Nguyễn Ngọc Tư
Sanh cùng tuổi Nhêm, xuống tóc thọ giới cùng một ngày, lúc loay hoay vận y cà sa, Sanh bất ngờ thò tay vào sờ soạng giữa hai đùi Nhêm rồi cười tí tởn, “Nhỏ xíu. Vậy tui làm anh nghen”.
Nhêm đỏ mặt, gật đầu, vì Sanh khôn ngoan, dữ dằn và già dặn hơn. Những đứa trẻ như Sanh luôn già trước tuổi. Cha hứng nước thốt nốt rơi từ ngọn cây xuống đất gãy cổ, mẹ nó đi cõng hàng lậu thuê qua biên giới, chết đuối giữa dòng nước lũ, chỉ một năm sau. Sanh tựa cửa nhìn những người thân mình bước đi vào sớm mai và cũng trong những buổi sớm mai ứa nắng trên đồng, họ về bằng chiếc cáng với hơi thở đã tắt. Sanh sống với chú. Nhà chú cũng nghèo, thím chia thức ăn cho con mình trước, tới Sanh chỉ còn miếng cơm cháy với chút nước cá kho. Sanh vào chùa để “kiếm ăn”, như lời nó nói, là chọn lựa giữa đói triền miên và đói nửa buổi.
Tui còn cha mẹ đâu mà tu báo hiếu, Sanh nói thẳng. Vào những buổi chiều đói rã rời, long đầu óc, đã có lúc Nhêm rủ Sanh lén lút ăn cái gì đó, Sanh lắc đầu, tui phải giữ giới để trả ơn buổi sáng và trưa Phật cho tui ăn no. Và Sanh để mặc Nhêm lăn lộn với cái bụng trống rỗng cồn cào, nó ngáy pho pho. Đói cũng là một thói quen của Sanh, từ tuổi lên mười.
Nhêm thì nghĩ mình không bao giờ có thể quen được những cơn đói buổi chiều tà. Khi nhà hàng bên kia đường bắt đầu có khách. Gió từ mé biển cứ đòng đưa mùi thức ăn trên đầu, làm nó nghẹt thở như thể đó là dây thòng lọng. Cái vòng rào loang lổ nước sơn và cánh cổng rơi vài mảng gạch không thể chặn lại mùi dầu cháy tỏi trong chảo. Sanh nhìn Nhêm suốt buổi tối cứ thều thào nhỏ dãi, nó giễu cợt, “Nhắm có ở chùa được tới năm sau không, ê ?”.
Nhưng Nhêm đã ở chùa ba năm. Thời gian đủ để nó bình tâm, thôi quay quắt trước những ngọn gió trần tục ban chiều. Ba năm cũng đủ cho những nhà hàng, quán ăn phục vụ khách du lịch kịp quây kín, như bóp nghẹt ngôi chùa. Hành trình khất thực có chút thay đổi, Sanh và Nhêm không còn đi trên lộ nhựa, dọc bờ cát ven biển, dưới những hàng cây thốt nốt im lìm. Phum sóc đã dạt xa lên đồng, co cụm gần chân núi Cóc. Và những thức ăn mà bà con dâng thường không có những mùi thơm của những quán xá bên đường.
Nên thỉnh thoảng, khất thực xong, bọn Sanh vòng về con đường bắt đầu ướp nắng để thưởng thức sự vương vất của những món ăn xa lạ. Các cô gái với những bộ trang phục buông tuồng trễ nải tụm lại ngó hai nhà sư trẻ cười cợt, “Lục ơi, tu chi cho khổ vậy, về nhà ôm em sướng hơn nhiều…”. Nhêm cúi đầu bước đi, chân líu ríu. Sanh ung dung đằng sau, mắt lại đầy giễu cợt, “Thấy chịu không nổi thì về nhà đi, Nhêm”.
Lần về thăm nhà gần nhất, mẹ Nhêm cũng nói vậy, sau khi chắp tay vái nó ngoài sân, “sư về nhà luôn đi, ba năm rồi còn gì…”. Giọng bà mỏng, ríu dần lại khi cha nó bước ra, cha muốn nó tu đạt tới tỳ kheo, muốn nó được cả sóc kính nể và trọng vọng, điều mà cho dù có nhiều đất ruộng và trâu, cha Nhêm cũng không có được. Ông đành đặt hy vọng vào Nhêm.
- Na Thi vẫn chưa về đâu - Cha nói.
Cha biết cách để Nhêm tự nguyện ở lại chùa, học kinh kệ. Na Thi chưa về. Cô nhận lời phụ bán quần áo cho thím A Phò khi Nhêm vào chùa được hơn năm. Trưa cuối gặp nhau bên hè, đá chân vào đám cỏ mần trầu, cô bần thần vuốt mãi mớ tóc xoăn tít, Nhêm đi rồi em ở lại đây buồn lắm, ngang qua nhà Nhêm em nhớ quá. Em đi vài năm em về, lúc đó Nhêm cũng hoàn tục rồi. Ngoéo tay, ngón tay cũng run, nóng bỏng. Rồi Nhêm lại khăn gói tới chùa xa, không gặp Na Thi lần nào, về nhà thấy mẹ Na Thi buông nón chắp tay lạy đằng xa, bà nói ngay, Na Thi có về, nó hỏi thăm sư có khỏe.
Trong lúc Nhêm trông Na Thi về thì biết đâu Na Thi cũng chờ đợi nó, ý nghĩ đó làm những câu kinh Phạn cứ vuột khỏi môi, trôi tuột. Lục Cả hơi buồn. Vài đệ tử nhập thế, chùa chỉ còn Lục Cả, Nhêm và Sanh. Hai sa di cứ loay hoay với những bài tụng sơ đẳng nhất, nên Lục Cả cô đơn với những kiến thức Phật pháp sâu sắc, bao la, cô đơn với những pho kinh thư đồ sộ. Ông hầu như không kỳ vọng vào đám trẻ, một vô thần, níu Phật để trốn chạy cái đói, cái ghẻ lạnh, một ngóng mãi phía cổng chùa.
Khuôn viên chùa rộng mênh mông, người ít, mà lá cây rụng vô kể, cỏ cũng nhiều. Suốt ba tháng nhập hạ, sư trẻ dường như chỉ tụng niệm và làm cỏ. Cỏ lớn nhanh, mãnh liệt đến nỗi họ phạt cỏ đằng trước thì sau lưng đã lún phún mầm xanh. Tưởng tượng, chỉ một tháng họ không cầm dao làm lụng, cỏ sẽ vươn tận thềm chính điện, lút đầu người. Vậy nên lúc cắm đầu thổi lửa vào đống cỏ khô, Sanh nhằn, sao mà tui ghét trời mưa quá.
Nhêm cũng ghét. Giữa lễ nhập hạ cho tới xuất hạ, chỉ là những cơn mưa dài, lướt thướt. Hai đứa quẩn quanh trong chùa, cắm mặt vô những trang kinh, mắc chán. Sanh học lóm được nghề làm tranh kiếng, nên xin Lục Cả ít tiền mua vật liệu, mày mò làm. Những lúc ấy Nhêm thật sự cô đơn, Sanh bỏ quên Nhêm để cắm mặt vẽ bức chân dung cha mẹ nó. Vài lần Sanh đã ném cọ đi khi phác thảo hình ảnh cha mẹ mình ngồi thảnh thơi, an nhàn trong căn nhà gạch khang trang. Nó dằn vặt vì đấy không phải là chân dung của những người thân, không giống họ chút nào, cả căn nhà, cả nếp áo phẳng phiu, tươi rói. Rốt cuộc bức tranh thờ dang dở, vì trong ký ức Sanh đã không còn lưu giữ những khuôn mặt cũ. Điều đó làm nó tuyệt vọng. Sanh hay rủ Nhêm xách cuốc chim đi làm cỏ ở gần rào sau, từ đó nhìn lên cánh đồng dưới chân núi là những phum nhỏ nằm quẩn dưới chòm cây xanh rì, khói bếp len qua những tầng lá thành những sợi lam mỏng vờn, phai mãi vào nền trời. Thốt nốt dọc theo các con đường nhỏ ngoằn ngoèo vẽ vào cánh đồng những nét cô đơn, vết mực đậm và đầy đặn ở phía này và bắt đầu mỏng vút cuối tầm nhìn. Dưới trăng chiều, vài con trâu quay tít cái đuôi xua những con ruồi xanh lè, to bằng đầu ngón tay cứ chực xông vào. Thấy Sanh níu vào rào, Nhêm hỏi, “Nhớ nhà hả ?”. Dứt mắt khỏi sóc Tà Cóc đang im lìm dưới làn mưa mỏng, quay vào sala, giọng Sanh quạu quọ, “Có nhà đâu mà nhớ”.
Nhêm sợ Sanh, nó có thể rất hiền lành, tử tế, nhưng Nhêm nói điều gì đó nhắc nhớ tuổi thơ buồn bã, và Sanh nổi khùng lên. Nhưng làm sao Nhêm biết chuyện nào buồn, chuyện nào không ? Bởi vậy, hai đứa hay hục hặc nhau vì những chuyện không đâu, thí dụ Nhêm buồn tình lấy hơpâm gõ bài “chim sáo”, hai gáo dừa mới lộp cộp đã bị Sanh đá văng lông lốc, ai mà biết lúc người ta khiêng cha Sanh từ ngoài đồng về, ông chủ lò nấu đường vẫn dửng dưng ngồi gõ hơpâm cho hết bài, rồi mới thủng thẳng phủi đít đứng lên, “Chết rồi hả? Thôi, tiền còn nợ tao coi như xóa bỏ”. Những chiều Sanh ngồi trước sala, lặng lẽ nhìn bồ đề rụng lá, Lục Cả thở dài, có lẽ ông thất vọng vì nhà chùa không làm lành được những khối tổn thương trong lòng Sanh, cũng như bất lực trước một xã hội tổn thương, những giá trị luân lý đục ngầu bên ngoài cánh cổng.
Ở đó cũng có đám người đang ghét cay ghét đắng mưa rơi. Khách du lịch thưa thớt. Gió biển ướt rượt thổi qua dãy nhà hàng, khách sạn vắng người, những cô gái không lượn lờ ngoài sân nữa mà co cụm trong nhà, hết giũa móng tay tới sơn móng chân, hết tỉa chân mày đến se lông mặt. Rồi sự lười nhác trễ nãi biến mất, họ tản đi khi người đàn bà cho vay tiền góp, lăn cái thân nặng chịch vì mang cả ký lô son phấn trên mặt đứng trước nhà hàng tru tréo gọi Lan Huệ, Sầu, Ai ơi. Mấy chục chiếc vòng chất gần đến cổ tay kêu leng keng mỗi khi bà chuyển động.
Nhờ âm thanh đó, cùng với dáng người thấp lé đé các con nợ luôn phát hiện bà từ xa, và họ biến mất. Cô cũng tạt vào chùa vào một bữa âm thanh những chiếc vòng xủng xẻng đã quá gần. Te tái vào ngồi ở thềm sala, cô dáo dác nói, cho ngồi chút chơi nghen. Nhưng mặt cô không có vẻ là chơi, căng ra khi bóng người qua cổng. Sanh mỉa mai, có trốn nợ thì trốn chỗ khác, ở đây là chỗ tu hành. Cô độp ngay, giọng cố kìm lại nên nhỏ mà rắn đanh.
