừ để lại một kỷ niệm ít vui mà thôi.
Cô nói chừ, không phải giờ. Đôi mắt nhìn ra xa của cô gái hình như có ngấn nước, gương mặt tự nhiên thành có duyên, bớt đi vẻ xấu xí.
- Cũng cái quán đây, có người hẹn tôi giờ này, hôm nay, nhưng… anh thấy đấy…
Trời ạ, người ta cất công từ Bắc vào, để giữ ngày hẹn, giờ hẹn, nơi hẹn, mà cái thằng cha… Nhân danh các chàng trai xứ Huế chung tình, nếu gặp hắn tôi thì tống cho một quả bằng trời giỏng!
Tôi còn đang hình dung ra hắn, một người tình đỏm dáng, bỗng trước mặt tôi xuất hiện thằng cha làm quảng cáo phố tôi, người luôn nhom nhem sơn màu, đã thế lại nói lắp. Tôi đâu lạ hắn. Nhưng tôi vụ cựng kinh ngạc thấy hắn tiến lại phía mình.
- Anh xin… xin lỗi em… em…
Hắn nói với cô gái. Cô không trả lời mà òa khóc thành tiếng. Chao ôi, xưa có chuyện sọ dừa biến thành hoàng tử, chả biết cha nhom nhem này có biến hóa được vậy không? Đã thế tôi biết túi hắn chưa bao giờ dư tiền. Chơi cờ thế với tôi hắn luôn chạy làng. Còn may, bữa nay thấy hắn đi cái xe máy cà tàng, dù thế cũng vẫn là xe máy.
Tôi trợn mắt ra hiệu cho hắn dỗ cô gái, nhưng cái gã bị thịt cứ lúng ta lúng túng. Thấy ngồi lại chứng kiến cảnh tình cảm sướt mướt không tiện, tôi tìm cách rút lui.
- Thôi, cô đã gặp bạn rồi, tôi xin phép phải đi có chút việc. Khi nào cần cô cứ nháy máy cho tôi.
Cô gái bẽn lẽn lau nước mắt, cười vỏn vẻn ngước nhìn tôi. Trông bẽn lẽn thành dễ thương. Trước khi đi, tôi kịp kéo thằng cha họa sĩ nửa mùa, kín đáo móc hết tiền trong túi dúi cho hắn. Hắn liếc mắt nhìn tôi im lặng. Đợi đấy, thế nào mi cũng được vài quả phật thủ nếu mi lừa tình cô gái kia.
Về tới bến đỗ xe với cái túi rỗng không, tôi bỗng tá hỏa thấy mụ bà chằng đang đứng đợi ở đó.
- Đi mô mà tui đợi hoài đợi hủy ở đây không thấy? Đưa tui tiền mua cặp sách cho thằng Bảo. Bữa ni nó khóc đòi nghỉ học, làm sao thì làm. Nghe nói chở cô nào người Bắc từ sớm tới chừ à? Tiền đâu?
Tôi giựt chắc. Giải thích với mụ bà chằng thế nào đây? Lại thêm cái tội chở cô gái miền Bắc nữa. Tôi vội ghé tai hắn thì thào:
- Tau lạy mẹ mi, tau hết tiền túi rồi. Là tau cho người ta mượn nóng, mai trả. Cái thằng cha làm quảng cáo… quảng cáo phố… phố mình đó. Tau thề…
Nó trợn mắt ngó tôi tưởng đâu cháy mặt. Không hiểu sao tôi thấy mình cũng lắp bắp như thằng cha kia.
- Tau thề… tau thề với mụ.
- Trời ơi, ma ám ông sao đó?

Có thể ma ám chứ răng!

_______________________________________________________

Thứ Ba, 14 tháng 6, 2011

Cơm gạo mới

Truyện ngắn của Hương Thị

Giữa thu, gió heo may thổi se se trên cánh đồng. Làng đói đã mấy tuần nay, từng đôi mắt háo hức hướng ra cánh đồng mờ mịt trong sương. Thoắt cái lúa đã chuyển sang mầu vàng chanh. Cả làng ào ra đồng, hối hả dưới cái nắng dịu nhẹ chưa đủ để làm chín già những ruộng lúa xác xơ. Gié lúa lép kẹp nằm lọt thỏm trong tấm thân gầy còm, lơ thơ vài mảnh lá sâu sia. Mồ hôi từng dòng nặng nề bò trên gương mặt nhăn nheo của người già. Thanh niên cũng chẳng muốn trêu chọc nhau nữa, tất tả, ủ rũ, thở dài thõng thượt. Cô tôi nén tiếng thở dài trong lồng ngực hóp heo, nhẫn nại như chiếc máy khâu nhịp những nhịp đều đặn xuống mặt ruộng, đặt về phía sau từng đon, gốc lúa nặng trịch mà đầu bông tun ngủn, loe hoe. Mỗi lần vươn dậy cho khỏi mỏi, xương sống cô kêu rắc một tiếng, tưởng chừng lìa ra. Rồi cô lại cắm cúi, nhấp nhô trên lúa, lúa còm không cao hơn nổi thân người chia đôi.
Những con chim cuổng, chim én mất tổ dáo dác bay lên đen trời, như tàn tro hóa vàng ngày ba mươi tết. Vài đứa trẻ nhảy loi choi khi vớ được ổ trứng nằm gọn trong lúa vàng ươm, hò hét nhau đã đánh thức lũ chim. Bất chấp những cái vợt giơ lên, chúng điên cuồng lao vào lũ trẻ hòng giằng lại ổ trứng, miệng phát ra những tiếng kêu kinh hoàng. Cuộc hỗn chiến xảy ra, đến lúc ấy cánh đồng mới có chút âm thanh náo động. Tôi lầm lũi đi sau cô. Gom những đon lúa lại, cẩn thận sẽ sàng kẻo rụng mất những hạt quý báu, bó lại thành từng ôm to để lên bờ ruộng, thèm thuồng nhìn lũ trẻ vô tư đùa nghịch chạy khắp cánh đồng.
Quết trầu trên môi bà khô lại, thâm xịt. Mình bà cong gập xuống ruộng như một dấu hỏi dường đã tuyệt vọng. Theo bước chân thoăn thoắt của cô, gánh lúa cao lút đầu người nhún nhảy về làng, không ít trai làng và cả các bà già trông theo ao ước, giá như cô là người nhà họ. Cô tôi hai mấy tuổi rồi tôi chưa đếm nổi, mà cô cũng chẳng cần biết, vì một vài năm sau khi quá tuổi lấy chồng, chẳng ai hơi đâu mà đếm tuổi mình nữa. Nhiều lúc tôi thấy cô nép vào bụi cúc tần, tần ngần nhìn đám cưới nhà ai đi qua ngõ.
*
Hai đon lúa to, xâu vào hai đầu đòn xóc, tôi phải gánh oằn lưng mà đập ra chỉ được vài đấu. Cô tôi đội thúng thóc lên cao trên đầu, từ từ nghiêng miệng thúng, lúa từ trên tuôn xuống vù vù, bay lả tả, hết cả buổi chiều mà đống tụ lại chỉ bằng nửa đống văng ra nhưng cô dường như không để ý. Đôi lúc mái tóc dài mượt của cô xổ tung, óng ánh trong nắng, bay quấn quýt cả vào những hạt thóc vàng chanh. Ánh mắt cô nhìn xa hun hút, sẫm mầu sim chín. Rồi cô ngồi bệt xuống giữa sân, tẩn mẩn bóc những thân lúa vàng ươm, bóc những bầu đòng còn sót lại, tẩn mẩn tách ra từng tí một xem cây lúa chửa như thế nào. Bóc chán, cô nhấm nhẳn nhằn những gié lúa ngòn ngọt, thấy tôi, cô chìa ra một nắm. Tôi lắc đầu, cô cắp cái thúng con con chạy vụt đi.
Đồng làng mê mải nắng, đám trẻ con gáy cháy khét đang tranh nhau chí chóe vạt thóc rụng góc ruộng. Khắp cánh đồng trẻ con vừa mót thóc vừa đùa nghịch túm tụm, bóng xeo xéo gẫy khúc dài nghêu trên san sát gốc rạ, cô tôi cứ lủi thủi một mình, chỗ nào chúng mót chán rồi mới lê la đến, cắm cúi như con chim sẻ nhẫn nại, thi thoảng bị lũ kiến lửa đốt nhói tay. “Tao mà giầu, tao sẽ nuôi chúng mày bằng cả một nhà thóc”... Đàn kiến vẫn lầm lũi theo nhau ngoằn nghoèo, li ri, moi móc rồi hỉ hả lôi lên những hạt lọt sâu trong khe rãnh. “Lép cả thôi, chúng mày ăn thế nào được mà cứ cố”? Cô vừa lẩn mẩn nói chuyện với lũ kiến, vừa hát những câu gì không rõ. Chỉ miên man, da diết như cứa buốt ruột gan. Tôi không dám lại gần cô những lúc ấy. Sau này lớn lên, tôi mới biết rằng mình hoàn toàn có lý. Khi lặn sâu vào trong nỗi đau, người ta sẽ thấy những gì đã qua chẳng thấm tháp vào đâu để tiếp tục chịu đựng thêm những gì sẽ đến. Cô tôi cứ ngồi thế cho đến khi hoàng hôn đã phủ sẫm đồng, những đống rấm cháy ngun ngún, khói lênh loang mờ ảo. Cái thúng con con chơ chỏng vài hạt lót đáy. Hơi lạnh miên man trải khắp cánh đồng sương buồn hiu hắt.
*
Chú Hiệp cụt uống hết hai lần ấm chè xanh rồi lệch thệch cái nạng gỗ ra tận hàng rào cúc tần ngóng cô. Bà tôi thương hại bảo chú vào nhà cho khỏi muỗi đốt. Chú cười hề hề, vỗ vỗ vào hai cái chân gỗ: “Có giỏi muỗi đốt vào đây, cong vòi. Bà cứ mặc con”. Bà lắc đầu, toan nói gì đó lại thôi. Cô tôi về, người ngai ngái mùi khói. Chú Hiệp le te lấy nước, cầm quạt quạt lấy quạt để. Cô chả nói gì, ngồi vào bếp ăn cơm. Cô lấy một cái bát tô to, xới cơm, chan canh, và húp soàm soạp, chú Hiệp vẫn ngồi bên cạnh, vừa quạt vừa cười âu yếm, xót xa. Ăn xong, cô ra giếng. Trăng lên lấp lóa sau những tán lá bưởi, lá mít. Chú Hiệp nháy nháy mắt với tôi, lộc cộc chống nạng theo cô. Chiếc dây chuyền vàng trên cổ áo mở rộng của chú bắt trăng sáng lấp lánh. Cô tôi cúi xuống múc nước. Chú Hiệp nhìn hút vào tấm lưng và đường cong lượn tròn ôm lấy thành giếng, nuốt nước bọt. Đột ngột, cô giơ gầu nước dội từ đỉnh đầu xuống. Tóc cô sổ tung, nước bắn tung tóe. Chú Hiệp nhảy lùi ra, sững sờ. Nước bết dính áo vào khuôn người cô, ánh trăng tràn vào ngời ngợi. Cô cứ múc nước, cứ dội. Chú Hiệp dùng dằng rồi cũng phải đánh tiếng chào bà tôi, ra về.
Nửa đêm tỉnh dậy, tôi nghe tiếng bà thủ thỉ: “Nó đồng ý ở rể, còn chê nỗi gì?” Tiếng cô tôi thút thít hồi lâu, rồi nghẹn ngào: “Đã lỡ thì lỡ cho luôn. Đèo bòng làm sao được hai cái chân gỗ hả bu?” Bà tôi: “Nhà nó có của ăn, của để. Mày vất vả gần nửa đời rồi”. Cô tôi bật khóc tức tưởi: “Chân người ta bị què là do đào vàng sập hầm, u biết không?”
*
Những ngày sau, cô tôi tối nào cũng ở ngoài đồng ngoài bãi rất muộn để tránh phải gặp chú Hiệp. Tôi cũng không thiết tha với những cái bánh khảo, kẹo bột hay cái súng cao su làm từ chạc cây ổi nhẵn bóng mà chú dúi cho nữa. Chú lại rủ tôi tối tối sang nhà Tiến Chính xem video. Toàn phim chưởng Hồng Kông, đấm đá tít mù, yêu đương tay ba tay tư, không phải làm mà vẫn có tiền phiêu bạt khắp giang hồ, ăn ngon mặc đẹp, đúng là sở thích của tôi. Giá vé mỗi lần xem là một trăm đồng, tôi thèm lắm nhưng đào đâu ra, nên toàn chờ chiếu được nửa buổi, chủ nhà phải vào sân để quản lý cái rạp chiếu tại gia, bảo quản cái ti vi to đại đặt giữa sân và đầu băng, không bị bọn trẻ con mải chơi, tuột khỏi tay người lớn chạy lên quấy phá, lúc ấy tôi mới trèo tường vào. Chắc có lần nhìn thấy tôi nhảy tường xuống ngã tập tễnh nên chú Hiệp cứ ăn cơm xong là sang nhà tôi chờ. Chú chả vội. Tôi có ăn cơm muộn, tắm muộn, chú càng mừng. Vừa chờ vừa tranh thủ kể những chuyến đi đường xa, thu được tiền thế nào, chuẩn bị mua sắm cái gì, giọng vói cao đến căng cuống họng để cô tôi dù đang giặt quần áo ngoài giếng hay cho lợn ăn phía sau nhà cũng phải nghe thấy. Vài lần cô cố tình sai tôi làm việc này, việc kia để chú sốt ruột mà đi xem trước. Nhưng sau thấy như thế càng có lợi cho chú nên cô phải gọi tôi ra nói thẳng:
- Đừng bán rẻ cô lấy mấy buổi xem phim nhé.
Tôi lặng lẽ gật đầu. Cô thở dài, xoa xoa đầu tôi, dịu giọng:
- Tranh thủ ôn lại bài vở đi. Lên cấp ba mà học dốt thì lớn rồi cô vẫn nọc ra đánh đít.
Vậy là ý cô đã quyết. Tôi vẫn ngán học hơn cả đi hót phân trâu. Ngồi trong lớp, chân tay thì tù túng, đầu óc cứ phải căng ra. Tôi thích được chạy nhảy tung tăng ngoài đồng, được tắm sông cùng trâu, được hò hét cho căng lồng ngực. Mắt thì nhìn trân trân lên bảng, nhưng đầu tôi lẩn vẩn những tính toán chiều nay sẽ đánh trận giả với bọn thằng Tong xóm Bến ra sao. Lần trước bên tôi thua to, chỉ tại bọn chúng chọn được chiến lũy là dãy núi đất, nơi có nhiều hầm hào lô cốt thực dân Pháp còn bỏ lại. Lần này, nếu chúng tôi chiếm lĩnh rồi cố thủ ở đấy trước thì chúng cũng đã biết hết mọi ngõ ngách để tấn công. Lại còn cuộc đua trâu ngày kia, cuộc thi bắn chim sẻ ngoài đồng Cói ngày kìa... Cứ thế, tôi được lên lớp là may. Nên khi hết cấp hai, tôi nằn nì cô cho đi học lái máy cày, vừa được suốt ngày ngoài đồng, lại có tiền đỡ bà, đỡ cô. Cô tôi không nói gì, quằn lưng gánh nốt gánh thóc cuối cùng trong chum, đi nửa ngày trời lên chợ huyện bán được giá hơn chợ quê mới đủ mua cho tôi bộ quần áo kẻ sọc, vài quyển vở, một chiếc bút Kim Tinh và hai quyển sách. Tôi lại lấy cớ, từ nhà lên trường huyện những mười lăm cây số, dù tôi không muốn cũng phải nghỉ học thôi. Đi bộ làm sao ròng rã ngày hai buổi suốt ba năm trời. Đến nước ấy thì cô có vẻ đầu hàng thực sự. Cô ngồi xoài xuống phản. Chỉ chờ có thế, tôi nhảy tót ra đồng. Đến khi tôi về, trời đã tối sẫm, cô tôi mới uể oải đứng dậy nổi lửa, khua nồi.
Mấy hôm nay nhà tôi đã phải ăn cháo độn sắn. Nuốt không trôi nhưng tôi vẫn không dám kêu ca. Tuổi ăn tuổi lớn, tôi ăn như hùm đơm đó, vì thế, có ăn cho đầy bụng là may. Khi lang thang ngoài đồng bãi hoặc tạt vào bờ rào hàng xóm kiểu gì tôi cũng sẽ vớ được cái gì đó cho vào mồm. Một đống cuống rạ đốt khói mù mịt, vài con chuột đồng, sẻ đồng hay củ khoai mót nướng lên thơm lừng hay quả ổi, quả sim hay bất cứ thứ hoa trái gì vớ được ở ruộng đồng hoặc dãy núi đất là đủ cho những trò đùa nghịch từ nửa chiều cho đến tối. Cái chính là tôi thương cô, thương bà. Dường như trời phú cho những đứa trẻ mồ côi và nhà nghèo sự mẫn cảm trước tuổi. Nếu tôi kêu nửa lời, có lẽ bà sẽ phải làm việc bằng hai, bằng ba bây giờ. Còn cô tôi, hoặc cô sẽ suốt đời không lấy chồng, hoặc sẽ phải lấy đại một người nào đó như chú Hiệp để làm cho tôi đầy cái bụng.
Nhưng đi học là đi học. Mười lăm cây số, không thể vừa vắt chân lên cổ vừa mắt trước mắt sau kiếm hoa quả dại bỏ bụng. Tôi nhắc lại:
- Những mười lăm cây số, cháu không đi bộ được suốt ba năm đâu. Cô cho cháu ở nhà đi làm.
Cô lại nhìn tôi, hai chân mày cau lại, ánh mắt đầy uy lực. Bà bảo, cô và bố tôi giống nhau như đúc, suốt ngày chả nói câu nào, nhưng đã mở miệng thì chẳng ai nói lại được. Tôi không còn bố để mà so sánh. Nhưng tôi chắc, ánh mắt kia, nếu là của bố tôi, thì ngay lập tức tôi đã phải tự mang roi lên để trên mông mình rồi.
*
Bỗng dưng tối ấy, chú Hiệp đến nhà rõ sớm, ăn mặc bảnh bao, đầu chải mượt, nháy nháy mắt nhìn tôi, rồi đưa cho tôi gói kẹo lạc rõ ngon. Cô tôi đưa cho tôi một trăm, bảo đi xem phim. Bà thì đã đi hội kể hạnh với các cụ trong xóm. Tôi thấy nghi nghi, không đi xem phim nữa mà lén rình ở hàng rào cúc tần. Chỉ thấy chú Hiệp đưa ra một gói giấy báo, cô tôi cầm lấy cất vào buồng. Chú Hiệp đi theo, định ôm choàng lấy cô, bị cô đẩy ra suýt ngã. Cô khẽ nói câu gì đó không rõ, nhưng tôi thấy chú ra về, miệng huýt sáo vang lừng.
Hôm sau tôi đã có chiếc xe đạp Thống Nhất nữ, tuy bong tróc hết sơn nhưng vẫn còn khá bắt mắt. Tôi bắt đầu tập xe quanh sân vì không dám ra ngoài đường, sợ bọn cùng xóm chê cười hoặc bu vào đòi đi thử thì hỏng hết cả xe. Cô cũng không biết đi, chỉ biết gồng tay giữ cho tôi, hai chân líu ríu chạy theo, vừa thở hổn hển cô vừa luôn miệng nói cô thấy ngoài huyện người ta đạp thế này, chống chân thế kia. Rồi tôi cũng mắm môi mắm lợi đạp được những vòng đầu tiên trước ánh mắt thán phục của cô tôi. Thêm năm vết bầm giập tóe máu ở đầu gối nữa thì tôi đã đi vững. Tôi guồng chân đạp như bay, chở theo cô tôi mắt nhắm tịt, mặt rạng ngời hạnh phúc lướt qua trước mắt bọn thằng Tong, con Mẹt và kết thúc chuyến du hí đầy tiếng cười của hai cô cháu ở chân đống rơm. Cô tôi cũng bị một cái u ở đầu gối, vì thế mà chú Hiệp càng được thể tối nào cũng mang sang cho mượn lọ dầu Thái Dương chú mua tận ngoài tỉnh.
*
Có xe, tôi đi học chăm chỉ, nhưng cũng không giỏi hơn là bao. Tôi đi tối ngày, thậm chí, chỉ ra đầu ngõ mua mấy trăm nước mắm cũng vác xe đi, đâm phải con trâu, nước mắm đổ, bát cũng rơi vỡ mất. Cô không mắng, bà cũng không có thời gian để mắng. Bà xin vào một cơ sở đan lát rổ rá dần sàng tư nhân, ngày làm không hết việc thì đêm về chong đèn đan tiếp. Còn cô tôi, ngày nào cũng theo đò vượt sông sang làng bên đóng gạch, gánh gạch oằn vai. Đêm nào cô cũng bóp dầu vào vai rồi vỗ bồm bộp, bẻ lưng kêu lục khục. Nghe tiếng cô ngáy, tôi khẽ tắt đèn, lên giường. Nhưng chỉ năm phút sau, tôi đã thấy cô đến bên, túm dậy, ấn đầu vào quyển sách.
*
Thấm thoắt lại đến vụ chiêm. Năm nay cả làng như vào hội. Lúa được mùa cứ trĩu cả lưng gánh mà lòng vui phơi phới. Tôi vẫn thấy bà buồn, cô buồn. Mấy tuần nay, không biết ở đâu ra tin đồn chú Hiệp sắp cưới cô tôi. Lễ đã sắm đủ, ngày cũng đã chọn, chỉ chờ gặt xong là rước dâu. Thậm chí, tôi còn nhìn thấy giữa quán rượu, chú Hiệp ngồi dương dương tự đắc, khoe đã tắm sông cùng cô trước gần chục đôi mắt hau háu của trai làng. Tôi phóng xe đâm rầm vào cửa quán, chú ngừng bặt, nhưng lại vẫy tôi đến cho gói lạc rang làm bọn trai làng cười ầm lên, tôi cáu tiết vờ như không nghe thấy, vội vàng lao đi, tiếng cười ô ố vẫn đuổi theo sau lưng. Ngày thường, đi làm từ sáng đến tối, cô không phải nghe ai hỏi han. Giờ cả làng tập trung ra đồng, tránh không được, trả lời mãi không ai tin, cô bực mình sắp giờ gặt vào sáng sớm và đêm khuya cho khỏi nghe tiếng eo sèo.
Mải vồ chuột, tôi còn nghe tiếng cô khẽ nói với bà, giọng ưu tư:
- Bán đi một nửa lúa vẫn chưa đủ.
Bà ngập ngừng:
- Hay là bán đi cả, rồi có đồng ra đồng vào thì đong gạo của hàng xáo ăn sau?
- Không được. Thằng bé đang tuổi ăn tuổi học, “ăn vóc học hay, ăn mày học dốt”. Thôi con sẽ có cách bu ạ.
Túm được con chuột đồng béo mẫm, quay lại vẫn thấy cô lấy nón quạt cho bà, hai mắt nhìn về đâu xa xăm, chợt nhớ ra, tôi hớn hở:
- Năm nay cháu được học sinh tiên tiến đấy. Gặt xong là cháu đi nhận phần thưởng.
- Thật không?
Tôi thấy bà cười, những nếp nhăn giãn ra trên gương mặt nhăn nheo. Tôi thấy cô đi đi lại lại bên đống lúa vừa gặt xong, chân tay như muốn múa lên cùng chiếc nón. Tim tôi cũng đập rộn lên như muốn vọt ra ngoài lồng ngực để guồng chân đi khắp cánh đồng.
*
Thức trắng đêm đập lúa, ai cũng mong có bữa cơm gạo mới vì đã phải ăn khoai sắn quá lâu. Nhìn thấy đống thóc ít ỏi nhà tôi, chú Hiệp có vẻ mừng. Trăng sáng vằng vặc, mồ hôi trên trán cô long lanh, vài sợi tóc bết lại, loăn quăn phủ trên gáy. Chú Hiệp ngây ngất. Chú lâng lâng tiến lại, như muốn ôm ngay cô vào lòng. Cô trừng mắt:
- Anh Hiệp, nốt vụ này là tôi có thể trả hết tiền anh.
Chú Hiệp khựng lại, vò vò hai tay, bối rối:
- Cô hiểu lầm tôi rồi, tôi không sang để đòi tiền cô. Số tiền ấy có đáng là bao. Cô cho tôi giúp là tôi mừng rồi. Cô cho tôi đi lại thường xuyên cho... tình cảm.
- Mẹ con bà cháu tôi đội ơn anh - Cô tôi bình thản - Nhưng cái gì phải ra cái nấy. Khi nào có, tôi sẽ mang sang tận nhà anh trả để khỏi phiền anh sang đây, hàng xóm dị nghị.
*
Rơm phơi vàng ươm khắp làng cũng là lúc mùa lũ tràn về. Dòng sông như con ngựa bất kham lồng phăng phăng từ thượng nguồn, bao nhiêu gỗ, thân cây rừng, và cả những xác người trương to như con bò mộng theo dòng lũ ầm ào về xuôi, chỉ còn củi rều dạt lại bến sông cùng bọt trắng xóa. Năm trước bao nhiêu củi vớt được cả làng đều phơi ngay tại chỗ, mối xông lên mất gần hết. Mùa đông cả làng xo xeo. Thỉnh thoảng bà trở dậy, cặm cụi vét đáy bao góc nhà được một nắm vụn bỏ vào cái thau đồng đặt dưới gậm giường. Khói vẩn quanh nhà, ho sặc sụa. Nhưng rồi củi sưởi cũng hết. Chẳng nhà nào còn để vay. Cái rét làm héo mặt cả làng. Năm nay lũ về, nhà tôi đập lúa xong sớm, tranh thủ ào ra vớt trước. Vật lộn cả ngày với sóng nước, bù lại từng súc gỗ rừng to cứ chất lên như núi. Cô hăm hở cướp từ sóng những gốc cây to bằng nửa chiếc chiếu, gò mình quyết liệt như mang sức lực điền. Cô chắc mẩm, cố thêm hai ngày nữa, bán chỗ gỗ đi cầm chắc có món tiền để trả nợ. Nhanh tay vớt trước khi làng ào ra thì cả mùa đông không lo đói lo rét. Nhưng trời chẳng chiều lòng người, được một ngày suôn sẻ, ngày sau bão đã rầm rập kéo về. Tôi đi bế giảng, nhận phần thưởng, dặn đi dặn lại cô và bà đừng cố, chờ bão tan hãy ra vớt tiếp. Cô vừa cười vừa nói tưng bừng:
- Đi đi, đi về cho cô xem cái phần thưởng học sinh tiên tiến trường huyện thế nào.
*
Nếu không vì cô, không vì bà, có lẽ tôi đã bỏ dở chừng quãng đường mười lăm cây số gió táp phần phật. Nhận phần thưởng xong, bọc kỹ càng năm quyển vở và tờ giấy khen vào tấm ny lông, tôi đội mưa đạp như bay. Về làng vẫn muộn. Sông đã cuốn cô đi trong sóng dữ đục ngầu.
Hai ngày sau, người làng dưới vớt được cô nhờ mái tóc dài nổi lập lềnh. Đám ma cô, không ai trong làng thiếu. Đoàn người lặng lẽ bên nhau trong cái nắng hè chói chang sau bão, những vòng hoa trắng rưng rưng trên tay trai làng. Chú Hiệp xin bà vành khăn, bà lưỡng lự mãi rồi khẽ khàng:
- Tôi không muốn anh buồn, nhưng anh không đeo thì hơn. Cho con tôi nó được nhẹ lòng.
Chú Hiệp đấm ngực thùm thụp. Chú bám theo quan tài, vừa khóc vừa kể lể. Chú Hiệp ơi, day dứt mà làm gì. Có nợ thì phải trả, cô tôi mất đi là số không may, chứ đâu phải do chú dồn ép. Chẳng có duyên, lại không có phận, chú tha thiết với cô tôi như thế cũng khiến người chết ngậm cười rồi. Tôi đốt giấy khen, mấy quyển vở phần thưởng để cô được nhìn thấy, được vui nốt niềm vui cuối cùng.
*
Vậy là cũng xong một kiếp người, cô mất mà chưa kịp ăn cơm gạo mới. Bữa cơm gạo mới năm ấy ở làng chẳng còn mấy hào hứng. Mấy năm sau, bà khuất núi. Chú Hiệp tháng đôi lần lê đôi chân gỗ thắp hương mộ bà rồi ngồi bên mộ cô. Còn tôi, từ đó trên bước đường đời lầm lụi của mình, năm nào cũng phải cố mua được một vài bữa cơm gạo đầu mùa, lạ kỳ, năm nào cơm mới cũng rưng rưng nỗi nhớ quê, nhớ tuổi thơ lam lũ, nhớ cả những người đã khuất hay còn đang nghỉ ngơi sau mùa lúa nhọc nhằn.