- Ủa, đây là chỗ từ bi mà, mắc gì tôi không được vô. Ừ, trốn nợ đó. Hay là Lục… cho tiền đi, trả nợ xong tôi không ghé đây nữa.
Nói rồi cô phủi đít dợm đứng lên, nhưng mớ âm thanh leng keng vẫn còn quanh quẩn ngoài kia. Cô trùng trình ngó Sanh, “chùa này đâu phải của Lục, mắc gì tôi sợ”. Cô ngồi lại, điệu bộ lỳ ra, vẻ thách thức.
Những ngày sau, cô lại tới. Cô nhận ra một chỗ nương náu an toàn, nơi mà mọi lời mắng chửi rủa sả không vọng đến, hoặc hoặc vói theo một cách yếu ớt. Chùa không hẳn là thiêng liêng với họ nhưng là sức mạnh tinh thần của tộc người. Ai cũng biết điều đó. Họ đã chứng kiến những cái sroc nghèo xơ xác, những ngôi nhà cột cặm trống trước trống sau nhưng ngôi chùa thì luôn luôn rực rỡ. Đó là lý do Nhêm ở đây, cha muốn nó là một con người rực rỡ. Đó là lý do Sanh ở đây, nó không bao giờ đói dưới sự rực rỡ này. Đó là lý do cô ở đây, cộng đồng người trong sroc kia sẵn sàng thấm máu vào áo mình để giữ cái rực rỡ tồn tại trong thế giới đức tin của họ.
Cũng không tìm được lý do khác cho việc cô gái lui tới chùa. Cô chẳng hề yêu thích ai ở đây, cái cách nói chuyện khinh khỉnh, sấn sổ, ngạo ngược của cô nói lên điều đó. Nhưng Lục Cả luôn bất an, ông luôn sai sư trẻ làm lụng mỗi khi cô nhẩn nha lại. Và ba tháng hạ của năm mười bảy tuổi, họ đã làm rất nhiều việc, lợp lại mái sala, sơn một số chi tiết trong chính điện, cuốc đất mảnh vườn sau để gieo cải, quét lá khuôn viên chùa. Cô luôn lẽo đẽo đi theo, hỏi những câu ngớ ngẩn, thí dụ, sao không đốn bỏ cây bồ đề luôn để khỏi quét lá cho mắc công? Sao bức tranh này không sơn màu xanh mà là màu vàng? Sao nền chính điện cao dữ vậy? Lục Cả nhiều lúc cũng buồn cười, ông nói, tụi tôi làm không mệt bằng nghe cô hỏi. Cô rụt cổ cười. Nhêm cảm giác, nếu bóc mảng son phấn ra, mặt cô sẽ lành và trong như em gái nó.
Chắc cô cũng bằng tuổi ấy, mười sáu, hoặc nhỏ hơn. Sanh hỏi tuổi, cô vặt vẹo, “Lục rảnh quá thì đi tụng kinh, xoi mói chuyện của tôi làm gì?”. Sanh xúi Nhêm hỏi thăm tên, quê quán cô gái này, Sanh nói “con nhỏ đó ghét sư, tại hôm trước sư đuổi…”.
Nhưng Nhêm cũng không khá hơn, hỏi, cô chỉ vào khoảng sân, châm chọc:
- Cỏ.
Người nhà chùa xem đó là tên của cô. Cỏ bằng tuổi Na Thi, mười bảy. Đương nhiên là từ nơi khác đến. Lục Cả nói, những đứa con gái làm nghề này chỉ đổi chỗ cho nhau. Con gái ở đây thì bôn ba xứ người mua vui cho thiên hạ bằng đuôi mắt cuối mày, và ngược lại. Chúng làm nên một cuộc nổi trôi buồn bã. Nhêm bỗng liên tưởng tới Na Thi mỗi khi nhìn Cỏ cố che mảng da thịt bằng cách kéo cái áo ngắn ngủn nằm vắt vẻo nửa lưng trên.
Nỗi nhớ Na Thi đã lạt đi rất nhiều, Nhêm áy náy lắm. Sau lễ xuất hạ, trời vẫn còn nhập nhòa mưa. Nhưng bọn Nhêm không bỏ bất cứ buổi khất thực nào, dù là đi dưới mưa. Không hẳn vì những thức ăn cúng dường hai sư có được sau một buổi vòng tay ôm bát, mà vì nỗi nhớ những nẻo đường, hàng cây, bờ đá… Ba tháng quẩn chân vườn chùa, bỗng dưng thấy mọi thứ đều thay đổi, lạ lẫm, và trò đùa của các cô tiếp viên rảnh rỗi ngày càng tai quái hơn, có lần qua quán “Duyên Quê”, một cô môi đỏ trút vào bát họ ít thức ăn. Quay lưng đi một quãng, Cỏ lao theo giằng lấy bát, hắt xuống đất. Mớ thịt đã bị băm nát nằm vãi trên sân. Cỏ hằn học hỏi :
- Thịt rắn đó. Muốn phá giới sao?
Các cô khác đấm vào lưng nhau cười ngặt nghẽo. Sanh ngó sững cô, cái nhìn ánh lên chút dịu dàng, hàm ơn. Về tới cổng chùa rồi Nhêm vẫn còn ngơ ngác. Nó sợ. Những người không có đức tin sẵn sàng báng bổ đức tin. Nhưng Sanh vẫn thích đi trên con đường đang còng lưng gánh những quán bia, nhà hàng, nên ngày nào nó cũng kéo Nhêm vòng lại. Ngày nào cũng thấy Cỏ ngồi chán chường ở quầy bar trong quán, nét mặt, khóe môi, bàn tay… tất cả chi tiết trên người cô buông lơi, trễ nãi, cảm giác mọi thứ đang rời nhau và trôi đi. Cả nụ cười mỉm khi nhìn thấy người nhà chùa cũng là nụ cười đang trôi vô định. Nhưng hành trình đột ngột thay đổi, Sanh không đi qua đó thêm một lần nào, vì một buổi trưa ngang qua cuộc tiễn đưa, thấy Cỏ đang chèo kéo quấn vào đám đàn ông sắp lên xe, trong cái khói nắng mùa hạ. Mắt còn đậu lại trong khi chân vẫn liên tục bước, sư trẻ thấy Cỏ ngó theo, thoáng chênh chao.
Cô không ghé chùa nữa, vì mùa khô bắt đầu quay lại, khách lác đác đến tắm biển, uống bia. Buổi chiều, sư trẻ đi nhổ những dây mướp đã chết khô trên bờ rào, dáo dác ngó về phía cổng, ai bước vào hai đứa cũng thất vọng thở hắt ra.
Ngày cuối cùng của mùa hạ, người trong sroc mượn sân chùa làm lễ cúng trăng. Cỏ ghé chơi lúc sắp khuya rồi. Khỏi nói Nhêm mừng như thế nào, đến nỗi, nó tự hỏi, gặp Na Thi, nó có mừng được bằng cỡ đó không. Sanh không tỏ thái độ gì, dửng dưng ngậm ngọn cỏ vung vinh trên môi, “ủa, tối nay không ở nhà chơi với tụi nhà giàu?”, Cỏ cười, “mắc mớ gì tới Lục?” rồi lảng đi, lại gần Nhêm, coi người ta bắt mấy đứa nhỏ ăn cốm dẹp, theo thông tục. Hồi nhỏ, Nhêm cũng được đút cốm dẹp, khi người ta vuốt lưng, hỏi, năm nay muốn gì, nó gần như òa khóc, “mắc tiểu quá, con muốn đi tiểu”. Năm đó nắng dai, lúa bị khô háp trên đồng, hành không đặng củ, cả sroc cứ đổ thừa tại Nhêm.
Giờ thì mấy đứa nhỏ cũng trợn trạo ngốn cốm dẹp và nói thích lúa, thích gạo. Điều đó làm Nhêm buồn cười, trẻ con không thích đồ chơi đẹp, quần áo đẹp thì thôi, lúa gạo mà làm gì. Chắc là cha mẹ chúng đã dạy trước, Nhêm cũng từng buộc phải học thuộc lòng. Chỉ là tụi nó bây giờ khôn ngoan hơn, và không bị mắc tiểu giữa chừng, như Nhêm. Đang kể chuyện vẩn vơ thì sương trên đuôi lá bồ đề rụng xuống trán, Nhêm giật mình.
Không thấy Cỏ ngồi bên cạnh nữa. Sanh đã kín đáo lôi xểnh cô ra phía sau sala, chỗ những dây bìm bìm leo xum xuê trên mái chuồng gà bỏ hoang. Nỗi nhớ, sự ghen hờn, xót xa, niềm kiêu hãnh giày bừa trong lòng Sanh làm nó như mê đi. Cỏ chỉ cười nhẹ, xấp xãi bước theo, vẻ mặt không ngạc nhiên chút nào. Hoặc cô đã chờ đợi điều này lâu, nên chỉ thở cồn cào như một con sóng nhỏ khi tay và môi Sanh bắt đầu uống ngấu lấy cô. Thằng con trai đó đi qua những cơn đói nhưng chưa bao giờ ngưng sống, như cỏ của những mùa trăng ướt.
Nhêm tìm thấy Sanh đang đứng đối mặt với khoảng tường, y cà sa căng tròn, bọc lấy thân thể Cỏ. Cô chỉ còn đôi chân, và khuôn mặt, phần còn lại của cơ thể đã tan biến. Bóng trăng lấp ló chồm vào đôi người lấp ló. Nhêm chết sững và nỗi tức giận nào đó ứa ra bưng mắt, buốt những đầu ngón tay, nó hồng hộc chạy về phía chánh điện, chỗ Lục Cả đang tụng khúc cầu an.
Sanh rời khỏi chùa vào chiều hôm sau, hoàn toàn không có một nghi lễ hoàn tục nào đưa tiễn. Ngang qua quán rượu, Sanh dừng lại chờ rất lâu mới thấy Cỏ ơ hờ bước ra, Sanh chụp níu lấy tay :
- …Đi với tôi nghen ?!
- Đi với Lục thì lấy gì ăn? - Cỏ hắt tay Sanh, lạnh lùng hỏi lại.
Không biết, ngay việc bây giờ đi về đâu Sanh còn không biết. Có thể đi làm thuê, làm mướn ở một nơi xa xôi nào đó, đào đất, trèo thốt nốt lấy nước, làm cửu vạn hay vác những bộ tranh kiếng bán dạo khắp nẻo đường. Sanh nuốt thất vọng quay đi. Đám con gái trong quán thò đầu ra cửa sổ, nhìn theo cái lưng gù gù như cõng đá, tru lên thảm thiết, trời ơi, Lục đừng đi, Lục mà đi thì tụi tui phải chung tiền cho con quỷ sứ này, phải biết Lục dễ dụ dỗ vậy, tụi này không đánh cuộc… Sanh khựng lại một vài giây, rồi nó gần như bỏ chạy, nó cảm thấy mình tắt thở rồi. Chết trước khi những cơn đói ập đến trừng phạt nó, vì sự bội tín, vô ơn với Đức Thích Ca.
Những ngọn gió cuối mùa Nam còn sót lại đưa tin thắng cuộc của cô tiếp viên đi nhanh. Người đàn bà cho bạc góp hể hả đòi được món nợ cũ, ghé chùa nói với Lục Cả, “Riết rồi không thấy người nữa, chỉ thấy mấy thứ giống người...”, rồi day mắt về phía sư trẻ đang quét lá giữa sân chùa vắng, “may nhờ lục Nhêm tu tập tử tế…”.