_________________________________________________________________

Thứ Bảy, 4 tháng 6, 2011

Tiếng kêu vẳng từ gốc si

Truyện ngắn của Hoàng Công Danh

Sân chùa không phải là nơi có tất cả mọi thứ trên đời, nhưng với điệu Sanh, chỉ khoảnh nhỏ ấy thôi cũng đủ để vui chơi một mình. Chẳng hiểu cơn cớ nào run rủi để rồi một cậu bé ở làng trở thành chú tiểu điệu Sanh như hôm nay. Có thể đấy là duyên, là nghiệp. Sanh không để ý lắm đến điều ấy. Một khi đã vào đây buộc phải chấp nhận cảnh sống khác, lối sống khác. Sanh hầu như không có bạn cùng trang lứa, ngoại trừ những dịp sóc vọng lễ vía có vài đoàn sinh Phật tử đến viếng chùa. Thôi thì làm bạn với những gì sẵn trong khuôn viên chùa, chẳng sao, mọi thứ dưới con mắt của nhà Phật đều là loài hữu tình và đáng được trân trọng.
Chớm hạ, nắng vàng dần lên, trời bắt đầu oi nực, từng chiếc lá si khô cong lại. Buổi trưa Sanh hay ra ngồi nơi thềm hiên, gió thoảng qua mát dịu. Lâu lâu có cơn gió bạt mạnh, một đàn lá si cuộn tròn lăn lăn xô nhau dồn về góc sân. Sanh thích ngồi chơi như thế, bỏ quên cả giấc ngủ trưa.
Ngôi chùa này tuy nhỏ nhưng chánh điện niệm Phật luôn trang nghiêm và khuôn viên sẵn có vườn cây hai bên phủ bóng mát. Lũ gà xem ra cũng khôn nên thường lui tới đây kiếm cái ăn và cả kiếm ái tình, thứ mà nhẽ ra ở chùa không nên có. Buổi trưa, một chú gà trống của nhà bên xóm lẻn vào vườn chùa, đứng khệnh khạng dưới gốc si rồi cất tiếng gáy vang như thể không chịu nổi cái nắng sang mùa đột ngột. Sanh nghĩ thế vì có hôm nực quá, điệu đã kéo xệch cổ áo rồi hét toáng lên, sư thầy phải bước ra răn ngay đừng có làm náo lên nữa. Khuôn viên chùa cần phải yên tĩnh và người xuất gia luôn giữ tâm mình an nhiên, khẩu xuất cũng phải thanh tịnh nhã nhặn. Riêng tiếng gà gáy thì thầy không mắng, cũng không xua đuổi chúng đi. Chỉ có tiếng người mới lụy khổ chăng?
Lát sau đã thấy một con gà mái từ phía ngoài nhè nhẹ lần đến gốc si, vừa đi vừa gật gật đầu cúi xuống thẹn thùng. Chú gà trống lượn đi một vòng quanh gà mái, vỗ cánh xoạp xoạp vài cái rồi bất ngờ nhảy lên lưng con khác giới. Gà mái thở rựt rựt mấy tiếng khó nhọc, nhưng rõ ràng nó không hề muốn hất tung con trống đang chễm chệ trên lưng mình. Điệu Sanh vỗ tay khen cú nhảy diệu nghệ của gà trống và cười vui, tỏ ra thích thú với cặp bạn đang cõng nhau.
Thầy lại bước ra định nhủ điệu Sanh vì lần này điệu cười quá to, cứ như hét. Khi thầy ra đến cửa thì con gà trống đang cắm mỏ vào nhúm lông trên đầu gà mái, vỗ cánh đánh ụp một phát. Còn điệu Sanh tay đang cầm hòn sỏi giương lên chuẩn bị ném hai con gà. Trò này hồi còn ở nhà mấy đứa trong xóm hay dùng để phá, thể nào hai con cũng kêu toáng lên như chửi lũ trẻ phá đám. Sư thầy kịp nhủ điệu Sanh bỏ hòn sỏi xuống rồi ngay lập tức quay vào trong, không răn dạy thêm một điều gì. Nhẽ ra thầy nên quát hai con gà mới đúng, hoặc chí ít là xúi huầy cho chúng bỏ đi vì đã quấy quả cửa chùa bằng trò dung tục. Sanh nghĩ thế. Cửa chùa không thể chấp nhận những trò ấy. Vậy mà sư thầy lại nỡ can điệu Sanh, tức là thầy dung túng cho chúng chăng? Sanh vẫn không hiểu nổi. Nhưng Sanh không giận thầy, điệu luôn tin sư thầy xử sự mọi việc đều có cái lý riêng, thế là Sanh đổ tất cả sự tức giận lên hai con gà. “Đợi đấy! Không ném đá thì có cách khác. Ta sẽ cho chúng bay biết tay!”.
Hôm sau thầy bắt Sanh phải vào nằm nghỉ trưa, chú tiểu này hở ra một chút là lại sinh chuyện, mà toàn chuyện khiến thầy khó xử. Nhưng sao thầy thấy mến điệu Sanh quá chừng. Hình như trên con đường đi tìm chân lý của một vị sư luôn có những chướng ngại do chính con người tạo ra. Và Sanh là một nhân sứ làm nhiệm vụ tạo ra trở lực ấy. Sanh ngoan ngoãn lên giường nằm để đánh lừa thầy, rồi nhẹ chân lẻn ra thềm hiên. Con gà trống vẫn đến chỗ gốc si, đưa ánh mắt thách thức điệu Sanh và thản nhiên rướn cổ lên gáy. Gà mái trễ hẹn. Chắc có chuyện gì đó không ổn. Đến khi thoáng thấy đầu gà mái chui ra khỏi lùm cây thì Sanh mừng. Chẳng nhẽ điệu Sanh cũng ủng hộ cái trò chơi của lũ gà, cái trò mà hôm qua Sanh định phá ngang ấy. Hôm nay gà mái đau chân, nó đi cà nhắc. Gà trống không leo lên lưng nữa, nó dẫn gà mái đi quanh vườn cùng kiếm mồi. Khó khăn thông cảm, hoạn nạn đỡ đần. Sanh biết vậy.
Mấy bữa sau gà mái đẻ trứng, không nhớ chính xác là mấy hôm từ cái bữa điệu Sanh thấy chúng chơi trò cõng nhau vì sau bận ấy Sanh không để ý tới cặp gà nữa. Ngay cả chuyện gà mái đẻ trứng Sanh biết được cũng là sự tình cờ. Buổi chiều, điệu chạy ra vườn thì thấy con gà mái chui ra khỏi bụi cây dại, gáy cục ta cục tác một hồi. Sanh tò mò tiến đến gần. Vẫn chưa thấy gì ngoài mấy nhành cây dại phủ kín. Gần thêm chút nữa mới thấy được hai quả trứng nằm lọt giữa bụi rậm. Cái ổ đẻ được xoáy từ mấy cọng lá quanh đó, vo tròn lại như một búi tóc rối. Hồi còn ở nhà, mỗi khi con gà mái cục ta cục tác, mạ nói “gà sắp nhảy ổ”. Rồi mạ lấy cái thúng cạn, lót ổ rơm đặt trên chuồng cho con gà mái nằm đẻ. Còn bây giờ, con gà mái hôm trước mới ngả ngớn chơi trò trong sân chùa lại đẻ khuất trong bụi.
Sanh ngó quanh ngó quất, mắt láo liếc như kẻ trộm, biết không có ai, không con gà nào nhìn thấy mình, điệu nhặt lấy một quả trứng, đem giấu tít sau nương chùa. Đúng chiều hôm đó con gà mái cũng đánh mắt canh dò rồi nhảy vào cái tổ hoang để đẻ tiếp quả thứ ba. Mẹ gà nhận ra mất một quả trứng, liền nhảy phóc ra ngoài bụi cây hét toáng lên. Lạy ông tôi ở bụi này. Đẻ hoang còn la làng thì hỏng rồi. Sư thầy đang ngồi trong thư phòng, nghe tiếng gà mái náo náo ngoài vườn liền chạy ra. Bụng nghĩ chắc điệu Sanh lại gây ra trò gì đây. Lần này trên tay Sanh không cầm hòn sỏi nào cả. Quả trứng thứ hai điệu đã giấu kỹ, chắc là sư thầy cũng không lần ra được đâu.
Thầy ghé tai nói nhỏ một câu gì đó với Sanh. Chỉ một câu thôi, nhưng đủ khiến điệu Sanh chạy lui sau chùa và đem quả trứng đặt vào chỗ cũ. Con gà mái thất thần, như người mẹ mất con, cần mẫn đi tìm suốt buổi chiều vẫn chưa thấy quả trứng mới đẻ hôm qua đâu. Người mẹ nhận ra mất một đứa con thì đau khổ lắm, nhưng còn một đứa con nữa cần bảo vệ, gà mái chạy về tổ. Như một giấc mơ, hai quả trứng nằm sát nhau trong tổ. Chiều hôm đó gà mẹ yên tâm cho ra quả trứng thứ ba.
Không rõ con gà mái này của nhà ai bên xóm vào đây đẻ sòn sòn ra thế. Thầy định nhủ điệu Sanh đi quanh hỏi coi của nhà ai thì đến mà bưng về, chứ để thêm vài bữa nữa là con gà nằm vạ ra đấy mà ấp. Tội nghiệp! Định bụng thế thôi chứ thầy cũng không bảo điệu Sanh nữa. Thà cái của nả rơi rớt, đi kiếm chủ trả lại, chứ đằng này cái tổ gà, đi hỏi khó chịu lắm. Thôi thì cứ để yên đấy. Trước đây đã mấy lần người ta bỏ rơi con trước cổng chùa, thầy đem vào nuôi nấng đến vài tuổi cũng có người đến nhận nuôi.
Sư thầy mong rằng sẽ có người đến bế cái tổ trứng kia về. Qua mỗi ngày, cái tổ thêm một quả tròn, một chủng tử sinh linh xuất hiện trong vườn chùa là thêm một nỗi dây oan. Mười cái trứng giống nhau quây kín một hình tròn giữa ổ lá. Những cọng lá cũng đã khô hết, nâng niu trên đó mười mầm xanh sắp hiện ra. Không có ai đến nhận. Bỏ rơi mẹ gà. Đẻ hoang và bỏ rơi hình như luôn đi cùng nhau. Nhưng con gà mái thì không bỏ con, nó nhẹ nhàng lên nằm ấp trứng.
Hai thầy trò lấy hai miếng tranh cũ làm một cái lều tam giác đơn sơ cho gà mẹ ấp trứng. Mùa này chưa có mưa gió mạnh, nên cái lều chủ yếu che sương đêm thôi. Ngày ngày, Sanh lấy nắm gạo bỏ bên ổ cho gà mẹ, lấy cái gáo dừa múc ít nước đặt đấy. Gà mẹ đưa mắt hàm ơn rồi cúc cúc từng tiếng trong cổ như nghẹn ngào xúc động. Sanh nhận ra những loài hữu tình đúng thật cái nghĩa của nó, luôn có thứ tình cảm chân thực nếu mình xử sự tốt với chúng. Thế mà hồi còn ở làng, nhiều lần Sanh cùng lũ trẻ trong xóm đi rình bắt tổ chim, có khi gặp được một ổ trứng chim đồng xoáy tổ giữa ruộng lúa, đem chia nhau hút sống quả trứng luôn. Nghĩ lại Sanh chợt thấy ơn ớn lờm lợm trong cổ. Vào chùa, Sanh nhận ra dần những việc phải trái, bỏ đi nhiều những thói xấu mà hồi ở làng không ai chỉ dạy cho biết, cứ nghĩ đấy chỉ là trò chơi trẻ con thôi.
Điệu Sanh từng ngày ngóng chờ đàn gà con chui ra khỏi vỏ trứng, khi ấy có cả một đàn gà rộn ràng vườn chùa, càng vui. Còn sư thầy lại nghĩ, không biết rồi chúng sẽ ra sao. Chắc thầy phải nuôi rồi. Mà chủ trương của thầy là không nuôi động vật gia cầm. Hồi trước thầy có nuôi con chim dòng, sau trận bão cái lồng bị gẫy nan, con chim đã bay đi. Từ đó thầy phát nguyện không nuôi thêm con gì nữa, kể cả sinh vật cảnh, bởi đến một ngày tất cả rồi sẽ rời bỏ nơi đây, để lại cho thầy những nỗi day dứt xen lẫn ân hận. Bầy gà cũng thế, thầy sợ cưu mang chúng rồi đến một ngày to lớn, mấy ông nghiện rượu quanh đây thể nào cũng mò đến bắt về thịt. Sư thầy không muốn mình vô tình trở thành người nuôi dưỡng cho lòng tham sân của người khác. Điều này cũng là một giới nghiêm trong luật trì của bậc tu hành.
Đàn gà con từ từ chui ra khỏi vỏ trứng, chiêm chiếp kêu rộn ràng sau gốc cây si. Gà mẹ mừng rỡ nhảy ra khỏi ổ vươn cánh xù lông sau quãng thời gian hun đúc tình thương vào lũ con. Con gà trống mất tăm từ bữa dắt con mái đi kiếm mồi. Đến giờ vẫn chưa về, Sanh thèm nghe một tiếng gà gáy giòn giã quá.
Đêm cuối tháng tối mò. Canh hai đã nghe tiếng gà thét lên. Tiếng kêu làm hai thầy trò thức giấc. Linh cảm thấy điều chẳng lành nhưng thầy không vội vàng, chuyện đâu đã có đó. Hai thầy trò từ từ đi ra sân. Đàn gà con nháo nhác không tìm thấy mẹ ở đâu trong đêm tối. Sắc không thoáng chốc phiêu bồng.
Bên gốc si, bữa nọ tiếng gà trống giục tình đã mở ra một con đường sinh. Rồi tiếng đàn con chiêm chiếp chui khỏi vỏ sừng khóc gào kêu khổ. Cuối cùng, tiếng gà mái rống hết sức lực van lời tạm biệt. Tất cả những tiếng kêu ấy vẳng lên từ dưới gốc si. Biết thế, nhưng khó mà chặt cây đi.