Nhêm nghe được, cười khan, nỗi buồn cào cấu rát lòng, sao người ra đi lại là Sanh mà không phải nó, sao cô gái đó chọn Sanh? Hỏi hỏi và hỏi. Trời thì cao và xanh xao.
_____________________________________________________
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 29 tháng 3, 2011
Thứ Ba, 1 tháng 3, 2011
Mưa Vĩnh Hưng
Tản văn
Nguyễn Ngọc Tư
Đám mây đen ướt sũng nước nằm chắn ngang phía con đường đang vút tới, như một cánh cửa đóng sập xuống. Vĩnh Hưng đằng trước. Cột cây số nói vậy. Nhưng sấm chớp thì nói đi nữa sẽ gặp mưa ướt mèm, có đáng không?
Bạn đã đối diện với câu hỏi đó hàng trăm lần trong đời, "Có đáng không?". Gã đó có đáng cho ta ba chấm (*) không, chuyện đổ vỡ nhỏ đó có đáng cho ta buồn không, thất bại đó có đáng cho ta ngã gục không… Và "có đáng không" nhiều lúc được hiểu như "nơi đó có gì hay mà ta phải cực thân dữ vậy?". Đó là những khi bạn trên đường gió bụi, phải dắt chiếc xe cán đinh thất thểu đi tìm chỗ vá, phải nằm queo trong căn phòng trọ mốc meo không điện không nước cửa không chốt gài, phải thấy mình đang ngun ngút bốc hơi trong nắng lửa, và gió cát tát vào mắt…
Do dự vặn vẹo làm bạn mệt phờ, nó muốn bạn bỏ dở cuộc đi, ru ầu ơ chăn gối ấm ví dầu tắm nước nóng… Có khi nó thắng. Cũng có khi bạn kháng cự bằng tất cả những gì bạn có, đây này đồi chè đây này suối nước nóng, và những cánh đồng triền miên hoa cải, nhưng nhiều lúc bạn chỉ có mỗi cái tên, một chấm nhỏ trên bản đồ. Và từng ấy cũng đủ. Những Khâu Băng, Rừng Lạnh, Khau Phạ, Cành Nàng, Đồng Bụt, Thứ Mười Một… Những cái tên gợi cảm, xa xăm, sâu thẳm như được gọi lên từ một miền trời khác. Những cái tên khiến bạn thèm ăn chúng, hít thở chúng. Những cái tên mời mọc bạn lên đường và giữ bạn trên đường.
Và bạn chưa bao giờ thất vọng, ngay cả nơi đó khô rốc gió Lào, lèo tèo vài hàng quán nhỏ, bụi mù đỏ và không một bóng cây. Có lẽ thất vọng thường đi kèm lời hứa, nhưng bạn hầu như chẳng nhận được lời hứa nào. Chúng chỉ như bảo, tôi đây, đến với tôi đi, tôi có gì á, tới đây rồi biết. Như Vĩnh Hưng, không thể hiện chút gì về mình ngoài cái tên cheo leo nơi biên giới. Ở chỗ cách Vĩnh Hưng bảy cây số, thực sự cái bạn đang có chỉ mưa là mưa. Không, tận hai cơn mưa, chúng kẹp bạn ở giữa. Tạt vô một căn nhà bên đường trốn ướt, bạn vuốt nước mưa trên mặt, thấy Có Đáng Không nhăn nhở chập chờn.
Nhưng nó biến mất tăm, kể từ bạn ngó ông già đang nằm ngủ bộ vạc trước nhà. Chân buông thõng xuống, cái quần cộc rộng lồng gió phất phơ, hồn nhiên để lộ những cơ bắp chảy nhão. Ông già ngáy đều, nghe trong mưa có tiếng lật phật của môi. Bộ điệu nhẹ nhỏm như thể giấc ngủ đến rất tình cờ, như thể ông già đang ngồi đợi ngắm mưa thì buồn ngủ quá nhẹ nhàng lăn ra vạc, bỏ trời đất bơ vơ.
Cửa nhà mở toang. Ghé đụt mưa cả buổi chỉ có một chị ló đầu ra ngó, cười tươi rồi lại biến mất, bên trong tiếng trẻ con ríu ran. Ông già nằm không cục cựa, giấc mơ trưa trôi giữa cơn run rẩy của đất trời. Con chó nằm cạnh cái tủ thờ chỉ ngóc đầu lên ngó rồi gối đầu lên chân lim dim. Mấy cây bàng xòe tán che kín mặt sân, lá rụng chở mưa xuống đất cho mưa đỡ đau.
Bạn nín thở rón rén bỏ đi. Bạn sợ chút nữa đây con chó sẽ sủa những âm thanh hằn học và ông già bị đánh thức, trẻ con trong nhà sẽ ùa ra hỏi hau háu ủa dì ở đâu mà đi tới đây, Vĩnh Hưng chán thí mồ mà chơi gì? Tụi nhỏ sẽ không bao giờ tin bạn tìm được thiên đường ở đây, ngay nhà chúng.
Tụi nhỏ không bao giờ hiểu cái cảm giác thanh bình này đáng giá bao nhiêu, và bạn phải đi xa bao nhiêu mới gặp. Có những nơi trên dãi đất này, nó đẹp không phải vì cảnh đẹp. Bên ngoài thềm nhà đó cũng là xóm làng mênh mông, đi lòng vòng cả buổi bạn không gặp một nét mặt thăm dò, không nhìn thấy sự dè dặt, thù hằn, không có ai dõi mắt theo, không một tiếng động nào chát chúa. Bình yên lẩn khuất trong từng nắm mưa lâm thâm, trong bộ điệu lừng khừng nửa trôi nửa dừng của mấy chiếc tắc rán giữa sông, trong cái barie chỗ vọng gác biên giới được anh lính biên phòng nào lơ đãng kéo chếch lên, như không còn gì ngăn cách ta và bạn, trong mưa này. Vài bà già làm công quả trong chánh điện chùa Nổi đang rị mọ lau mấy cái chân đèn, bỗng có bà dừng tay bồn chồn bới củ tỏi lại búng tóc sương, khi nghe tiếng ho từ ngôi nhà sàn bên kia màn mưa - chỗ ông thầy trụ trì chùa đang ở. Chẳng hiểu sao bạn nghĩ tới một mối tình thầm, man mác, trắc trở. Chắc tại mưa khiến xui…
Lúc trở về ngang qua cái nhà mà mình khi nãy ghé qua, thấy bộ vạc trống trơn. Chắc là ông già nghe lạnh nên tỉnh dậy mất rồi. Vĩnh Hưng như một giấc mơ, chỉ mưa là thật…
(*) …
______________________________________________________
Nguyễn Ngọc Tư
Đám mây đen ướt sũng nước nằm chắn ngang phía con đường đang vút tới, như một cánh cửa đóng sập xuống. Vĩnh Hưng đằng trước. Cột cây số nói vậy. Nhưng sấm chớp thì nói đi nữa sẽ gặp mưa ướt mèm, có đáng không?
Bạn đã đối diện với câu hỏi đó hàng trăm lần trong đời, "Có đáng không?". Gã đó có đáng cho ta ba chấm (*) không, chuyện đổ vỡ nhỏ đó có đáng cho ta buồn không, thất bại đó có đáng cho ta ngã gục không… Và "có đáng không" nhiều lúc được hiểu như "nơi đó có gì hay mà ta phải cực thân dữ vậy?". Đó là những khi bạn trên đường gió bụi, phải dắt chiếc xe cán đinh thất thểu đi tìm chỗ vá, phải nằm queo trong căn phòng trọ mốc meo không điện không nước cửa không chốt gài, phải thấy mình đang ngun ngút bốc hơi trong nắng lửa, và gió cát tát vào mắt…
Do dự vặn vẹo làm bạn mệt phờ, nó muốn bạn bỏ dở cuộc đi, ru ầu ơ chăn gối ấm ví dầu tắm nước nóng… Có khi nó thắng. Cũng có khi bạn kháng cự bằng tất cả những gì bạn có, đây này đồi chè đây này suối nước nóng, và những cánh đồng triền miên hoa cải, nhưng nhiều lúc bạn chỉ có mỗi cái tên, một chấm nhỏ trên bản đồ. Và từng ấy cũng đủ. Những Khâu Băng, Rừng Lạnh, Khau Phạ, Cành Nàng, Đồng Bụt, Thứ Mười Một… Những cái tên gợi cảm, xa xăm, sâu thẳm như được gọi lên từ một miền trời khác. Những cái tên khiến bạn thèm ăn chúng, hít thở chúng. Những cái tên mời mọc bạn lên đường và giữ bạn trên đường.
Và bạn chưa bao giờ thất vọng, ngay cả nơi đó khô rốc gió Lào, lèo tèo vài hàng quán nhỏ, bụi mù đỏ và không một bóng cây. Có lẽ thất vọng thường đi kèm lời hứa, nhưng bạn hầu như chẳng nhận được lời hứa nào. Chúng chỉ như bảo, tôi đây, đến với tôi đi, tôi có gì á, tới đây rồi biết. Như Vĩnh Hưng, không thể hiện chút gì về mình ngoài cái tên cheo leo nơi biên giới. Ở chỗ cách Vĩnh Hưng bảy cây số, thực sự cái bạn đang có chỉ mưa là mưa. Không, tận hai cơn mưa, chúng kẹp bạn ở giữa. Tạt vô một căn nhà bên đường trốn ướt, bạn vuốt nước mưa trên mặt, thấy Có Đáng Không nhăn nhở chập chờn.
Nhưng nó biến mất tăm, kể từ bạn ngó ông già đang nằm ngủ bộ vạc trước nhà. Chân buông thõng xuống, cái quần cộc rộng lồng gió phất phơ, hồn nhiên để lộ những cơ bắp chảy nhão. Ông già ngáy đều, nghe trong mưa có tiếng lật phật của môi. Bộ điệu nhẹ nhỏm như thể giấc ngủ đến rất tình cờ, như thể ông già đang ngồi đợi ngắm mưa thì buồn ngủ quá nhẹ nhàng lăn ra vạc, bỏ trời đất bơ vơ.
Cửa nhà mở toang. Ghé đụt mưa cả buổi chỉ có một chị ló đầu ra ngó, cười tươi rồi lại biến mất, bên trong tiếng trẻ con ríu ran. Ông già nằm không cục cựa, giấc mơ trưa trôi giữa cơn run rẩy của đất trời. Con chó nằm cạnh cái tủ thờ chỉ ngóc đầu lên ngó rồi gối đầu lên chân lim dim. Mấy cây bàng xòe tán che kín mặt sân, lá rụng chở mưa xuống đất cho mưa đỡ đau.
Bạn nín thở rón rén bỏ đi. Bạn sợ chút nữa đây con chó sẽ sủa những âm thanh hằn học và ông già bị đánh thức, trẻ con trong nhà sẽ ùa ra hỏi hau háu ủa dì ở đâu mà đi tới đây, Vĩnh Hưng chán thí mồ mà chơi gì? Tụi nhỏ sẽ không bao giờ tin bạn tìm được thiên đường ở đây, ngay nhà chúng.
Tụi nhỏ không bao giờ hiểu cái cảm giác thanh bình này đáng giá bao nhiêu, và bạn phải đi xa bao nhiêu mới gặp. Có những nơi trên dãi đất này, nó đẹp không phải vì cảnh đẹp. Bên ngoài thềm nhà đó cũng là xóm làng mênh mông, đi lòng vòng cả buổi bạn không gặp một nét mặt thăm dò, không nhìn thấy sự dè dặt, thù hằn, không có ai dõi mắt theo, không một tiếng động nào chát chúa. Bình yên lẩn khuất trong từng nắm mưa lâm thâm, trong bộ điệu lừng khừng nửa trôi nửa dừng của mấy chiếc tắc rán giữa sông, trong cái barie chỗ vọng gác biên giới được anh lính biên phòng nào lơ đãng kéo chếch lên, như không còn gì ngăn cách ta và bạn, trong mưa này. Vài bà già làm công quả trong chánh điện chùa Nổi đang rị mọ lau mấy cái chân đèn, bỗng có bà dừng tay bồn chồn bới củ tỏi lại búng tóc sương, khi nghe tiếng ho từ ngôi nhà sàn bên kia màn mưa - chỗ ông thầy trụ trì chùa đang ở. Chẳng hiểu sao bạn nghĩ tới một mối tình thầm, man mác, trắc trở. Chắc tại mưa khiến xui…
Lúc trở về ngang qua cái nhà mà mình khi nãy ghé qua, thấy bộ vạc trống trơn. Chắc là ông già nghe lạnh nên tỉnh dậy mất rồi. Vĩnh Hưng như một giấc mơ, chỉ mưa là thật…
(*) …
______________________________________________________
Thứ Năm, 16 tháng 12, 2010
Khói trời lộng lẫy
Truyện của Nguyễn Ngọc Tư
1
Nghe tiếng mưa khi mưa hãy còn xiêu xiêu ngoài sông, rồi mưa băng qua bờ lá có căn chòi hoang ở phía Nam cồn, ào vào bãi đất xơ rơ những thân lau sậy cháy, giờ thì mưa đã dội trên mái nhà, trượt theo những đuôi lá mục mưa thả mình vào đất. Khe vách rách rã chẻ mỏng những ngọn gió ướt, chém ngọt qua người, lạnh rởn lỗ chân lông.
Tôi lụi hụi ngồi dậy đắp mền cho thằng Phiên. Tấm mền ngắn ngủn, mong ấm cổ thì hở chân, che kín đôi chân thì phong phanh vai trần. Lại chạm tay vào nó như thường chạm khẽ trong đêm. Có lúc thằng nhỏ hơi mỉm cười, có lúc nó càu nhàu rồi lăn sát vách mùng, có khi nó quạu quọ gạt tay tôi ra. Nó phản ứng kiểu nào tôi cũng vui bởi ý nghĩ, nó còn ở bên tôi.
Nhưng khuya nay, khi tay tôi vờn trên cái mũi lấm tấm mụn của Phiên, khi cái đầu gối xương xẩu của nó co lại thúc vào sườn tôi đau nhói, vẫn cảm giác thằng nhỏ đang rời đi xa lắm rồi. Nó đi trên chiếc xáng cơm cùng những gã đàn ông lạ. Chiều qua, chiếc xáng đã nhổ neo rời khỏi cồn. Nhưng mưa mùa triền miên cùng với những cơn giông gió cũng không ngăn được nó quay lại, càn rướn vào rặng ô rô rách bươm.
Và không có gì ngăn gã đàn ông trên chiếc xáng kia tới tìm tôi, với vẻ nham nhở thường ngày, hỏi tôi suy nghĩ tới đâu rồi. Nham nhở như gã của ba ngày trước, khi chìa ra một vuông báo cũ ố vàng và khiêu khích hỏi tôi có gì để đổi không. Mảnh giấy nhỏ nhoi ngó chừng vô nghĩa nhưng gần như tôi không có gì đáng giá đánh đổi, ngoài chính tôi. Gã chỉ chờ đợi điều đó thôi, khẽ cười đắc thắng.
Nhưng tôi câm lặng không phải vì tuyệt vọng mà vì những bức ảnh trong bài báo phất phơ trên tay gã. Ba tôi, Anh, và tôi của ngày hai mươi ba tuổi. Tấm hình tôi dán trong bộ hồ sơ xin việc, mặt quang quẽ, tóc vén lên vành tai, nhìn thẳng, hơi mỉm cười nhưng mắt tối. Trên bài báo, ba cái ảnh nằm gần như cạnh nhau, nhưng hai người kia đang tuyệt vọng tìm tôi. Ngày trên trang báo dừng lại ở mười ba năm trước.
Ngày hai mươi ba tháng tám. Không biết bữa đó tôi với Phiên đang ở trên chuyến xe đò nào trong một lộ trình trốn chạy. Ngày hôm đó, có thể chúng tôi đang ôm nhau ngủ còng queo trong một toa xe lửa hôi sặc cứt gà, một phòng trọ mốc meo, có thể chúng tôi đang ngồi tàu đò, lúc đi qua cái cồn xanh mịt những rặng dừa nước, rặng bần có ai đó thở dài ứ hự, “cho tui nhiêu tiền cũng không lên cái cồn Bần này ở, buồn thấy mẹ…”, tôi liền kêu tàu ghé lại. Anh tài công xửng vửng, chắc hôn vậy, chắc chỗ này không, tôi gật đầu cười, bồng Phiên bước lên bờ, nói về tới nhà rồi, cưng ơi.
Chiếc tàu de khỏi bờ lá, Phiên vẫn đang ngái ngủ trên vai tôi, không biết rằng từ nay nó sẽ sống một cuộc đời khác, với cỏ cây, với sông nước, và vài ba nóc nhà thưa thớt của xóm cồn.
2
Khoảng cách ngàn cây số cũng không ngăn được những chiêm bao. Có thể ban ngày tôi thường nhớ, khi ngó cỏ cây, nhìn những người xóm Cồn í ới giúp tôi lợp nhà, ven vách, nhìn Phiên lửng đửng đi từng bước trên đất… tất cả đều quen thuộc. Như những gì cất giữ ở Viện di sản thiên nhiên và con người.
Mỗi chiêm bao là một lát cắt, một cảnh phim dang dở về nơi đó. Có khi tôi thấy vía mình ngập ngừng đi vào một tòa nhà cũ chìm lút trong một khuôn viên um tùm cây cỏ. Qua mấy bậc tam cấp gãy nứt nối với khoảng hành lang hơi tối có vài căn phòng khép cửa. Cuối lối có mảnh sân rộng nằm giữa tòa nhà, nắng sáng rót lưng chừng. Nhiều tấm pano được treo trên bốn bức tường vây quanh, giăng giăng những khẩu hiệu, bên này là “giữ gìn cái đẹp của nhân loại như giữ nhịp đập trái tim mình”, “Cái đẹp thường mong manh và tàn nhẫn, chúng ta sẽ chạm vào điều kỳ diệu giữa cơn đau”, bên này là “cần có một tâm hồn lớn để cảm thụ những cái đẹp cuộc đời”. Chữ nào cũng chắc nụi, lớn lao.
Vía tôi bị chữ hù, cứ hí húi đong đếm coi tâm hồn mình bao lớn, rồi vía thấy một dòng chữ khác được đắp nổi lên tường, “Không có gì là mãi mãi, hãy cất giữ thế giới này”. Vía tò mò, hồi nhỏ tới giờ chỉ biết đất nước muôn năm, anh hùng muôn năm. Ở đây họ nói không có gì là mãi mãi.
Tò mò quá, vía đẩy cửa vào.
Và trong những chiêm bao hao khuyết tôi từng đêm, những cánh cửa của tòa nhà Viện di sản thiên nhiên và con người luôn mở ra rất chậm, sau tiếng kèn kẹt là vùng ánh sáng chói lòa, như thể phía tôi là bóng tối.
Khi đó thằng Phiên lăn sát vào tôi, hay chân nó đập xuống giường trong lúc trở mình làm tôi thức giấc, ký ức vẫn tiếp tục mở ra những cánh cửa, mở ra những rung động, bất ngờ. Một vài căn phòng giống như biển, ngay lập tức khiến tôi chìm sâu, ngộp thở, nhưng tôi hoàn toàn không muốn vùng vẫy, chạy trốn. Lý do đôi lúc chỉ vì trong đó có người đàn ông giống như một người nào đó tôi đã gặp trong đời, một người tôi đã mất dấu.
Nhưng người đàn ông phỏng vấn tôi hôm xin việc không tỏ ra chút nào quen biết, anh ta hờ hững và xa lạ, lơ đãng khép mở hồ sơ trên tay, lơ đãng hỏi một câu lơ đãng, em có kinh nghiệm gì?
Trời, kể hết chắc tới mai. Tôi đã từng rửa chén và phục vụ ở nhà hàng, sơn tường nhà, phát tờ rơi, chăn trẻ con, xé vé ở rạp chiếu phim… và tôi còn có khả năng tươi cười, bất kể hoàn cảnh nào. Nhưng chẳng hiểu sao khi anh gác chân còn lại lên bàn, tôi lại nói ra một kinh nghiệm kỳ lạ:
- Tôi lắng nghe người ta nói.
- À, vụ này hay nghen, vậy chớ em nghe làm sao?
Tôi nhìn mấy tờ giấy bay lắt xắt trên bàn, và nghĩ mình có quyền nói dóc là trực đường dây nóng cho sản phẩm dầu gội hay thuốc diệt muỗi abc nào đó. Nhưng tôi ngước lên, cố bắt chước vẻ giễu cợt của anh ta, làm bộ điều tôi nói ra đây không quan trọng, “cũng lâu lâu rồi, tôi có làm bồ mướn”.
À, người đàn ông không biến sắc, anh ta làm như mới nghe nói tới nghề này lần đầu, nói lạ quá, em kể thêm chút nữa đi. Tôi dùng hết vẻ thản nhiên mà tôi vơ vét được, thuật một câu chuyện mà tôi biết nó chán òm. Có lúc không tìm ra học phí, bạn bè nói làm bồ mướn cũng có tiền, rồi giới thiệu cho tôi một anh. Chúng tôi gặp nhau không đem quá khứ theo, không có cả tên, gọi anh ơi em ơi như mặc nhiên tên họ là Anh tên tôi là Em. Những cuối tuần, tôi nín thở chờ điện thoại run lên và Anh nói sẽ đón. Chúng tôi đi ăn, uống, đi tới những cái quán nước vắng người để ngồi chơi. Có khi anh nói, tôi nghe. Có khi Anh không nói gì thì tôi im lặng, im lặng cũng là cách lắng nghe. Cao trào của mối quan hệ này là một lần Anh bật khóc nên tôi cho mượn vai. Tóc Anh hơi rối làm cổ và má tôi nhột ran, cả người tê dại, nhưng tôi cố chịu, vì tôi là bồ mướn. Nên vai này coi như được trả tiền rồi.
- Chúng tôi… không đi xa.
- Đi xa là đi đâu? – Lại giễu cợt.
- Từ eo tôi trở xuống.
Tôi quyết định dừng câu chuyện ở đó, giữ đoạn cuối trong lòng. Sau bữa cho mướn vai, tôi bỗng nghĩ, thôi kệ, đi xa cũng được, nhưng Anh không bao giờ gọi nữa. Không có tăm tích nào trên đời, như một giấc mơ vậy. Tôi buồn xanh xương. Không bao giờ tôi hình dung mình gặp lại giấc mơ xưa trong căn phòng này, vẫn gương mặt phớt đời, vẫn cái nhìn ngạo nghễ, và vẻ lạnh lẽo xa xôi.