__________________________________________________________________

Thứ Bảy, 28 tháng 5, 2011

Khối trầm

Truyện ngắn của LÊ CÔNG DOANH

Chuyến đò dừng lại ở bến cuối cùng khi mặt trời vừa khuất sau rặng tre bên kia sông. Hiếu nhảy lên bờ và bước đi trong cảm giác chòng chành bởi gần trọn một ngày phải ngồi bó chân trong khoang đò chật.

Trong đầu Hiếu như có một khối u lớn lắc lư, chao đảo, nặng nề. Khối u ấy từng lúc lớn dần lên, xâm chiếm hết mọi ý nghĩ của Hiếu … Anh lắc mạnh đầu để định thần. Nhắm mắt lại, Hiếu thấy những tia sáng đủ màu nở tung tóe từ một cục than cháy đỏ cứ lớn mãi, lớn mãi…

Hai bức màn đã ngả màu kéo sát vào nhau che kín gian giữa ngôi nhà dùng làm nơi thờ phụng. Phía trong cùng của gian giữa ấy là bàn thờ cha Hiếu. Ông Thiệt chết nhưng không để lại tấm ảnh nào. Thay cho chân dung ông là một khối gỗ hình tháp được phủ quanh bởi một tấm khăn nhiễu điều. Màu tấm khăn đỏ rực như cục than trong đầu Hiếu …

Anh thấy đầu mình đang nóng ran như trong một cơn sốt váng vất. Mà Hiếu đang sốt thật. Đầu anh ai đã đeo chì vào đó. Hiếu không nhớ rõ từ lúc nào trong đầu hiện diện cái khối u đỏ quái ác ấy. Cứ đến lúc người ta bàn tán nhiều về chuyện trầm thì cái khối đó lại hiện lên. Hiếu đang khổ sở vì cục than cháy đỏ trong đầu… Suốt mấy đêm ở dưới phố, Hiếu không làm sao chợp mắt được.

Trừ những ngày lễ hay kỵ giỗ, chẳng mấy khi bà Thiệt cất tấm khăn điều ra khỏi khối gỗ thờ chồng. Đối với Hiếu, bên trong khối gỗ ấy chứa đựng biết bao nhiêu điều kỳ bí mà Hiếu chưa thể giải thích được. Để khối hình bầu dục được đẽo gọt cẩn thận nhưng bên trên thì hầu như không có sự trau chuốt của bàn tay con người. Những khi vào thắp hương cho cha rồi chăm chú nhìn khối gỗ đã lên nước đen bóng, trí tưởng của Hiếu lại chồng chất lên nhau biết bao hình thù mà Hiếu đã từng bắt gặp ở đâu đó. Không có một hình ảnh nào đọng lại lâu để có thể xác định được rằng khối gỗ ấy nhằm biểu hiện một cái gì. Có khi nó là những đốt xương được đặt chồng lên nhau không tuân theo một trật tự nào và vì thế nó mang một hàm ý bí hiểm luôn gây nên sự tò mò. Có khi nó giống những cột thạch nhũ đang cao dần lên mãi hoặc trông tựa những vách đá dựng đứng giữa trời để thách thức gió mưa…

Hồi chưa lớn lắm, có một lần mải nhìn khối gỗ, mặt Hiếu ghé sát vào nó lúc nào không hay. Một thứ hương thơm phảng phất trong gian thờ mà thoạt tiên Hiếu ngỡ là của nhang khói đang nghi ngút cháy. Nhưng rồi Hiếu đã nhận ra đó là một mùi hương rất lạ… Như bị lôi cuốn bởi một sức mạnh huyền bí, bất giác Hiếu đưa tay gõ nhẹ vào khối gỗ làm phát ra một tiếng kêu khô và chắc. Từ đầu ngón tay như có một luồng điện truyền nhanh qua các mạch máu rồi lan khắp cơ thể. Hiếu rùng mình bởi một cảm giác rờn rợn pha lẫn giữa kinh ngạc và sợ hãi. Hiếu rụt tay lại và thấy trước mắt khối gỗ bỗng nhòa đi. Anh nhớ lại hình ảnh của một ngôi nhà bằng cát được trẻ con xây lên rồi sóng biển ùa vào cuốn trôi tất cả. Sau lần đó, mỗi khi vào đứng trước bàn thờ cha, với tất cả vẻ trang nghiêm và tôn kính Hiếu cố tìm lại mùi hương kỳ lạ ấy. Một đôi lần, bằng một cảm giác nào đó thật mơ hồ, Hiếu nghe mùi hương quanh quẩn bay. Như một người vừa phát hiện ra vẻ đẹp kỳ diệu của một tác phẩm điêu khắc đầy ẩn ý, Hiếu chỉ đứng chiêm ngưỡng khối gỗ từ xa mà không hề có ý nghĩ rằng sẽ sờ tay vào nó thêm một lần nữa.

Lớn lên, Hiếu vẫn không hiểu thật rõ vì sao trong khối gỗ vô tri ấy lại tiềm ẩn một sợi dây vô hình mà luôn luôn sống động, đã nối chặt vào nơi sâu kín trong tâm hồn Hiếu một cái gì đó thật thiêng liêng… Những năm chưa thoát ly lên rừng, mỗi lần thấy mẹ đứng trầm ngâm trước khối gỗ, lòng Hiếu lại lắng xuống và khi ấy anh cố hình dung về người cha đã khuất. Chỉ tiếc ngày ông Thiệt hy sinh, Hiếu chưa đủ trí khôn để ghi nhận hình ảnh của cha cho trọn vẹn. Bằng linh cảm, Hiếu thừa nhận sự tồn tại của khối gỗ khác với những đồ vật hiện hữu trong ngôi nhà mình. Khối gỗ là một cái gì khác thường… Khối gỗ có tấm khăn nhiễu đỏ phủ kín… Màu khăn như cục than đang cháy trong đầu Hiếu.

Qua con dốc thứ hai, đầu Hiếu muốn chúi về phía trước. Khối gỗ lại hiện ra và nặng như đá. Đầu gối Hiếu đã mỏi nhừ nhưng anh không muốn nghỉ. Từ đây về đến nhà, Hiếu phải leo thêm bốn con dốc nữa. Nhà Hiếu ở tận cuối làng. Hiếu nhớ con đường từ bến đò xóm Thượng dẫn về nhà mình trước đây chỉ lưa thưa vài chục mái tranh nằm cheo leo giữa một vùng đồi rộng và dài hút tầm mắt, bây giờ đã có nhiều hàng quán mọc lên dọc theo hai bên đoạn đường này để làm nơi nghỉ chân cho dân đi trầm và bọn lái. Chiều chiều, dân tứ chiếng từ rừng về, từ phố lên tụ tập mua và nghe ngóng tình hình. Những cuộc say có thể kéo dài tới khuya sau một chuyến đi may mắn. Dưới gốc cổ thụ nơi ngã ba đường, không biết từ lúc nào trở thành nơi cúng tạ cố mệ…

Từ độ người ta đổ xô nhau lên rừng tìm trầm, thanh niên trong làng Hiếu cũng thưa dần đi. Riêng Hiếu thì không lúc nào được yên. Sau nhiều lần âm thầm dò hỏi, Hiếu biết được giá trị của khối gỗ mà mẹ con anh đang có. Bây giờ, con nít còn thò lò mũi ở làng Hiếu cũng đã nói chuyện đi trầm. Làm sao Hiếu ngồi yên được khi cả làng như đang lên cơn sốt… Người đi rừng cả chục năm chưa chắc được cố mệ cho một cội tốt như loại của nhà Hiếu. Đi đâu, Hiếu cũng nghĩ về khối trầm. Những khi nghe rừng động lâu ngày hoặc hàng đang khan Hiếu lại càng lo lắng. Đôi khi đang làm việc, Hiếu chợt giật mình nhớ tới khối gỗ đang nằm trong ngôi nhà vắng. Mấy hôm ở dưới phố Hiếu sốt ruột mong mau xong việc để lên nhà. Một mình bà Thiệt giữa đêm hôm mà cửa ngõ nhà Hiếu có lấy gì làm chắc. Dạo gần đây, đi đâu khoảng vài ba ngày là lòng Hiếu cồn cào khó chịu. Về đến nhà việc đầu tiên là Hiếu đến vén bức màn lên để nhìn vào bàn thờ cha. Mỗi ngày, Hiếu nhìn vào đó không biết bao nhiêu lần nhưng tuyệt nhiên không có lần nào Hiếu nghe trở lại mùi hương phảng phất trước đây. Lâu dần Hiếu không còn quan tâm đến điều đó nữa. Nhưng bà Thiệt thì chú ý cử chỉ lạ lùng của Hiếu. Có điều bà chẳng hề nói gì. Hiếu lấy làm lạ vì không nghe mẹ nói tới khối trầm quý giá. Bà như không biết rằng giá trầm đang tăng lên vùn vụt và khối gỗ trở thành nỗi lo của Hiếu … Giữ của quý trong nhà thật đúng là của nợ, Hiếu nghĩ vậy và định bụng sẽ nói với mẹ về điều lo lắng của mình.

Lên đến lưng chừng con dốc thứ ba, Hiếu thấy đất dưới chân như đang trượt đi. Một cơn lạnh chạy dọc sống lưng làm Hiếu nghĩ ngay đến cơn sốt rét rừng thỉnh thoảng vẫn trở lại hành hạ Hiếu. Nếu là sốt rét thì mình cũng không lo lắm. Sẽ qua ngay thôi. Hiếu tự nhủ rồi bấm mấy đầu ngón chân cố dấn bước.

- Chú Hiếu!

Tiếng gọi bất ngờ làm Hiếu giật nẩy người. Hiếu quay lại và thấy lão Tưng đang khật khà khật khượng.

- Đi đâu mà vội thế… Vào đây, làm một ly rồi về… chú! Giọng lão Tưng lè nhè.