Tự dưng, tôi thèm muốn tìm được một công việc nào đó ở đây, quét lá cây trong vườn cũng được. Buổi phỏng vấn là một cơn nín thở, và òa vỡ khi người đàn ông xốc xấp giấy tờ lại, bắt tay tôi:
- Từ giờ cô sẽ lắng nghe thiên nhiên nói.
Cái kiểu bắt tay cũng hờ hững, đầy vẻ ban ơn. Tôi không thấy phiền chút nào hết. Tôi vui muốn chết.
3
Chuyện đời tôi được người xóm Cồn đồn đoán, thì thầm rằng, yêu một người bị gia đình phản đối, tôi bất chấp trốn nhà theo anh ta, sinh thằng Phiên, rồi bị anh ta bỏ, không biết đi đâu về đâu, tôi tạt qua xóm Cồn ở tạm, chờ ba má tha thứ tôi sẽ dẫn con về. Chưa bao giờ tôi kể, nhưng ánh mắt u tối của tôi, thằng nhỏ đang lẽo đẽo dưới chân tôi, kiểu cười tránh những câu hỏi khó, tất cả đã nói thay.
Rằng tôi tới đây chờ đợi một sự lãng quên, giống ông Sáu Câu từng chịu án giết người, giống chị Thắm lẩn tránh những đòn ghen của bà vợ lớn, giống chị Thiện bỏ lại ở quê chồng con và món nợ hụi hè … Những người mà họ nợ dù tình cảm hay tiền bạc, biết họ ở đây, nhưng không ai đuổi theo. Cái cồn nằm giữa dòng sông Mê mênh mông, tự nó như một chốn lưu đày.
Chân trời chỉ nước và cây, mặt trời mọc trên sông rồi lặn vào sông, bờ Bắc bờ Nam nhiều bụi rậm mọc hoang lẫn trong những chòm cây cối. Chiều nào bìm bịp kêu, nắng chìm lỉm theo. Tôi hay nhìn về đó, tự hỏi người ta còn tìm kiếm tôi không?
Một ông già vác cần câu đi qua, hỏi tôi, nhớ nhà hả cô?
(còn nữa)
_________________________________________________
1
Nghe tiếng mưa khi mưa hãy còn xiêu xiêu ngoài sông, rồi mưa băng qua bờ lá có căn chòi hoang ở phía Nam cồn, ào vào bãi đất xơ rơ những thân lau sậy cháy, giờ thì mưa đã dội trên mái nhà, trượt theo những đuôi lá mục mưa thả mình vào đất. Khe vách rách rã chẻ mỏng những ngọn gió ướt, chém ngọt qua người, lạnh rởn lỗ chân lông.
Tôi lụi hụi ngồi dậy đắp mền cho thằng Phiên. Tấm mền ngắn ngủn, mong ấm cổ thì hở chân, che kín đôi chân thì phong phanh vai trần. Lại chạm tay vào nó như thường chạm khẽ trong đêm. Có lúc thằng nhỏ hơi mỉm cười, có lúc nó càu nhàu rồi lăn sát vách mùng, có khi nó quạu quọ gạt tay tôi ra. Nó phản ứng kiểu nào tôi cũng vui bởi ý nghĩ, nó còn ở bên tôi.
Nhưng khuya nay, khi tay tôi vờn trên cái mũi lấm tấm mụn của Phiên, khi cái đầu gối xương xẩu của nó co lại thúc vào sườn tôi đau nhói, vẫn cảm giác thằng nhỏ đang rời đi xa lắm rồi. Nó đi trên chiếc xáng cơm cùng những gã đàn ông lạ. Chiều qua, chiếc xáng đã nhổ neo rời khỏi cồn. Nhưng mưa mùa triền miên cùng với những cơn giông gió cũng không ngăn được nó quay lại, càn rướn vào rặng ô rô rách bươm.
Và không có gì ngăn gã đàn ông trên chiếc xáng kia tới tìm tôi, với vẻ nham nhở thường ngày, hỏi tôi suy nghĩ tới đâu rồi. Nham nhở như gã của ba ngày trước, khi chìa ra một vuông báo cũ ố vàng và khiêu khích hỏi tôi có gì để đổi không. Mảnh giấy nhỏ nhoi ngó chừng vô nghĩa nhưng gần như tôi không có gì đáng giá đánh đổi, ngoài chính tôi. Gã chỉ chờ đợi điều đó thôi, khẽ cười đắc thắng.
Nhưng tôi câm lặng không phải vì tuyệt vọng mà vì những bức ảnh trong bài báo phất phơ trên tay gã. Ba tôi, Anh, và tôi của ngày hai mươi ba tuổi. Tấm hình tôi dán trong bộ hồ sơ xin việc, mặt quang quẽ, tóc vén lên vành tai, nhìn thẳng, hơi mỉm cười nhưng mắt tối. Trên bài báo, ba cái ảnh nằm gần như cạnh nhau, nhưng hai người kia đang tuyệt vọng tìm tôi. Ngày trên trang báo dừng lại ở mười ba năm trước.
Ngày hai mươi ba tháng tám. Không biết bữa đó tôi với Phiên đang ở trên chuyến xe đò nào trong một lộ trình trốn chạy. Ngày hôm đó, có thể chúng tôi đang ôm nhau ngủ còng queo trong một toa xe lửa hôi sặc cứt gà, một phòng trọ mốc meo, có thể chúng tôi đang ngồi tàu đò, lúc đi qua cái cồn xanh mịt những rặng dừa nước, rặng bần có ai đó thở dài ứ hự, “cho tui nhiêu tiền cũng không lên cái cồn Bần này ở, buồn thấy mẹ…”, tôi liền kêu tàu ghé lại. Anh tài công xửng vửng, chắc hôn vậy, chắc chỗ này không, tôi gật đầu cười, bồng Phiên bước lên bờ, nói về tới nhà rồi, cưng ơi.
Chiếc tàu de khỏi bờ lá, Phiên vẫn đang ngái ngủ trên vai tôi, không biết rằng từ nay nó sẽ sống một cuộc đời khác, với cỏ cây, với sông nước, và vài ba nóc nhà thưa thớt của xóm cồn.
2
Khoảng cách ngàn cây số cũng không ngăn được những chiêm bao. Có thể ban ngày tôi thường nhớ, khi ngó cỏ cây, nhìn những người xóm Cồn í ới giúp tôi lợp nhà, ven vách, nhìn Phiên lửng đửng đi từng bước trên đất… tất cả đều quen thuộc. Như những gì cất giữ ở Viện di sản thiên nhiên và con người.
Mỗi chiêm bao là một lát cắt, một cảnh phim dang dở về nơi đó. Có khi tôi thấy vía mình ngập ngừng đi vào một tòa nhà cũ chìm lút trong một khuôn viên um tùm cây cỏ. Qua mấy bậc tam cấp gãy nứt nối với khoảng hành lang hơi tối có vài căn phòng khép cửa. Cuối lối có mảnh sân rộng nằm giữa tòa nhà, nắng sáng rót lưng chừng. Nhiều tấm pano được treo trên bốn bức tường vây quanh, giăng giăng những khẩu hiệu, bên này là “giữ gìn cái đẹp của nhân loại như giữ nhịp đập trái tim mình”, “Cái đẹp thường mong manh và tàn nhẫn, chúng ta sẽ chạm vào điều kỳ diệu giữa cơn đau”, bên này là “cần có một tâm hồn lớn để cảm thụ những cái đẹp cuộc đời”. Chữ nào cũng chắc nụi, lớn lao.
Vía tôi bị chữ hù, cứ hí húi đong đếm coi tâm hồn mình bao lớn, rồi vía thấy một dòng chữ khác được đắp nổi lên tường, “Không có gì là mãi mãi, hãy cất giữ thế giới này”. Vía tò mò, hồi nhỏ tới giờ chỉ biết đất nước muôn năm, anh hùng muôn năm. Ở đây họ nói không có gì là mãi mãi.
Tò mò quá, vía đẩy cửa vào.
Và trong những chiêm bao hao khuyết tôi từng đêm, những cánh cửa của tòa nhà Viện di sản thiên nhiên và con người luôn mở ra rất chậm, sau tiếng kèn kẹt là vùng ánh sáng chói lòa, như thể phía tôi là bóng tối.
Khi đó thằng Phiên lăn sát vào tôi, hay chân nó đập xuống giường trong lúc trở mình làm tôi thức giấc, ký ức vẫn tiếp tục mở ra những cánh cửa, mở ra những rung động, bất ngờ. Một vài căn phòng giống như biển, ngay lập tức khiến tôi chìm sâu, ngộp thở, nhưng tôi hoàn toàn không muốn vùng vẫy, chạy trốn. Lý do đôi lúc chỉ vì trong đó có người đàn ông giống như một người nào đó tôi đã gặp trong đời, một người tôi đã mất dấu.
Nhưng người đàn ông phỏng vấn tôi hôm xin việc không tỏ ra chút nào quen biết, anh ta hờ hững và xa lạ, lơ đãng khép mở hồ sơ trên tay, lơ đãng hỏi một câu lơ đãng, em có kinh nghiệm gì?
Trời, kể hết chắc tới mai. Tôi đã từng rửa chén và phục vụ ở nhà hàng, sơn tường nhà, phát tờ rơi, chăn trẻ con, xé vé ở rạp chiếu phim… và tôi còn có khả năng tươi cười, bất kể hoàn cảnh nào. Nhưng chẳng hiểu sao khi anh gác chân còn lại lên bàn, tôi lại nói ra một kinh nghiệm kỳ lạ:
- Tôi lắng nghe người ta nói.
- À, vụ này hay nghen, vậy chớ em nghe làm sao?
Tôi nhìn mấy tờ giấy bay lắt xắt trên bàn, và nghĩ mình có quyền nói dóc là trực đường dây nóng cho sản phẩm dầu gội hay thuốc diệt muỗi abc nào đó. Nhưng tôi ngước lên, cố bắt chước vẻ giễu cợt của anh ta, làm bộ điều tôi nói ra đây không quan trọng, “cũng lâu lâu rồi, tôi có làm bồ mướn”.
À, người đàn ông không biến sắc, anh ta làm như mới nghe nói tới nghề này lần đầu, nói lạ quá, em kể thêm chút nữa đi. Tôi dùng hết vẻ thản nhiên mà tôi vơ vét được, thuật một câu chuyện mà tôi biết nó chán òm. Có lúc không tìm ra học phí, bạn bè nói làm bồ mướn cũng có tiền, rồi giới thiệu cho tôi một anh. Chúng tôi gặp nhau không đem quá khứ theo, không có cả tên, gọi anh ơi em ơi như mặc nhiên tên họ là Anh tên tôi là Em. Những cuối tuần, tôi nín thở chờ điện thoại run lên và Anh nói sẽ đón. Chúng tôi đi ăn, uống, đi tới những cái quán nước vắng người để ngồi chơi. Có khi anh nói, tôi nghe. Có khi Anh không nói gì thì tôi im lặng, im lặng cũng là cách lắng nghe. Cao trào của mối quan hệ này là một lần Anh bật khóc nên tôi cho mượn vai. Tóc Anh hơi rối làm cổ và má tôi nhột ran, cả người tê dại, nhưng tôi cố chịu, vì tôi là bồ mướn. Nên vai này coi như được trả tiền rồi.