- Dạ, cho cháu xin khi khác. Cháu đang mệt lắm, phải về ngay thôi… Hiếu gỡ bàn tay hộ pháp của lão ra khỏi vai mình.

- Không được… chú phải vào đây đã. Mụ Mập ơi, lấy thêm cái ly…

Lão Tưng không chịu buông. Thấy giằng co giữa đường không tiện, Hiếu thấp giọng một lần nữa:

- Cháu đang sốt mà trời thì tối rồi! Để mai vậy.

- Đã bảo không được là không được. Bộ chú không muốn ăn mừng với tôi à?... Nhờ ơn cố mệ, tôi vừa kiếm được chút ít… Hà, hà… lão già này còn say dài dài… Nói thiệt, chú cũng nên đi một chuyến…

- Bác nói thế chứ sức vóc như cháu thì làm gì được.

- Ấy, sao lại không? Chú không đi xâu như tôi được thì có cách khác. Làm việc như chú, kiếm cái giấy có khó gì. Sống nhờ vào ba đồng lương nhà nước biết đến bao giờ cho hết cực.

Hiếu bắt đầu ngờ ngợ. Ai bảo giọng lưỡi ấy là của người say? Lần trước gặp lão, Hiếu cũng đã nghe lão nói thế.

- Cũng khó chứ bác! Nói vậy chứ ai làm việc cho bây giờ? Hiếu trả lời để thăm dò.

- Dào, khó gì chuyện ấy. Cái quan trọng là ở đây này! Lão vừa cười vừa vỗ vỗ vào túi áo.

Giằng mạnh khỏi tay lão Tưng, Hiếu cắm đầu bước. Nếu không vì có họ hàng xa Hiếu đã cho lão một đạp nên thân. Lão Tưng đứng tựa lưng vào cửa quán nói với theo một cách hằn học:

- Hừ, danh giá gớm! Gì chứ giữ thứ ấy thì như giữ của nợ thôi con à!

Hiếu bỗng chột dạ. Lão bảo cái gì là của nợ? Ai thắp lại cục than trong đầu mình rồi. Đoạn đường trước mắt như muốn dài thêm. Hiếu nhấc chân không muốn nổi, mấy lần anh suýt đâm vào bụi cây bên đường. Lão già ma ám này có gì mà nói bóng nói gió như thế. Ôi chao, cục than quái quỷ ở trong đầu…

***

Xô cánh cửa bước vào nhà, Hiếu thấy phía sau bức màn ngọn đèn dầu đang cháy tù mù. Vén bức màn lên, dụi mắt đến lần thứ hai Hiếu vẫn chưa tin là khối trầm đã biến mất, dưới bát hương đang tỏa khói, tấm khăn đỏ đã được xếp ngay ngắn. Hiếu cầm tấm khăn chạy bổ trở ra. Vừa lúc bà Thiệt từ dưới bếp đi lên.

- Mẹ bán được mấy? Hiếu hỏi như người hụt hơi.

Bất ngờ trước câu hỏi của con, bà Thiệt sững sờ nhìn Hiếu. Nhưng bộ mặt thất thần và chiếc khăn trên tay Hiếu giúp bà hiểu ra mọi chuyện. Hiếu đợi mẹ trả lời vừa cố nghĩ xem mẹ đã bán khối trầm cho ai. Hiếu vừa lo vừa bực. Mẹ có biết gì về giá cả đâu mà đem bán khối trầm ấy đi. Ma xui hay sao mà mình về chậm thế này… Bà Thiệt vẫn lắng thinh bất động. Tự nhiên Hiếu đâm hoảng trước thái độ của mẹ. Tai Hiếu ù lên và văng vẳng tiếng cười của lão Tưng…

Bao nhiêu dự định của Hiếu phút chốc đã tan thành mây khói. Cổ họng Hiếu muốn kêu lên một tiếng nhưng không được… Những đêm dưới phố, Hiếu đã tính toán kỹ mọi chuyện cả rồi. Hiếu định chuyến này lên sẽ bàn với mẹ gọi người tới bán khối trầm. Có bao nhiêu việc cần đến tiền mà Hiếu không thể xoay ở đâu ra. Bán đi, vừa được tiền vừa khỏi lo mất… Cục than trong đầu đang nhảy nhót và chực nhảy ra ngoài… Khối trầm bây giờ ở đâu? Hiếu cố suy nghĩ. Sau khi bán khối trầm xong, Hiếu tính sẽ mua một cái bài vị để thờ cha. Chuyện thờ phụng thì cốt ở tấm lòng mình nghĩ đến chứ quan trọng gì ở mấy thứ đồ thờ. Mà cũng thật lạ đời khi người ta đang sẵn sàng bỏ xác vì trầm còn mình thì nơm nớp giữ của … Hiếu định thuyết phục mẹ bằng những lý lẽ ấy … Hiếu vò chiếc khăn đỏ ở trong tay…

- Mẹ cất rồi… Nhà cửa mình vắng vẻ quá! Cuối cùng bà Thiệt đã lên tiếng.

Hiếu cố giấu một tiếng thở mạnh ở trong lồng ngực. Không khí lại im lặng thêm một lúc. Yên tâm vì khối trầm không mất, Hiếu lẳng lặng ngồi xuống tấm phản. Bà Thiệt bước vào gian thờ thắp hương cho chồng. Trong thâm tâm Hiếu mong mẹ sẽ nói điều ấy ra. Cái điều mà lâu nay làm Hiếu mất ăn mất ngủ. Rồi Hiếu sẽ trình bày với mẹ tất cả dự định của mình.

- Hôm qua, thằng Vui con chú Sáu đi trầm về báo với mẹ là nó tình cờ tìm thấy mộ cha con… giọng bà Thiệt vọng ra, cố giấu một nỗi xúc động.

Bất giác, Hiếu quay mặt lặng nhìn vào bàn thờ. Hiếu nghe mẹ đang lầm bầm những câu gì không rõ. Cái tin quá bất ngờ. Hiếu không biết nói gì mặc dù anh rất muốn bày tỏ một nỗi cảm xúc vừa trỗi dậy trong lòng mình. Khi bà Thiệt bước ra, Hiếu thấy trong ánh mắt mẹ long lanh giọt nước mắt. Hiếu hiểu đó là niềm vui của mẹ anh. Hiếu nhớ, cũng ánh mắt ấy đã nhìn anh trở về, đón nhận anh trong ngôi nhà yên ấm này. Mới đó mà đã gần mười năm rồi. Ngày ấy, khi mẹ Hiếu khóc mừng anh nguyên vẹn thì anh cũng nhận ra một nỗi mất mát không thể nào bù đắp được trong cuộc đời của mẹ. Ông Thiệt hy sinh khi Hiếu còn nhỏ dại. Ông ra đi không gặp mặt vợ con. Từ đó đến nay, mẹ con Hiếu vẫn không biết được mộ ông nằm ở đâu. Bao nhiêu năm tìm kiếm và mong đợi, Hiếu biết mẹ vẫn chưa một lần thất vọng. Bà Thiệt tin sẽ đưa nắm xương của chồng về với mảnh đất làng như bà đã tin rằng vong linh chồng vẫn luôn phù hộ cho đứa con duy nhất của bà bình yên đi qua cuộc chiến tranh. Phút chốc, lòng Hiếu lắng xuống. Những gì tưởng đã trôi qua cùng năm tháng bận rộn chợt trở lại. Bây giờ trong tâm trí Hiếu chỉ còn một ý nghĩ: nắm xương của người cha đã khuất…

Đêm ấy, hai mẹ con bàn định ngày lên rừng cải táng mộ cho ông Thiệt. Hiếu hình dung đến mảnh đất khốc liệt mà cha anh đã ngã xuống. Hiếu lờ mờ nhớ lại ngày anh còn nhỏ, nhiều đêm giật mình tỉnh dậy vì tiếng súng vọng về từ một nơi nào đó, anh thấy mẹ ngồi trầm ngâm rồi dỗ anh trở lại với giấc ngủ. Lâu rồi, hình như anh đã quên hình ảnh đó.

- Mẹ định làm mâm cơm cúng cha con rồi nhờ vài người nữa cùng đi. Chuẩn bị mọi thứ xong, ngày mốt sẽ đưa cha con về…

Hiếu ngã lưng trên tấm phản mát lạnh. Anh nhắm mắt lại nhưng không còn thấy cục than cháy đỏ nữa. Trong đầu Hiếu, cục than đã nguội tắt từ lúc nào không rõ, chỉ còn lại nguyên vẹn một khối gỗ đen tuyền hình tháp nhọn. Một cảm giác quen thuộc trở lại. Hiếu nhớ rất rõ cảm giác ấy, khi anh bất chợt gõ tay vào khối gỗ. Hiếu mơ hồ cảm nhận một mùi hương rất quen đang phảng phất trong gian nhà ấm cúng. Hiếu thiếp đi… Trong giấc mơ, Hiếu thấy mình lạc vào một cánh rừng bạt ngàn cây gió. Nơi ấy, cha anh yên nghỉ giữa không gian ngào ngạt mùi trầm hương tinh khiết…

***

Hiếu mở mắt nhìn lên bầu trời rộng và xanh tái dưới ánh trăng hạ tuần được lọc qua vô vàn hạt sương li ti màu trắng đục… Một mùi hương rất đậm vừa đi qua đánh thức giấc ngủ mệt nhọc của Hiếu rồi tan biến vào không gian vô tận. Hiếu thở thật sâu cố tìm lại mùi hương vừa thoảng qua. Anh tin nó đang còn ở đâu đây… Có lẽ nó còn vương trên những ngọn cây trơ trụi kia và đang chờ cơn gió tới. Những ngọn cây bị chém ngang hoặc đã trụi lá, đen sạm lại bởi thuốc khai quang trong xanh như những bàn tay xương xẩu gân guốc chĩa thẳng vào không trung yên tĩnh.

Tiếng thở đều đặn của mấy người bà con nằm bên cạnh giúp Hiếu nhớ lại công việc của suốt ngày hôm nay. Chung quanh yên lặng. Tiếng con suối róc rách trườn đi dưới chân núi nghe như hồi âm của một thế giới xa xôi và kỳ bí đang ru muôn loài ngủ yên bằng điệu nhạc muôn thuở của mình. Không khí trong sạch và lành lạnh làm Hiếu tỉnh táo. Anh cảm thấy sảng khoái vì được nằm dưới chân núi ngắm bầu trời cao và rộng sau một ngày gắng sức bốc cho xong nấm mộ. Không có mấy người bà con, đến mai chưa chắc mẹ con Hiếu đã xong việc… Hiếu lại nghĩ đến phần mộ mới của cha anh. Ngày mai cha anh sẽ về với mảnh đất làng… Điều mong ước lâu nay của bà Thiệt …

Theo hướng gió, Hiếu quay mặt về phía có mùi hương vừa bay đến. Anh định kìm lại để khỏi kêu lên vì kinh ngạc. Bà Thiệt đang ngồi bên chiếc tiểu đã mở nắp đựng hài cốt chồng. Hiếu nhớ, hồi chiều chính tay anh đã đậy nắp chiếc tiểu lại… Trước mặt bà Thiệt, ngọn nến cắm trên một khúc cây nhỏ đang lung linh cháy. Cách bên trái bà Thiệt một bước chân là miệng huyệt lởm chởm đất chưa được lấp lại. Bên dưới ngọn nến những thẻ gỗ màu đen bóng xếp chồng lên nhau. Bà Thiệt đều đặn nhón tay nhặt từng thẻ hơ qua ngọn nến rồi nhẹ nhàng đặt vào lòng chiếc tiểu. Từng thẻ gỗ sủi bọt và mùi hương tràn ngập cả không gian quanh đó… Tự dưng, giọt nước nóng hổi ứa ra bên khóe mắt Hiếu. Anh ngước mặt lên bầu trời rộng, vầng trăng lay động rồi nhòa đi, tanh thành vô số những mảnh vụn long lanh. Khi Hiếu quay lại phía chiếc tiểu thì không còn một thẻ gỗ nào nữa. Bà Thiệt ngồi bất động, bóng đổ xuống mặt đất một màu tối sẫm. Hiếu nghĩ đến khối trầm… Khuôn mặt lão Tưng hiện lên méo mó như được nhìn qua một tấm gương nhòe nhoẹt nước mưa.

L.C.D.
______________________________________________________

Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2011

Người nhẹ vía

Truyện ngắn của Nguyễn Thế Hùng

Chẳng biết tự khi nào và ai là người đầu tiên phát hiện ra thằng cu Còi con nhà Cọc là người nhẹ vía nhất trong làng, chỉ biết rằng cứ mỗi buổi chợ phiên, là thằng Còi cứ giả đò thơ thẩn trước cổng làng, quang gánh hàng chợ của các bà, các chị đi qua là thằng Còi cũng phải giả đò chạm vào, hai bên đều giả đò nhưng đầy chủ ý như thế, như thế và cứ như thế đã nhiều năm nay thế mà ai cũng mua may bán đắt cả. Cũng có nhiều buổi sáng mùa đông giá rét, vợ chồng nhà Cọc không cho con ra đầu làng hay do thằng cu Còi ngủ nướng trong giường quên dậy thì buổi chợ mất hẳn phần tự tin, trưa chợ thể nào cũng có vài người phải thất thểu gánh rau ế với chè héo về nhà. Thế là cũng chả biết tự khi nào và là sáng kiến của ai, cứ mỗi đợt đông về, người ta lại mang đến tặng cho thằng cu Còi con nhà Cọc những bộ quần áo ấm và rồi dặn như thế, như thế và như thế. Ngày ấy, ngày ấy và ngày ấy cháu nhớ giả bộ ra đứng thơ thẩn đầu làng và cứ như thế, như thế và như thế nhé. Người đi chợ đông, quần áo Còi mặc không hết, vợ chồng nhà Cọc bán bớt cho tiệm buôn đầu làng và cứ như thế, như thế và như thế, rất nhiều bộ quần áo cứ chạy vòng tròn từ nhà vợ chồng nhà Cọc ra tiệm buôn rồi từ tiệm buôn đến tay người đi chợ từ người đi chợ lại quay về nhà vợ chồng Cọc. Khi tiếng tăm thằng Còi con nhà Cọc nhẹ vía đã lan khắp làng trên xóm dưới thì hàng ngày Còi không chỉ sờ vào quanh gánh người đi chợ nữa mà trong làng ai muốn bán con trâu, con bò hay con lợn cho mau, cho được giá đều mời Còi đến rồi Còi lại giả đò khen con vật cần bán một câu, thế là hôm sau y như rằng sẽ có người đến hỏi mua và gia chủ bán được món hời. Từ bột phát đã trở thành nghề, có thằng con nhẹ vía, vợ chồng nhà Cọc từ đó đời sống cũng đỡ vất vả hơn.
Năm lên tám tuổi, thằng Còi gặp một ca khó, khó nhất từ trước đến nay, khó đến nỗi người nhờ và người được nhờ tưởng đã phải bó tay. Số là xóm trên có o Hường con bà cháu Hòe ngồi cồn đã ba mươi năm nay mà chưa ai chịu rước. Ở làng ba mươi tuổi chưa chồng coi như ế, từ được gọi bằng em rồi lên chị chuyển sang o coi như cầm chắc cái ế. Không nỡ để tuổi xuân con ra đi vĩnh viễn và mang theo cái sướng muôn đời đi theo, bà Hòe đánh đường xuống nhà vợ chồng Cọc, ba săn bảy sóc nhờ bằng được cu Còi về nhà mình. Nể tình, Còi lên, tay vuốt má o Hường, miệng khen o Hường đẹp dù trong con mắt của đứa trẻ trai lên tám vẫn biết là mình đã nói dối, đã nói không thật, đẹp thì đã có người rước từ lâu chứ đâu cần đến tay vuốt với miệng khen của cu Còi. Nghề mà, nghề thì phải khen thôi, đã ra tay giúp thì phải giúp cho đến nơi đến chốn. Nhưng cho dù cu Còi đã nhiệt tình hết cỡ nhưng o Hườâng phòng không vẫn hoàn phòng không, ngồi cồn vẫn kiếp ngồi cồn. Đôi mắt già đã qua một thời cháy rực lửa ân ái của bà Hòe lộ rõ sự âm u, ai oán, hoang mang và thất vọng. Bà buồn thay cho con gái, đã đành là xấu nhưng cũng đầy đủ một dưới hai trên, đứa nào lấy nó cũng có cái xỏ cái vò, lắm lúc bà phải than thở với lũ trai làng “Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang, bao nhiêu tức đất, tức vàng bấy nhiêu”. Đã hết cách vậy mà cái sướng ngàn đời vẫn còn rong chơi ở tận đẩu tận đâu. Nhưng không lẽ đành bất lực bó tay ngồi nhìn cái tuổi nó đuổi xuân đi nơi con gái. Và rồi đã quyết, lần này bà Hòe không dám đến nhà vợ chồng Cọc nhờ cu Còi nữa mà đợi lúc cu Còi dắt bò ra bãi soi thả, làm như vô tình mẹ con bà chắt Hòe cũng xống áo ra sông tắm. Trưa hè nắng gắt, mẹ con bà và thằng cu Còi đội cả trời nắng trưa để ra sông. Vấn tóc dắt tai rồi bà chắt Hòe khoan thai cởi yếm, hai trái mướp già trước ngực bà được dịp xổ ra lơi lả cùng nước sông mát như thạch. Trên nắng, dưới nước, ở giữa có đôi mắt thằng cu Còi. Cởi yếm mình xong, bà chắt Hòe nhìn sang con gái vẫn còn đầy đủ áo xống đứng trân trân mặc cho nước lả lơi vơi vít hai ống quần. Điên tiết, bà nhay con qua hai kẽ răng:
- Đồ thối thây, có mau cởi ra không thì bảo.
- Con ngượng lắm người ta thấy, công lao giữ gìn ba mươi năm nay - O chắt Hường thẹn thùng tính không nói chỉ nam mô A Di Đà nhưng sợ mẹ nhay nên đành trả lời vậy.
- Đồ ngu, có phải mả tổ đâu mà giữ rịt như thế, làm hoa để người ta hái, làm gái để thiên hạ người ta nó vần vò con ạ, ba mươi tuổi mà chưa có thằng nào nó vần vò coi như là chưa sống, chưa sống thì sẽ không lớn nổi thành người. Không thành người vậy mà không biết nhục hả con. Tôi đây lấy chồng từ thuở mười ba, đến năm mười tám em đà năm con, ra đường em hãy còn son, về nhà em đã năm con cùng chàng. Đến giờ tôi vẫn còn hận bố cô đấy, hương lửa đang mặn nồng thì tự dưng một ngày lập xuân mưa rơi thế mà ông ấy trốn xuống âm phủ. Lấy chồng từ thuở mười ba, mười ba tuổi đã biết vậy mà vẫn tiếc, biết thế còn sớm hơn. Cởi mau không thằng Còi đuổi bò về bay giờ.
Vừa sợ mẹ, vừa cũng muốn sớm được biết cái sướng chưa một lần biết mà luôn nghe qua mấy cái mồm thêu dệt của mẹ, của mấy bà nạ dòng, của đám đàn ông có bộ râu dê, o chắt Hường tần mần tỉ mẩn lần từng cúc áo một. Đôi mắt đàn ông trên khuôn mặt của thằng bé tám tuổi chuyển từ hai quả mướp già sang hai cái bánh bao có lẽ người làm bánh lơ đãng cho vào quá nhiều bột nở. Lại còn sông, còn nước, còn mái tóc o Hường nửa như e nửa như ấp, còn một nửa lý lơi làm cho khuôn mặt o đỏ tứng lựng lên. Lạ, đàn bà dù có xấu đến đâu khi ướt cũng nhìn thấy xinh. Lạ, đàn bà dù xấu đến đâu khi thẹn nhìn cũng thấy có duyên. Thằng cu Còi cứ đứng đực mặt như ngỗng ỉa, dớt dãi chảy đầy ngực, nó không thể lý giải nổi, để làm gì thì nó cũng không thể biết nhưng mắt nó không thể rời ra được nữa rồi. Hai cái bánh bao đó chắc chắn không thể làm nó no bụng, nhưng con mắt thì no, con mắt thì cứ muốn nhìn, hai tay cứ muốn ngọ nguậy, muốn nắm, mấy ngón cứ muốn duỗi ra rồi lại co vào. Nó đánh rơi cái roi chăn bò khi nào không hay không biết, nó bóp nát cái nón mê đội đầu khi nào không biết không hay. Phải đến một lúc lâu sau, lâu là bao lâu thì thằng cu Còi cũng không biết, nó bỗng giật mình khi nghe tiếng kêu: “Con nhà Cọc mải chơi đâu để bò ăn hết ngô rồi này”. Hóa ra trong lúc Còi bận nhìn hai cặp vú thả rông thì con bò cũng được thả rông đi tìm ngô non để ăn. Nghe tiếng kêu cu Còi mới giật mình ù té chạy đi tìm bò trả lại hai cặp vú thả rông cho dòng sông đang thơ thới chảy.
Thằng cu Còi đã chạy đi nhưng o Hường vẫn cứ đứng phô phang hai trái bánh bao có quá nhiều bột nở ở đó. Và hình như ánh mắt, ánh mắt hồi nãy không phải là của đứa bé chăn bò mới tám tuổi đầu? Ánh mắt đó hình như vẫn còn, vẫn còn đọng lại trên da thịt nhạy cảm, thơ thới, thẩm thỉ của o Hường. Anh mắt đó đã có mấy bận đậu lại trên da thịt o trong những lần hiếm hoi o trễ nải áo xống đi qua đám đàn ông chán vợ. Và o vẫn đứng mặc cho nước lý lơi bơi sấp ngửa giữa hai ống chân quần. Mãi đến lúc bà Hòe lên tiếng: “Đồ thối thây, giờ thì khép lại được rồi, khi bảo cởi thì không cởi, lỡ cởi ra rồi không muốn đậy lại nữa à” thì o mới lại giật mình nhưng không mặc lại áo, o nhảy đổng lên rồi lặn ùm xuống sông, ngực miết miên man vào cát. Nước, cá và cát làm người o nóng lên, nước chỗ o lặn sôi sung sùng sục, cá dại dột nổi bụng chết trắng sông. Được một lúc, nước bớt sôi o cũng trồi lên, trồi lên, trồi lên rồi nây nẩy, nhấp nhô lượn theo sóng sông o thả trôi mình theo dòng đang ỡm ờ chảy xuôi. Bà Hòe đứng nhìn, ánh mắt vừa thương cảm vừa ganh tị với sự phô phang, phập phồng, phốp pháp, phơi phới, phì phạch có phần phờ phạc của con gái.

*
* *

Sau lần ấy, thật là trái khoáy, người về nhà chồng lại là bà Hòe. Còn o Hường thì vẫn luôn phập phồng, nhấp nha nhấp nhổm như ngồi phải cọc mỗi lần thấy bóng đàn ông đi gần đến ngõ nhà mình. Vậy mà không vẫn tịnh không, phòng o vẫn trơ vẫn trống. Sau lần đó, thằng cu Còi hay chăn bò ở bờ sông hơn, sông vẫn đầy sóng mà o Hường thì đã thôi giặt áo ở bờ sông. Chiều muộn thơ thẩn buồn chờ mãi mà người không đến, cu Còi ngồi buồn rồi phủi đít đuổi bò đi vòng xóm trên về chuồng. Đường gần Còi cứ đi vòng cho xa, lối này lắm bưởi nhiều hoa (đi vòng là để qua nhà đó thôi)(*). Nhưng qua nhà để làm gì thì chính cu Còi cũng không biết nữa. Cho đến một buổi chiều muộn, như mọi bận, khi qua ngõ nhà o Hường, cu Còi lại thơ thẩn nhìn vào thấy o Hường đang thấp thoáng sau rào râm bụt, tim cu Còi như ngừng đập, phút giây này trái đất cũng ngừng quay, chỉ còn sự đắm say mải mê nhìn của cu Còi, nước miếng lại ướt đẫm ngực áo mục đồng. O Hường biết, o Hường thấy và o Hường gọi Còi vào nhà. Một lần nữa con bò nhà cu Còi được dịp thả rông lại lẻn vào đám khoai lang lá xanh mươn mướt mỡ đang trên vồng của nhà o Hường. Mặc, cu Còi đang bận theo đuổi cặp ngực thả rông của o. Căn mình lớn, vía mình cao, ao mình cạn nên lần trước nó chỉ nhìn thôi thì chưa thể chưa linh nghiệm, lần này cho nó thoa may ra có người đến (chắc là o Hường nghĩ thế). O Hường bảo thoa, ban đầu thì cu Còi sợ lắm, sợ đến vãi cả mồ hôi hột, nhưng khi cu Còi bắt đầu thấy thinh thích thì o Hường chộp vội tay cu Còi ấn xuống. Hết hồn, hết vía như bị điện giật, cu Còi vội giật tay lại rồi hớt ha hớt hải chạy ra khỏi nhà o Hường. Vừa chạy Còi vừa lẩm bẩm: “Quý báu gì cái bàn chải, lạ gì cái bàn chải mà phải giấu trong quần…”
Liều vậy mà được, sau lần ấy thì: “Một năm có lắm là ngày/ Mùa hoa mùa cốm vào ngay mùa hồng/ Từ ngày cô đi lấy chồng/ Gớm sao một quãng đường đồng mà xa/ Bờ rào cây bưởi không hoa/ Qua bên nhà thấy bên nhà vắng teo/ Lợn không nuôi đặc ao bèo/ Gàu không dây chẳng buồn treo vào giàn/ Giếng khơi mưa đọng nước tràn/ Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều”(*) Cu Còi không về qua ngõ nhà o Hường nữa một phần vì o Hường đã đi lấy chồng và một phần là do cu Còi sợ. Cái sợ của cu Còi giống như cái sợ của đứa trẻ con hiếu động tinh nghịch, một lần nghịch dại bị điện giật, dù chưa đến nỗi chết nhưng đã khiếp mất vía, khiếp đến cả con đường đi qua ngõ nhà o Hường.