- Chúng tôi… không đi xa.
- Đi xa là đi đâu? – Lại giễu cợt.
- Từ eo tôi trở xuống.
Tôi quyết định dừng câu chuyện ở đó, giữ đoạn cuối trong lòng. Sau bữa cho mướn vai, tôi bỗng nghĩ, thôi kệ, đi xa cũng được, nhưng Anh không bao giờ gọi nữa. Không có tăm tích nào trên đời, như một giấc mơ vậy. Tôi buồn xanh xương. Không bao giờ tôi hình dung mình gặp lại giấc mơ xưa trong căn phòng này, vẫn gương mặt phớt đời, vẫn cái nhìn ngạo nghễ, và vẻ lạnh lẽo xa xôi.
Tự dưng, tôi thèm muốn tìm được một công việc nào đó ở đây, quét lá cây trong vườn cũng được. Buổi phỏng vấn là một cơn nín thở, và òa vỡ khi người đàn ông xốc xấp giấy tờ lại, bắt tay tôi:
- Từ giờ cô sẽ lắng nghe thiên nhiên nói.
Cái kiểu bắt tay cũng hờ hững, đầy vẻ ban ơn. Tôi không thấy phiền chút nào hết. Tôi vui muốn chết.
3
Chuyện đời tôi được người xóm Cồn đồn đoán, thì thầm rằng, yêu một người bị gia đình phản đối, tôi bất chấp trốn nhà theo anh ta, sinh thằng Phiên, rồi bị anh ta bỏ, không biết đi đâu về đâu, tôi tạt qua xóm Cồn ở tạm, chờ ba má tha thứ tôi sẽ dẫn con về. Chưa bao giờ tôi kể, nhưng ánh mắt u tối của tôi, thằng nhỏ đang lẽo đẽo dưới chân tôi, kiểu cười tránh những câu hỏi khó, tất cả đã nói thay.
Rằng tôi tới đây chờ đợi một sự lãng quên, giống ông Sáu Câu từng chịu án giết người, giống chị Thắm lẩn tránh những đòn ghen của bà vợ lớn, giống chị Thiện bỏ lại ở quê chồng con và món nợ hụi hè … Những người mà họ nợ dù tình cảm hay tiền bạc, biết họ ở đây, nhưng không ai đuổi theo. Cái cồn nằm giữa dòng sông Mê mênh mông, tự nó như một chốn lưu đày.
Chân trời chỉ nước và cây, mặt trời mọc trên sông rồi lặn vào sông, bờ Bắc bờ Nam nhiều bụi rậm mọc hoang lẫn trong những chòm cây cối. Chiều nào bìm bịp kêu, nắng chìm lỉm theo. Tôi hay nhìn về đó, tự hỏi người ta còn tìm kiếm tôi không?
Một ông già vác cần câu đi qua, hỏi tôi, nhớ nhà hả cô?
(còn nữa)
_________________________________________________
Thứ Sáu, 26 tháng 11, 2010
'Khói trời lộng lẫy' của Nguyễn Ngọc Tư
TP - Chiều 12-11, chưa tới giờ khai mạc buổi ra mắt cuốn sách mới 'Khói trời lộng lẫy' của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, đã có hàng trăm độc giả kéo đến, ngồi chật cứng căn phòng khá lớn của quán cà phê Thứ 7 - (37 đường Nguyễn Đình Chiểu, quận I, TPHCM).
Bà Nguyễn Thế Thanh - Tổng giám đốc Công ty Sài Gòn truyền thông - đơn vị phát hành cuốn sách phân bua với các nhà báo: “Chúng tôi không ngờ lại đông độc giả đến như thế nên không chuẩn bị kịp”. Nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu như Cao Tự Thanh, Nguyễn Tiến Văn, Chinh Văn, Vũ Trọng Quang… cũng đành phải ngồi ngoài. 100 cuốn Khói trời lộng lẫy được BTC dự tính sẽ cho tác giả ký để bán cho những bạn đọc đầu tiên đã bán hết veo dù tác giả chưa kịp ký. 200 cuốn sách được bổ sung gấp cũng hết sạch.
Khói trời lộng lẫy - tác giả Nguyễn Ngọc Tư - do Sài Gòn truyền thông và NXB Thời Đại xuất bản. Sách gồm 11 truyện ngắn và truyện vừa Khói trời lộng lẫyđang được bán với giá 36.000 đồng tại các nhà sách trong cả nước.
Nhiều ý kiến cho rằng đây chỉ là những truyện Nguyễn Ngọc Tư đã đăng rải rác trên các báo trong cả nước được tập hợp lại, sức hút của nó với bạn đọc xuất phát từ bộ phim Cánh đồng bất tận đang xôn xao ở các rạp. Nguyễn Ngọc Tư cho rằng mỗi truyện có một nét rất riêng, khi đứng chung trong một tập sẽ tạo một điều thú vị hơn là đứng một mình. Chị cũng không nghĩ Khói trời lộng lẫy sẽ tiếp tục là Cánh đồng bất tận thứ hai vì mỗi tác phẩm có thời điểm sáng tác riêng, có không gian riêng nên khó có thể nói giống nhau được…
Tư tâm sự, cô viết tập sách này là để kết thúc chuỗi câu chuyện với chủ đề trả thù. “Bắt đầu từ Cánh đồng bất tận và kết thúc bằng Khói trời lộng lẫy. Nhưng nếu có vụ trả thù nào hay thì chắc cũng sẽ viết tiếp”, Tư vừa cười vừa nói. Cô nhắc lại cách đây vài năm, có lần chụp ảnh cho một tờ báo, người nhiếp ảnh nói cô đứng trước một cánh đồng cỏ đang rạp xuống vì gió… Bức ảnh đó nhiều người khen, nhưng với cô, giờ nhìn lại, như một vẻ đẹp đã chết, vì mọi thứ đều luôn biến hóa, thay đổi và cô cũng phải vậy thôi.
Một độc giả hâm mô Tư, ở độ tuổi ngũ tuần, đã hỏi cô về nỗi sợ: “Tại sao cô Tư vượt qua được nỗi sợ để viết những thứ mà hiện nay nhiều nhà văn lớn tuổi đều câm lặng?”. Tư trả lời: “Thật ra khi viết mình có cảm giác sợ chứ. Khi viết xong Cánh đồng bất tận, tâm trạng thật khủng khiếp. Nhưng bắt đầu đã quên thì mọi người lại… sợ. Họ tìm tì vết gì đó… Rồi mình nghĩ nếu viết mà năm nào cũng như Cánh đồng bất tận thì chỉ cần vài năm nữa là hoặc bỏ nghề hoặc có cái chết nhẹ nhàng. Nhưng có lẽ giờ thì mình đã quên rồi, nếu anh vẫn còn sợ thì đó là nỗi sợ của anh, không phải của em”.
Trả lời câu hỏi: “Chị nghĩ gì khi có người nói chỉ cần đọc ba câu là biết văn của Nguyễn Ngọc Tư?” của một bạn gái tuổi hai mươi, Tư cho rằng cô cũng như tất cả những người viết khác đều có khao khát định hình phong cách ngay từ đầu. Và cô may mắn có được và đến giờ vẫn làm cô hài lòng. Tuy vậy nếu như bước tiếp theo, cô có thêm tài biến hóa nữa thì đó là điều cô tiếp tục mong muốn mình có may mắn… thêm.
________________________________________
Bà Nguyễn Thế Thanh - Tổng giám đốc Công ty Sài Gòn truyền thông - đơn vị phát hành cuốn sách phân bua với các nhà báo: “Chúng tôi không ngờ lại đông độc giả đến như thế nên không chuẩn bị kịp”. Nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu như Cao Tự Thanh, Nguyễn Tiến Văn, Chinh Văn, Vũ Trọng Quang… cũng đành phải ngồi ngoài. 100 cuốn Khói trời lộng lẫy được BTC dự tính sẽ cho tác giả ký để bán cho những bạn đọc đầu tiên đã bán hết veo dù tác giả chưa kịp ký. 200 cuốn sách được bổ sung gấp cũng hết sạch.
Khói trời lộng lẫy - tác giả Nguyễn Ngọc Tư - do Sài Gòn truyền thông và NXB Thời Đại xuất bản. Sách gồm 11 truyện ngắn và truyện vừa Khói trời lộng lẫyđang được bán với giá 36.000 đồng tại các nhà sách trong cả nước.
Nhiều ý kiến cho rằng đây chỉ là những truyện Nguyễn Ngọc Tư đã đăng rải rác trên các báo trong cả nước được tập hợp lại, sức hút của nó với bạn đọc xuất phát từ bộ phim Cánh đồng bất tận đang xôn xao ở các rạp. Nguyễn Ngọc Tư cho rằng mỗi truyện có một nét rất riêng, khi đứng chung trong một tập sẽ tạo một điều thú vị hơn là đứng một mình. Chị cũng không nghĩ Khói trời lộng lẫy sẽ tiếp tục là Cánh đồng bất tận thứ hai vì mỗi tác phẩm có thời điểm sáng tác riêng, có không gian riêng nên khó có thể nói giống nhau được…
Tư tâm sự, cô viết tập sách này là để kết thúc chuỗi câu chuyện với chủ đề trả thù. “Bắt đầu từ Cánh đồng bất tận và kết thúc bằng Khói trời lộng lẫy. Nhưng nếu có vụ trả thù nào hay thì chắc cũng sẽ viết tiếp”, Tư vừa cười vừa nói. Cô nhắc lại cách đây vài năm, có lần chụp ảnh cho một tờ báo, người nhiếp ảnh nói cô đứng trước một cánh đồng cỏ đang rạp xuống vì gió… Bức ảnh đó nhiều người khen, nhưng với cô, giờ nhìn lại, như một vẻ đẹp đã chết, vì mọi thứ đều luôn biến hóa, thay đổi và cô cũng phải vậy thôi.
Một độc giả hâm mô Tư, ở độ tuổi ngũ tuần, đã hỏi cô về nỗi sợ: “Tại sao cô Tư vượt qua được nỗi sợ để viết những thứ mà hiện nay nhiều nhà văn lớn tuổi đều câm lặng?”. Tư trả lời: “Thật ra khi viết mình có cảm giác sợ chứ. Khi viết xong Cánh đồng bất tận, tâm trạng thật khủng khiếp. Nhưng bắt đầu đã quên thì mọi người lại… sợ. Họ tìm tì vết gì đó… Rồi mình nghĩ nếu viết mà năm nào cũng như Cánh đồng bất tận thì chỉ cần vài năm nữa là hoặc bỏ nghề hoặc có cái chết nhẹ nhàng. Nhưng có lẽ giờ thì mình đã quên rồi, nếu anh vẫn còn sợ thì đó là nỗi sợ của anh, không phải của em”.
Trả lời câu hỏi: “Chị nghĩ gì khi có người nói chỉ cần đọc ba câu là biết văn của Nguyễn Ngọc Tư?” của một bạn gái tuổi hai mươi, Tư cho rằng cô cũng như tất cả những người viết khác đều có khao khát định hình phong cách ngay từ đầu. Và cô may mắn có được và đến giờ vẫn làm cô hài lòng. Tuy vậy nếu như bước tiếp theo, cô có thêm tài biến hóa nữa thì đó là điều cô tiếp tục mong muốn mình có may mắn… thêm.
________________________________________
Thứ Năm, 11 tháng 11, 2010
Nửa đời ngơ ngác - Tình yêu và thù hận...
ĐỖ HẠNH
Sân khấu kịch Hoàng Thái Thanh vừa ra mắt khán giả vở “Nửa đời ngơ ngác” (tác giả Trần Mỹ Trang, Hoàng Thái Thanh; đạo diễn NSƯT Thành Hội), dựa theo truyện ngắn “Chiều vắng” của nữ nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Vở diễn đã thực sự mang lại cho khán giả nhiều cảm xúc…
1- Vậy là một lần nữa, chất Nam bộ trong tác phẩm văn học của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư được những người làm sân khấu thành phố đưa lên sàn diễn. Từ Cánh đồng bất tận, rồi Dòng nhớ, nay đến Chiều vắng đã tạo nên chuỗi hình ảnh thật và đẹp của làng quê Nam bộ, cùng nét đẹp của cốt cách người dân Nam bộ.
Từ cái chất rặt Nam bộ trong truyện ngắn Chiều vắng của Nguyễn Ngọc Tư đã tạo nên chất men kích thích cho tác giả Trần Mỹ Trang, Hoàng Thái Thanh và đạo diễn NSƯT Thành Hội xây dựng nên một Nửa đời ngơ ngác thật thú vị. Rõ ràng trong tình hình sân khấu khủng hoảng trầm trọng kịch bản hay, việc dựa vào tác phẩm văn học để có được tác phẩm sân khấu hay là rất cần thiết. Khi xem Nửa đời ngơ ngác, những người yêu thích văn học vẫn cảm nhận được đâu đó những lời văn giản dị, chất phác của Nguyễn Ngọc Tư. Mặc dù, trong Nửa đời ngơ ngác, cách kể chuyện của Trần Mỹ Trang, Hoàng Thái Thanh và đạo diễn NSƯT Thành Hội có những lý giải khác và thêm vài nhân vật, nhưng vẫn giữ được “cái hồn, cái tứ” của Chiều vắng.
2- Nửa đời ngơ ngác đã mang đến cho khán giả nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. Trong đó có tình yêu, có thù hận, có thương, có ghét, rất nhiều màu sắc của cuộc sống để tạo nên sự đồng cảm và chia sẻ. Với những ai đã từng sống ở những làng quê Nam bộ, câu chuyện của Nửa đời ngơ ngác trở nên rất đỗi thân quen. Ở đó có đôi bạn trẻ yêu nhau, sẵn sàng vượt qua những rào cản, phân chia giàu – nghèo để được có nhau.
Thu Lê (Ngọc Lan) con của bà Hai (Ái Như), một bà chủ đồn điền giàu có, trót yêu Tư Nhớ (Trí Quang) – một chàng trai nghèo sống bằng nghề làm thuê, làm mướn và trót chạy theo tiếng gọi của tình yêu nên bụng mang dạ chửa… Những tưởng trong “túp lều tranh, hai quả tim vàng” được sống êm ấm, hạnh phúc. Nhưng, bỗng dưng bị cướp mất đứa con gái cưng của mình, bà Hai trở nên tức giận, tìm mọi cách để đưa con gái trở về nhà, gả chồng giàu sang. Thế là Tư Nhớ bị công an bắt vì tội buôn lậu (do bà Hai thưa), phải ngồi tù, mang đầy thù hận bà Hai. Thu Lê vì nghĩa vợ chồng, đã không ngần ngại chạy vạy khắp nơi cầu xin đến kiệt sức, sẩy thai… và rồi bị bà Hai bắt về gả chồng, đi xuất ngoại. Tưởng chừng, khi đạt được những sắp xếp của mình, bà Hai trở nên vui sướng hơn, thế nhưng tất cả lại mở ra những nỗi buồn sâu thẳm hơn. Sống xa con, đã là một nỗi buồn, nhưng lại càng buồn hơn khi biết tin con gái của mình không thể sinh nổi một đứa cháu ngoại để bà bồng bế.
Chưa hết, đứa con gái Út - Thu Lý (do Hồng Ánh đóng) của bà, vì hiểu rõ ngọn ngành trong câu chuyện Tư Nhớ - Thu Lê nên cảm thương hoàn cảnh mất vợ, mất con của Tư Nhớ và dành trọn tình yêu, tuổi xuân của mình cho… anh rể hụt Tư Nhớ. Suốt 15 năm, Thu Lý vẫn ngày ngày qua lại nhà Tư Nhớ để thăm nom, chăm sóc, như thể muốn tự mình “mắc đền” cho anh. Có những lúc, ngỡ như tình yêu của Thu Lý trở nên vô vọng, bởi lúc nào Tư Nhớ cũng nổi cáu, nói năng cộc lốc với cô. Thế nhưng, chính thời gian là liều thuốc thử cho một tình yêu cao đẹp của Thu Lý dành cho Tư Nhớ, để cuối cùng cô nhận được lời đáp hạnh phúc. Và thời gian cũng hóa giải hận thù giữa chàng trai nghèo Tư Nhớ với bà Hai, mẹ vợ! Có thể nói, câu chuyện này đã gợi cho người xem nhiều suy ngẫm về cuộc sống. Ở đời, trời không phụ lòng người, mà chỉ thử thách con người coi có đủ nghị lực, sự kiên nhẫn và vững tin để vượt qua khó khăn hay không mà thôi!
3- Khi xem Nửa đời ngơ ngác, khán giả được gặp lại Hồng Ánh sau 2 năm vắng bóng trên sàn diễn. Với những ai đã từng xem qua các vở kịch về đề tài tình yêu, gia đình như: Thử yêu lần nữa, Màu của tình yêu, Cảm ơn mình đã yêu em và đặc biệt là Ba người đàn ông họ Lôi, khi xem Nửa đời ngơ ngác, chắc chắn sẽ có chung cảm nhận, dường như vai Thu Lý được tác giả Trần Mỹ Trang và Hoàng Thái Thanh viết cho chính Hồng Ánh vậy! Với cách diễn chân phương nhưng giàu cảm xúc của mình, Hồng Ánh đã phả vào nhân vật Thu Lý một chút bương bướng, cáu kỉnh của một cô gái quê, nhưng giàu cá tính, tình cảm và nghị lực. Cho nên, sau lần trở lại này, chắc chắn nhiều người muốn xem Hồng Ánh diễn nhiều hơn nữa.
Bên cạnh một Hồng Ánh xuất sắc, sự góp mặt của kiều nữ Ngọc Lan trong vai Thu Lê, chị của Thu Lý, cũng mang lại sự tươi trẻ cho Nửa đời ngơ ngác. Còn Trí Quang, một diễn viên điện ảnh lấn sân sang kịch, cũng ngày càng chững chạc hơn. Riêng “bà bầu”, đạo diễn, tác giả kiêm diễn viên Ái Như, thể hiện nhân vật bà Hai trau chuốt, chăm chút trong từng động tác, ánh nhìn, đã mang lại những khoảnh khắc sâu đậm cho người xem. Trong Nửa đời ngơ ngác, NSƯT Thành Hội chấp nhận lui về hậu trường để trao cơ hội cho các diễn viên trẻ có dịp thử sức và tỏa sáng.
_____________________________________________
Sân khấu kịch Hoàng Thái Thanh vừa ra mắt khán giả vở “Nửa đời ngơ ngác” (tác giả Trần Mỹ Trang, Hoàng Thái Thanh; đạo diễn NSƯT Thành Hội), dựa theo truyện ngắn “Chiều vắng” của nữ nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Vở diễn đã thực sự mang lại cho khán giả nhiều cảm xúc…
1- Vậy là một lần nữa, chất Nam bộ trong tác phẩm văn học của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư được những người làm sân khấu thành phố đưa lên sàn diễn. Từ Cánh đồng bất tận, rồi Dòng nhớ, nay đến Chiều vắng đã tạo nên chuỗi hình ảnh thật và đẹp của làng quê Nam bộ, cùng nét đẹp của cốt cách người dân Nam bộ.
Từ cái chất rặt Nam bộ trong truyện ngắn Chiều vắng của Nguyễn Ngọc Tư đã tạo nên chất men kích thích cho tác giả Trần Mỹ Trang, Hoàng Thái Thanh và đạo diễn NSƯT Thành Hội xây dựng nên một Nửa đời ngơ ngác thật thú vị. Rõ ràng trong tình hình sân khấu khủng hoảng trầm trọng kịch bản hay, việc dựa vào tác phẩm văn học để có được tác phẩm sân khấu hay là rất cần thiết. Khi xem Nửa đời ngơ ngác, những người yêu thích văn học vẫn cảm nhận được đâu đó những lời văn giản dị, chất phác của Nguyễn Ngọc Tư. Mặc dù, trong Nửa đời ngơ ngác, cách kể chuyện của Trần Mỹ Trang, Hoàng Thái Thanh và đạo diễn NSƯT Thành Hội có những lý giải khác và thêm vài nhân vật, nhưng vẫn giữ được “cái hồn, cái tứ” của Chiều vắng.
2- Nửa đời ngơ ngác đã mang đến cho khán giả nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. Trong đó có tình yêu, có thù hận, có thương, có ghét, rất nhiều màu sắc của cuộc sống để tạo nên sự đồng cảm và chia sẻ. Với những ai đã từng sống ở những làng quê Nam bộ, câu chuyện của Nửa đời ngơ ngác trở nên rất đỗi thân quen. Ở đó có đôi bạn trẻ yêu nhau, sẵn sàng vượt qua những rào cản, phân chia giàu – nghèo để được có nhau.
Thu Lê (Ngọc Lan) con của bà Hai (Ái Như), một bà chủ đồn điền giàu có, trót yêu Tư Nhớ (Trí Quang) – một chàng trai nghèo sống bằng nghề làm thuê, làm mướn và trót chạy theo tiếng gọi của tình yêu nên bụng mang dạ chửa… Những tưởng trong “túp lều tranh, hai quả tim vàng” được sống êm ấm, hạnh phúc. Nhưng, bỗng dưng bị cướp mất đứa con gái cưng của mình, bà Hai trở nên tức giận, tìm mọi cách để đưa con gái trở về nhà, gả chồng giàu sang. Thế là Tư Nhớ bị công an bắt vì tội buôn lậu (do bà Hai thưa), phải ngồi tù, mang đầy thù hận bà Hai. Thu Lê vì nghĩa vợ chồng, đã không ngần ngại chạy vạy khắp nơi cầu xin đến kiệt sức, sẩy thai… và rồi bị bà Hai bắt về gả chồng, đi xuất ngoại. Tưởng chừng, khi đạt được những sắp xếp của mình, bà Hai trở nên vui sướng hơn, thế nhưng tất cả lại mở ra những nỗi buồn sâu thẳm hơn. Sống xa con, đã là một nỗi buồn, nhưng lại càng buồn hơn khi biết tin con gái của mình không thể sinh nổi một đứa cháu ngoại để bà bồng bế.