*
* *

Hình như cái nhẹ vía của cu Còi chỉ giúp ích được cho người khác, còn bản thân mình thì lại khá hẩm hiu. Tốt nghiệp đại học đã mấy tháng nhưng chẳng ma nào nhận vào làm, đang xắm nắm tính về quê lấy đuôi trâu làm thước ngắm thì có người đến tìm. Khi Còi đang xắm nắm để trưng ra nào là lý lịch ba đời ăn củ chuối, nào là trong họ hàng hang hốc chưa có ai lỡ xỏ nhầm giầy Tây, nào là sinh viên nghèo vượt khó vân vân và vân vân thì ông giám đốc, lấy tay gạt tất cả sang một bên và phán:
- Tất cả những thứ đó cậu giữ lấy làm kỷ niệm.
- Thế ông gọi tôi đến để làm gì?
- Đơn giản thế này, hàng ngày, đúng bảy giờ sáng, anh đến đứng thơ thẩn trước cửa nhà tôi, đợi khi xe tôi đi qua, anh làm như vô tình sờ vào xe tôi một cái, thế là được, hàng tháng tôi trả anh đủ tiền ở trọ và tiền ăn. Bước đầu cứ như thế đã, sau này nếu anh làm tốt, tôi sẽ nhận anh vào công ty làm việc, khi đó lương bổng sẽ tốt hơn.
Hóa ra công lao, tiền của đổ vào mười sáu năm học của cu Còi chẳng là cái đinh gỉ gì nên chẳng ai thèm ngó ngàng tới, cuối cùng họ cần đến cu Còi cũng chỉ là cần đến cái vốn tự có, vốn trời cho của Còi mà thôi.
Thế là từ đó dù trời mưa hay trời nắng, như một cái đồng hồ chuẩn, đúng bảy giờ sáng là cu Còi có mặt trước cửa nhà ông giám đốc. Và cũng từ ngày có cu Còi đứng trước ngõ công việc làm ăn của ông giám đốc phất lên hẳn, ông có nhiều chuyến đi công tác hơn, sau mỗi chuyến đi công tác về mặt mày ông rạng rỡ hơn đồng nghĩa với việc cu Còi cũng được thưởng nhiều hơn. Sau hơn ba tháng làm việc, một ngày như thường lệ, khi xe của ông giám đốc đã đi khuất, cu Còi chuẩn bị về nhà trọ thì bà giám đốc cho người gọi Còi vào. Khi cửa đã đóng then đã cài, trong phòng chỉ còn Còi với bà giám đốc thì bầu tâm sự của người đàn bà đang độ mặn mòi được dịp xổ ra, và như thế, như thế, và còi biết mình phải như thế, như thế và như thế. Hóa ra cái gì cũng có hai mặt của nó, công ty làm ăn phát đạt đồng nghĩa với việc ông giám đốc phải thường xuyên đi sớm về muộn, thế là mảnh ruộng ba bờ nhà ông lâu quá chả được thăm viếng cày bừa tưới tắm gì. Nói vậy cũng hơi quá, thỉnh thoảng ông cũng có quấy quá ghé qua, ghé quá quấy để nhắc chính ông rằng ông đang còn một đám ruộng bỏ hoang cỏ đã mọc lút bờ. Nhưng trò đời thà rằng cứ để cho nó nắng hạn triền miên còn hơn là thỉnh thoảng lắc rắc vài hạt mưa rồi ngừng đất đai như thế sượng sùng cả lên. Chuyện là vậy, hôm nay bà cho gọi Còi lên cũng là vì việc ruộng đồng nhà bà. Bà muốn như thế, như thế và như thế để ông thường xuyên về thăm viếng ruộng nhà hơn. Và cu Còi ngày nay không còn là cậu bé tám tuổi để phải sợ mất vía khi o Hường nhờ lấy cái bàn chải trong quần ra. Vốn con nhà nông dân luôn yêu quý đất đai ruộng đồng, trong lúc làm việc bên tai cu Còi lại văng vẳng câu nhắc nhở của bà Hòe: “Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang…” Lần trước thì như bị điện giật, còn lần này như bị nam châm hút, cu Còi không thể rút tay ra được nữa. Đúng là nắng hạn mưa rào, đến gần trưa cu Còi mới được thả tã tượi đi về nhà trọ.

*
* *

Sáng hôm sau vẫn như thường lệ, đúng bảy giờ cu Còi đến và bảy giờ hơn thì chiếc xe bóng loáng của ông giám đốc trườn ra khỏi cổng. Không vội về ngay, ăn quen bén mùi, Còi chần chờ nấn ná thêm mấy phút trước cổng nhà ông giám đốc. Y như rằng, chỉ mấy phút sau, cu Còi lại được bà giám đốc mời vào. Nhưng hôm nay hơi khác với hôm qua, khi cu Còi đang thay ông giám đốc hì hục cày bừa cho kịp vụ cấy thì chuông điện thoại để đầu giường của bà giám đốc reo vang. Còi tạm được nghỉ giữa buổi cày để bà giám đốc nói chuyện.
Nhưng mới nói được có mấy câu thì chiếc điện thoại của bà đốc rơi đánh bốp xuống nền nhà, đồng thời cu Còi cũng bị đạp văng ra khỏi ruộng đồng nhà bà.
Ông giám đốc bị bắt vì một phi vụ làm ăn, công ty bị tịch biên, cu Còi cũng từ đó mất việc làm. Thôi thì quê hương chốn thanh bình mà thẳng tiến, nhưng khác với ngày xưa, giờ đây mỗi sáng ai lỡ gặp phải cu Còi thì hàng ế sưng ế sỉa không tài nào bán được, đốt vía cũng không xong, lấy nước giải bôi vào cũng chẳng được.
__________________________
(*) Thơ Nguyễn Bính

Thứ Hai, 18 tháng 4, 2011

Siêu sinh

Truyện ngắn của Phạm Thuận Thành


Kinh Bắc hai tướng đàn bà
Vợ ba Đề Thám, vợ ba Cai Vàng
(lời hát xẩm chợ Kinh Bắc)

(*) Không phải là lột xác mà là thay đổi hoàn toàn. Đúng, nàng thay đổi hoàn toàn, thay đổi từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong, từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên. Mái tóc dài như tiếng ngân Quan Họ bị cắt không thương tiếc, chỉ có mùi hương sả hương lá chanh hương bồ kết là không cắt được. Tóc cắt xong thì không còn là khuôn mặt tiểu thư quận chúa đẹp xinh nữa mà chỉ còn là cái sọ người. Y phục cũng thay đổi. Nhung lụa thay bằng giáp trụ rồi lại thay bằng nhung lụa để nàng ra dáng tiểu thư quận chúa đẹp xinh, và bây giờ là nâu sồng, chỉ nước da trắng hồng nõn nà mỡ màng là không lột thay được. Tiếng nói cũng thay đổi. Không còn là thủ thỉ tâm tình, không còn là quát thét ra lệnh, không còn là ru hỡi ru hời nữa, mà là một giọng nói đều đều vô cảm và những lời rất vô nghĩa với người bình thường mô Phật mô Phật mà chính người nói cũng chẳng hiểu ý nghĩa mô Phật là gì. Cứ nói. Người ta ở đây đều nói thế cả. Mô Phật. Chỉ có đóa hồng hàm tiếu phát ra giọng nói là không đổi. Quan trọng nhất là suy nghĩ cũng thay đổi. Không còn hào khí giành lại ngai vàng mấy đời nối nhau nổi dậy mà chưa giành lại được. Không còn sục sôi báo thù cha báo thù chồng báo thù nghĩa sĩ tử trận nữa. Mà là cam phận mô Phật. Suy nghĩ thay đổi nhưng bộ óc người thì không thay đổi được. Nàng chịu bỏ tất thảy để thay đổi bản thể mình. Chiến đấu không phải việc của đàn bà. Đàn bà là biểu tượng yên bình, là chỗ dựa của yên bình. Còn nàng là đàn bà, vậy nàng đi tìm yên bình cho mình ở chỗ mô Phật.

Ngày nào xã trưởng cũng đến xem nàng có thực mô Phật không vài lần. Xã trưởng đang lên. Dám sai trương tuần rào làng rấp cổng chống lại đoàn quân hùng hậu. Đáng biểu dương Mỹ tục khả phong và đã được đức vua ngự bút phong biển biểu dương. Đáng được hàm cửu phẩm văn giai và đã được ban cửu phẩm văn giai. Vinh thân vinh hương đáng lắm. Cái làng cô độc giữa biển lúa đã cầm chân đoàn quân để đại tướng Nguyễn Tri Phương điều binh tiêu diệt chỉ trong một trận huyết chiến không cân sức. Quân nghĩa chỉ có thể đánh lớn ở miền rừng căn cứ, thất thế thì rút vào rừng sâu núi đỏ, yên yên lại kéo nhau về hợp thành quân đội. Giữa đồng lúa mênh mông quân nghĩa chỉ còn nước chết. Chủ tướng Cai Vàng cũng chết trong đám loạn quân. Ngọc rắn ngọc trăn cũng chỉ hiệu nghiệm nơi rừng núi như con rắn con trăn có đất rừng dụng võ. Nàng dẫn quân cứu viện đến không kịp. Viên đại tướng đánh tốc chiến quá. Nàng ôm xác chồng đòi báo thù. Nhưng đánh ai, chẳng lẽ quân nghĩa lại chém giết dân lành. Mất chủ tướng nàng đành ra lệnh bãi binh, ôm con về chính cái làng làm tan rã cả một đoàn quân ấy xin mô Phật. Đại tướng Nguyễn Tri Phương bằng lòng, nhưng yêu cầu ngày nào xã trưởng cũng phải đến kiểm tra, mỗi tháng một lần nàng phải đến dinh tổng đốc trình diện. Con gái phải giao cho xã trưởng nuôi như con, nghĩa là nàng buộc phải gắn số phận mình với người anh hùng làng kia. Xã trưởng vừa sợ nàng nổi đóa báo thù, vừa thích ngắm nhìn khuôn mặt tiểu thư quận chúa đẹp xinh, dáng người thắt lưng ong đang chớm sang tuổi băm chín chắn, vừa phục người con gái đẹp xinh mà võ nghệ cao cường tài trí hơn người, vừa muốn thể hiện oai quyền trấn ngự viên nữ tướng hùm thiêng sa hố. Mặc xác xã trưởng nghiêng ngó nàng chỉ một mực mô Phật. Nàng mô Phật cho lòng mình yên bình và cho cả xã trưởng yên tâm vững dạ. Mô Phật đủ cứu vớt chúng sinh, đủ làm cho nước sôi nguội lại, đủ làm cho lửa cháy lụi tàn, đủ làm cho dục vọng không còn sức quẫy đạp.

(*) Tư tưởng nhất thống thiên hạ bị kìm nén quá lâu ngày quá lâu đời nên nó lặn vào trong từng đường gân thớ thịt thành truyền kiếp trong dòng giống nhà nàng. Vẫn ngồi trên ngôi cao nhất, chú ngoài chúa trong xưng phục nhưng từ khi chưa phục quốc đã chỉ là hư vị không quyết được điều gì. Đến quyết từ bỏ ngôi cao cũng không xong, chạy trốn thì bị bắt về cho chén rượu độc. Kẻ dưới sợ mưu phản, sợ kẻ khác lợi dụng cái danh hoàng triều chính thống đánh lại. Thế tử kém một bậc không được ngồi ngang mâm thì thế tử bẻ gãy đũa ra tay hạ sát thái tử. Cúc cung nghe lời thì phải lấy vợ lại cô quận chúa đã có bốn con hoặc giả ngây giả ngô có chúa lo hộ rồi ta chỉ biết gật theo ý chúa thôi. Rõ từ lâu chỉ là ông bụt cho chúa thờ để chúa được ăn oản. Ngồi trên thiên hạ chỉ để xem người ta chia nhau thiên hạ của mình. Ức không. Ức quá đi chứ. Đời nọ truyền đời kia tâm nguyện nhất thống thiên hạ. May quá có Bằng công đem loạn quân Tây Sơn ra giúp lật đổ ách chuyên chế độc tài gia đình trị của họ Trịnh đã án ngữ vững chắc mấy trăm năm. Nhưng khổ thay, cái ách quá nặng đã ngấm vào máu thịt mọi kẻ có quyền mất rồi, đuổi hổ cửa trước lại rước beo cửa sau mà thôi. Bằng công vào phủ ngồi lập tức ti toe làm chúa, đến nỗi dân Tây Sơn cũng không chịu nổi. Tây Sơn đem quân ra thì nhớ câu ta trăm trận trên lưng ngựa mới đoạt được thiên hạ sao có kẻ cứ ngồi không mà ở trên cao là thế nào. Câu nói của Thái tổ nhà nàng sau hội thề Đông Quan đấy. Câu nói ấy bây giờ là chúa Tây Sơn nói cũng chẳng có gì đáng phàn nàn nổi. Hoàng đế Chiêu Thống tuổi trẻ tài cao chí lớn đã làm cuộc nhất thống thiên hạ dù phải bôn ba hiểm nguy năm tháng nơi rừng hoang đồng nội ngoài cung cấm. Chết mục xác nơi đất khách quê người mà trái tim đầy uất hận truyền kiếp mấy trăm năm không thể tan rữa được. Đúng là vị hoàng đế chí lớn.
Đến khi cha nàng lớn lên chẳng còn vương vị, chẳng còn bổng lộc, chẳng còn văn thần võ tướng, chỉ còn thanh gươm và cái ấn ngọc truyền quốc với ý chí nhất thống thiên hạ ngấm vào đường gân thớ thịt không thể gột ra. Vẫn quy tập móc nối. Thần tử người quá già, người ra làm cho triều mới, quanh vị thân vương chẳng thấy có nhân tài hào kiệt. Mấy tay ngổ ngáo đã là tráng sĩ. Đến khi có thầy đồ hay chữ thất sủng ở kinh thành về dạy học ở Quốc Oai chịu ra làm quân sư thân vương liền phất cờ trung hưng phục quốc. Lê triều Mỹ Lương chẳng được mấy ngáp. Nàng đang tuổi bẻ gãy sừng trâu cũng được cử làm tướng đánh thắng liền mấy trận. Triều đình cử danh tướng Nguyễn Tri Phương đến. Tướng như nàng cũng nghênh địch như thường. Tướng địch đến chẳng lẽ tướng ta không nghênh chiến. Đường gươm của nàng biến hóa là thế nhưng không địch nổi một đao của tướng địch, cả người lẫn ngựa ngã quay lơ trước trận. Danh tướng túm tóc tướng giặc thấy chỉ là con bé mặt non choẹt thì tha cho về bảo chủ tướng cử đại tướng ra đánh một trận cho hả kẻo mang tiếng danh tướng Nguyễn Tri Phương vào nam ra bắc trăm trận trăm thắng. Nàng thu quân về trận nói lại lời tướng địch. Thân vương chủ tướng gầm lên xách đại đao lên ngựa, phía sau là quân sư thất sủng. Trước trận quân sư giảng đạo lý thuyết phục tướng địch quay giáo về với Lê triều làm khai quốc công thần dại gì đi giúp tôi thần của Lê triều thoán vị chủ cũ. Tướng địch là người có học, hiểu đạo lý đáp rằng thái tổ triều ta trăm trận trên lưng ngựa mới được nước từ tay giặc Tây Sơn, còn nước của nhà Lê đã mất từ lâu sao bây giờ còn đòi. Triều ta luôn tôn trọng triều cũ có bắt bớ trả thù người nào đâu, trừ những kẻ đã cúi lạy giặc Tây Sơn. Thôi thầy biết điều thì về mà bái hoa mai, chủ tướng biết điều thì về cày cuốc ta tha cho, coi như các ngươi thao luyện dân quân xin giúp triều đình lên ải bắc tiễu phỉ cờ đen cờ vàng phương bắc thất trận tràn sang. Quân sư chủ tướng không biết nói sao. Chủ tướng xông ra múa đao coi như thao luyện cùng đại tướng triều đình. Đại tướng tưởng chủ tướng giặc ngoan cố cho một đường đao đầu bay lông lốc dưới chân đồi Mỹ Lương. Quân sư thầy đồ kêu thét lên đừng đánh, chủ tướng xin hòa rồi, ngài nghe ra rồi, ngài chỉ muốn thao luyện quân mã thôi. Đại tướng Nguyễn Tri Phương đành bắt một tên lính cho mặc quần áo quân sư đem chém, còn tha hết mọi người về quê làm ăn. Quân sư thầy đồ thì xuống tóc mô Phật, vĩnh viễn mai danh ẩn tích, vĩnh viễn sám hối trong giáo lý Như Lai.


Nàng mang gươm báu cùng ấn truyền quốc lên ải bắc tiễu phỉ. Gặp ông chánh Thịnh cũng mộ dân quân đi đánh phỉ ở vùng Phượng Nhãn. Họ sáp nhập làm một đạo quân, đánh đâu được đấy, làm chủ vùng Bắc Giang - Lạng Sơn - An Quảng. Có đất có quân nàng lại nổi máu nhất thống thiên hạ cha ông làm dang dở. Nàng chịu làm vợ ba ông chánh Thịnh để xúi ông nổi máu anh hùng giúp mỹ nhân đoạt quốc. Có lễ tế cờ hẳn hoi. Chọn đúng ngày hè đầu mồng bốn tháng tư. Đánh mấy trận nhỏ trong vùng lấy nhuệ khí bách chiến bách thắng. Đây chính là vùng đất hoàng tổ Chiêu Thống bôn tẩu làm cuộc nhất thống khi xưa, nay thấy có cháu hoàng đế tế cờ phục quốc. những anh hùng ẩn thân kéo ra như nước về chỗ trũng. Mọi người mặt tươi như hoa mừng ngày Lê triều phục hưng tới vận. Nuôi quân đãi tướng một thời gian. Hẹn ai có quân công sẽ được làm quận công hầu tướng nắm chính phủ sau này. Rồi chia hai đạo quân thẳng tiến lấy lại kinh thành Thăng Long. Chủ tướng chồng đánh phía Siêu Loại, Tiên Du. Chủ tướng vợ tức là nàng đánh phía Kim Anh, Phủ Lỗ vòng sang đất bản bộ Sơn Tây lấy thêm quân cũ. Hai đạo quân như hai gọng kìm lấy kinh thành như lấy vật dùng trong túi. Nàng tin quân thần Lê triều sẽ ra giúp như ở đất Kinh Bắc vừa rồi. Vậy mà có một ngôi làng chơ vơ giữa đồng không mông quạnh dám rào giậu ngăn bước tiến của chủ tướng. Lại gặp sát tinh Nguyễn Tri Phương. Gặp lại người quen cũ, danh tướng đương triều ôn tồn bảo: ta đã tha cho cháu một lần, nay ta lại tha cho cháu lần nữa. Nếu cháu vẫn cố đánh ta học theo Gia Cát bảy lần tha Mạnh Hoạch, bao giờ cháu hiểu được đạo lý thì thôi. Triều đại đổi thay là ý trời, cháu cố chống trời thì chống sao nổi. Thuận thiên thì sống chống thiên thì chết. Cháu đã làm cho bao nhiêu người mê muội chết rồi, sao cháu không có một chút đức hiếu sinh ư? Cháu là đàn bà phụ nữ, là mẹ trẻ con cháu không đau lòng khi thấy con mình chết một cách vô nghĩa ư? Dân đang yên đang lành làm ăn chỉ vì nghe cháu mà bây giờ thây chết đầy đồng đây. Cháu thử nghĩ xem họ chết có phải do ở cháu hay do ở quân triều đình đây?
Lần thứ hai được tha, nàng dẫn quân rút về căn cứ. Nàng biết thân gái dù anh hùng đến đâu cũng không thể đoạt nước được. Nếu gá thân với người khác mưu nghiệp lớn thì đâu còn danh tiết nữa. Không phải ngôi thái hậu như Dương Vân Nga. Không có đường tiến thì còn đường lùi. Hoàng tổ khi xưa có đủ văn thần võ tướng vẫn không làm nên cuộc nhất thống, cùng đường cầu viện quân Thanh cũng không ở kinh thành quá hai tháng. Một viên đại tướng Nguyễn Tri Phương mình đã không địch nổi thì địch làm sao nổi cả nước của người ta được. Cố vùng vẫy chỉ làm hại thêm sinh linh mà thôi. Mấy phen vùng vẫy vừa qua làm chết không ít người rồi. Đại tướng nói có phần đúng. Quân hai bên chết quả là vô ích, chẳng lẽ họ chết chỉ để mình nhận ra một điều là ánh tà dương của triều cũ không thể trung hưng như thời Hưng quốc công Nguyễn Kim được nữa. Ý chí nhất thống thiên hạ ở trong người thì chưa hại người, một khi ý chí ấy thò ra ngoài thì người chết như rạ. Ý chí kia khác nào ma quỷ. Mà ma quỷ thì chỉ có Phật tổ mới khống chế được. Nàng đến quân doanh đại tướng thỏa thuận việc bãi binh. Quân của nàng vẫn chỉ là dân quân tiễu phỉ. Cuộc tiến quân về kinh thành chỉ là truy kích tàn quân phỉ. Hết phỉ thì họ lại về làm dân, được triều đình chu cấp lương bổng hẳn hoi. Người nào đã chết thì được tiền tuất. Riêng nàng xin được về chính cái làng làm nàng ngộ đạo lý kia để mô Phật.
(*) Vậy là nàng xuống tóc. Mỗi nhát kéo tóc nàng cụt đi một ít, ý chí nhất thống thiên hạ trong nàng cũng cụt đi một ít. Khi tóc hết thì ý chí nhất thống trong nàng cũng hết. Bây giờ nàng đêm ngày chỉ kinh kệ để siêu sinh cho những người đã chết vì sự ngộ đạo của nàng. Một lần đi trình diện, đại tướng đương triều chợt hỏi: số người đã chết là bao nhiêu? Bao nhiêu người có gia đình thờ cúng? Bao nhiêu người còn bị coi chết như giặc vô thừa nhận? Sao sư cô không lập một ngôi miếu âm Hồn gần chùa để hương khói cho họ nhỉ? Đại tướng nói đúng những điều bấy lâu nàng còn áy náy về những sinh linh làm nhiệm vụ lát đường cho nàng đạt đến giác ngộ niết bàn. Đúng vậy, nàng cần phải hương khói cho họ trả ơn họ.
Từ bấy người ta luôn thấy một sư cô lầm lũi đi các làng quê nơi quân Cai Vàng đi qua dò hỏi và cải táng những mộ giặc vô thừa nhận. Có lần sư cô bị mấy kẻ phàm phu tục tử giở trò cưỡng đoạt nơi đồng không mông quạnh. Sư cô chỉ mô Phật mong họ tránh được lầm lỗi. Nhưng những kẻ bị quỷ ám thì lời Phật suông không giác ngộ được. Sự giác ngộ cũng đau đớn lắm chứ đâu đơn giản chỉ là mô Phật. Cũng như đổi một sự giác ngộ cho nàng phải bằng mấy cuộc binh đao đó. Kẻ mạnh nơi đồng vắng trước một tiểu thư quận chúa thì mô Phật sao đủ xua ý nghĩ ma ám trong họ đi được. Hai kẻ sấn sổ luồn tay vào ngực nắn nắn đào tiên đang độ. Nàng đành phải giở công phu đánh ngã hai kẻ sấn sổ nhất rồi phi thân vọt qua con suối rộng cả chục thước thì bọn họ mới vội quỳ sụp khấu lạy tha mạng. Bọn họ vẫn biết có một nữ tướng tài giỏi cải trang hoạt động tiễu phỉ trong vùng. Phải là người võ nghệ cao cường lắm lại có lòng vì dân vì nước lắm thì mới một thân hoạt động tiễu phỉ nguy hiểm như vậy. Mấy kẻ phàm phu tục tử quỳ xin tha mạng rồi lại xin được đi hộ giá giúp nàng. Họ cũng chỉ là những kẻ vô công rồi nghề làm việc bất thiện, nay hối cải đi làm việc thiện. Như nàng. Giúp nàng. Công việc quy tập thi hài nghĩa sĩ tiến triển nhanh hơn.
Ngày khánh thành ngôi miếu âm Hồn xã trưởng Đại Trạch rất ngạc nhiên khi thấy có quan phụ tá tổng đốc mang đến tặng sư cô một đôi liễn sơn son thếp vàng lộng lẫy treo ở trước ban thờ chính điện. Dòng lạc khoản ghi rõ: Nguyễn Tri Phương tổng đốc đề. Đọc xong nội dung đôi liễn xã trưởng vã mồ hôi hột, bao ý nghĩ sàm sỡ bay biến lúc nào không biết. Nội dung đôi liễn thế này:
Tiểu cát phục nhung y kị mã huy kỳ danh trấn anh hùng nhân Kinh Bắc
Xuất gia quy thiền phái chiêu kinh tịch kệ giác chân đức độ Phật Như Lai.
(Nghĩa là: Thân gái yếu đuối mà làm tướng giỏi, nổi tiếng là anh hùng của đất Kinh Bắc/ Khi tu hành theo đạo Phật chăm đọc kinh kệ thông hiểu hết đức độ của Phật tổ Như Lai).
Nàng hiểu ý đại tướng tổng đốc. Có câu đối mà không có hoành phi thì thiếu, khập khiễng quá. Đại tướng tổng đốc muốn dành cho nàng phần việc này để tỏ chí mình. Những người chết thờ ở miếu âm Hồn này không chết vô ích. Cái chết của họ làm thức tỉnh lòng thiện của người còn sống. Nàng chính là người phải làm nốt những phần việc thiện mà những người đã chết ở đây chưa thể làm vì họ mới làm được việc thức tỉnh cho nàng.
Nàng cho làm bức hoành phi treo trước chính điện miếu âm Hồn có viết bốn chữ: Xả thân cứu thế.
Từ ngày có miếu âm Hồn, xã trưởng Đại Trạch thấy một điều kỳ lạ xảy ra ở đó. Ban ngày thì đôi câu đối phát ánh hào quang rực rỡ, còn ban đêm thì bức hoành phi lại phát ra ánh hào quang chói lọi. Không đèn nến mà phát sáng mới lạ.

(*) Cho đến tận bây giờ người già ở Đại Trạch vẫn khẳng định hiện tượng phát sáng đó là có thật. Lạ một điều là ngôi miếu không còn nhưng hiện tượng phát sáng ở đó vẫn chưa hết. Có người bảo đó là do thanh gươm báu chôn ở mộ chủ tướng Cai Vàng phát sáng chiếu vào hoành phi câu đối. Có người bảo ánh sáng phát ra từ ở lòng người, nên dù miếu không còn thì ánh sáng vẫn không hết được.

___________________________________________________________