Chưa hết, đứa con gái Út - Thu Lý (do Hồng Ánh đóng) của bà, vì hiểu rõ ngọn ngành trong câu chuyện Tư Nhớ - Thu Lê nên cảm thương hoàn cảnh mất vợ, mất con của Tư Nhớ và dành trọn tình yêu, tuổi xuân của mình cho… anh rể hụt Tư Nhớ. Suốt 15 năm, Thu Lý vẫn ngày ngày qua lại nhà Tư Nhớ để thăm nom, chăm sóc, như thể muốn tự mình “mắc đền” cho anh. Có những lúc, ngỡ như tình yêu của Thu Lý trở nên vô vọng, bởi lúc nào Tư Nhớ cũng nổi cáu, nói năng cộc lốc với cô. Thế nhưng, chính thời gian là liều thuốc thử cho một tình yêu cao đẹp của Thu Lý dành cho Tư Nhớ, để cuối cùng cô nhận được lời đáp hạnh phúc. Và thời gian cũng hóa giải hận thù giữa chàng trai nghèo Tư Nhớ với bà Hai, mẹ vợ! Có thể nói, câu chuyện này đã gợi cho người xem nhiều suy ngẫm về cuộc sống. Ở đời, trời không phụ lòng người, mà chỉ thử thách con người coi có đủ nghị lực, sự kiên nhẫn và vững tin để vượt qua khó khăn hay không mà thôi!
3- Khi xem Nửa đời ngơ ngác, khán giả được gặp lại Hồng Ánh sau 2 năm vắng bóng trên sàn diễn. Với những ai đã từng xem qua các vở kịch về đề tài tình yêu, gia đình như: Thử yêu lần nữa, Màu của tình yêu, Cảm ơn mình đã yêu em và đặc biệt là Ba người đàn ông họ Lôi, khi xem Nửa đời ngơ ngác, chắc chắn sẽ có chung cảm nhận, dường như vai Thu Lý được tác giả Trần Mỹ Trang và Hoàng Thái Thanh viết cho chính Hồng Ánh vậy! Với cách diễn chân phương nhưng giàu cảm xúc của mình, Hồng Ánh đã phả vào nhân vật Thu Lý một chút bương bướng, cáu kỉnh của một cô gái quê, nhưng giàu cá tính, tình cảm và nghị lực. Cho nên, sau lần trở lại này, chắc chắn nhiều người muốn xem Hồng Ánh diễn nhiều hơn nữa.
Bên cạnh một Hồng Ánh xuất sắc, sự góp mặt của kiều nữ Ngọc Lan trong vai Thu Lê, chị của Thu Lý, cũng mang lại sự tươi trẻ cho Nửa đời ngơ ngác. Còn Trí Quang, một diễn viên điện ảnh lấn sân sang kịch, cũng ngày càng chững chạc hơn. Riêng “bà bầu”, đạo diễn, tác giả kiêm diễn viên Ái Như, thể hiện nhân vật bà Hai trau chuốt, chăm chút trong từng động tác, ánh nhìn, đã mang lại những khoảnh khắc sâu đậm cho người xem. Trong Nửa đời ngơ ngác, NSƯT Thành Hội chấp nhận lui về hậu trường để trao cơ hội cho các diễn viên trẻ có dịp thử sức và tỏa sáng.
_____________________________________________
Thứ Năm, 2 tháng 9, 2010
Một chuyện hẹn hò...
Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư
Mưa rồi. Không phải là thứ mưa nhão, ướt, đẫm nước, dịu dàng mà Cóc từng quen thuộc, có cảm giác mưa hơi rát, trơ như một tiếng cười khan. Gió cũng lạ lẫm, chúng rào rào đuổi nhau trên cao, trên ngọn cây, mái nhà. Gần mặt đất là một khoảng không lặng phắc, cả cái lá bìm bìm đeo trên vách chòi cũng không thèm ve vẩy. Cóc hơi lo lắng, sáng này nghe người ta bơi xuồng rôm rả đua nhau đi mua mì gói, họ nói bão tới rồi. Có thùng mì dằn trong tủ, người Thổ Sầu chẳng cần chằng chống, ràng rịt nhà cửa, cũng bình thản qua bão cấp mười. Nghĩ tới đó, Cóc mắc cười.
Cóc ra cửa, ngó nghiêng. Mưa tạt ướt mặt. Đầm Sầu lặng ngắt. Trong màn mưa đục ngầu ngầu, những cái chòi lá nằm rải rác, thưa thớt, đờ đẫn. Bình thường, Đầm Sầu đã vắng người, vì đã qua mùa tôm cá, bây giờ lại thêm tin bão, đầm nước hoàn toàn hoang vu. Cóc thấy bão đã đến, thật gần.
Nhưng đôi người vẫn nằm kia, tỉnh bơ, lơ ngơ ngủ. Họ ra đây lúc xế chiều, khi trời vẫn còn một chùm nắng héo. Như thể họ tình cờ đi ngang qua căn chòi hoang này, tình cờ thấy người quen, và ghé lại. Người đàn ông chạy xuồng máy đến trước, phất áo quét sơ những bụi bặm, chửi cha mấy cái mạng nhện mắc trên tóc, sau đó nằm dài, nhịp chân, ca lửng tửng. Một hồi thì người phụ nữ tới, những nhát dầm của chị rất dè dặt, chần chừ. Và ngập ngừng, chị vẫn ngồi dưới xuồng, ngó xuống ngón chân:
- Ra đây để nói với anh, em… không thể… Có bão…
Anh cười, không nói gì, cầm tay chị, mơn man.
- Ừ, thì bão…
- Em sợ anh chờ nên mới ra nói anh hay. Có bão thiệt mà, anh.
Chị hụt hơi, bởi bàn tay nhỏ nhắn nhiều vết chai của mình vẫn bị nắm lấy, nâng niu. Từ đấy, không rời. Cóc ngó chị, nghĩ ngay, chị ta đã thua rồi, thua ngay từ ở trong bờ lá xa thẳm kia, khi quyết định hướng mũi xuồng ra đầm. Chắc mẻm, chị sẽ bước lên chòi. Cóc đếm một… hai… hai rưỡi… và cười, thấy chưa, thua rõ ràng.
Cóc cũng đã từng hẹn hò, nên Cóc biết. Nó bao gồm một chuỗi thua cuộc liên tục, mới đầu là sự choáng váng khi gặp gỡ, ra về, cảm giác thất bại sẽ đau nghiến lòng người ta, mắc mớ gì mình lại xao động dữ vậy cà, mình đâu có được xao động, mình đã không còn quyền xao động. Những lần gặp sau, thương nhớ sẽ thít chặt hơn. Đến một bữa, đàn ông bỏ nhỏ, “anh nhớ em quá, mình gặp riêng chỗ nào nghen”, ngay lập tức, người ta lắc đầu. Đàn ông vẫn cười, anh chờ em ở chỗ đó, chỗ đó, em không tới, chắc anh chết… Người ta thảng thốt, thôi, đừng chờ. Nhưng chính người ta lại chờ, đau đáu nghĩ về cuộc hẹn, lòng bảo không đi, không thể đi. Nhưng người ta bước xuống xuồng, bơi đến chỗ đó chỗ đó, nhưng đi một quãng khập khừng, lại muốn quay về, cắn môi nghĩ, thôi ra nói một câu để mắc công người ta kia chờ. Và sập bẫy. Trên đường về, cảm giác thua cuộc ấy rõ ràng hơn, người ta đay nghiến mình, tại sao mình lại đi, đã nói không gặp sao lại gặp? Đi, rồi sao nữa, ngày mai, tương lai?
Cóc đã từng hẹn hò, nên Cóc biết. Nặng nề. Thương tổn. Ngồi trong cái hốc nhà tối, nhìn ra, Cóc thấy ngậm ngùi, cho chị. Cóc biết chị, biết cả chồng chị, một người hay say, hay đứng phắt dậy giữa lúc nhậu, hỏi mấy thằng bạn, ê, đi với tao không ? Đám kia hí hửng hỏi đi đâu, anh ta cười phô hàm răng xếu xáo ra, “Đi đái!” rồi cười hơ hơ hơ, vô duyên dễ sợ. Chị thì ngồi đâu đó, chơi với thằng con mà dỏng lỗ tai lên nghe xem chồng có gọi gì không, nướng con cá khô, hay gọt thêm mấy trái cóc, trái ổi. Chị héo hắt, lam lũ, lúc nào cũng khô quắt, cả lúc chồng không đánh, chị cũng gồng lên như gánh một gánh vô hình. Cóc không biết là chị cũng dịu dàng, sạch sẽ và đầy sức sống như bây giờ, như đang ngồi kia, bối rối gật đầu, lắc đầu, buộc phải nói thì chỉ hai tiếng: “Dạ” và “Thôi”, mặc cho người yêu nói tuôn tuôn, những nhớ thương liên tu bất tận. Rồi miệng không nói bằng âm thanh nhưng lời vẫn ngọt ngào. Sau đó, thì ánh nhìn cũng nói, vòng tay cũng nói…
Cóc không thể kể tiếp, bởi vì nó phải lấy tay che mắt. Không thể kể, bởi kể ra người ta sẽ phát hiện ra nó đang dòm lén qua kẽ tay, sẽ phát hiện ra Cóc cũng là giống như những kẻ tầm thường, miệng nói đạo đức, chê mấy chuyện trai gái là hạ tiện, tục tĩu nhưng với bạn tình vẫn háo hức. Cóc đổ thừa tại bàn tay không khép lại được, nhưng nhờ nhìn lén, nó phát hiện ra chuyện không may. Xuồng trôi. Cả hai chiếc đều tuột dây, bởi những bàn tay buộc chúng đều bồn chồn. Cứ như xuồng cũng thực hiện cuộc hẹn hò khác, chúng đủng đỉnh rời nhau, trôi hấp háy xa xa, như chẳng hề quen biết. Cóc hoảng hồn, nhảy chồm lên, kêu “Xuồng trôi kìa! Xuồng trôi mất tiêu kìa!” Chỉ nghe chị yếu ớt nói, “Đừng anh… Có con cóc…” Cóc thở dài, bây giờ có con voi ở đây thì cũng vậy thôi. Nên xuồng cứ trôi, chậm rãi, nhơ nhởn, đến khi không còn nhìn thấy trong tầm mắt nữa.
Lúc người phụ nữ giật mình thức dậy, thảng thốt quờ kiếm tấm áo thì hai chiếc xuồng đã gặp nhau ở một bờ lá nào. Cũng có thể chúng bị gió xô dạt về hai hướng khác. Như lúc này, mưa cũng bị gió giật, xé bừa ra, tơi tả, tạt ướt cả bắp chân chị, dẫn cái lạnh chạy buốt sống lưng. Chị hoảng hồn, kêu lên từng tiếng rời:
- Trời ơi! Anh! Ai lấy xuồng mình rồi. Mất hết rồi.
Cóc mắc cười, mưa bão như vầy ai mà mò ra giữa đầm lấy xuồng. Nó trôi rồi, bà chị ơi. Tui kêu rã họng, mấy người không nghe, ráng chịu. Người đàn ông mệt phờ ngồi dậy, thò đầu ra mưa, ngó quanh quất, giọng mệt phờ, ờ ha, mất tiêu. Trôi mất tiêu rồi. Giọng chị bỗng nghẹn lại, em làm sao về nhà được đây? Anh cười cười, chụp lấy tay chị, về làm gì, ở lại với anh. Mắt chị lạc đi, em làm sao về nhà được, bão tới sát bên rồi. Anh cũng là bão vậy, thêm cơn bão nữa nghen, anh vẫn mơn trớn. Cóc hơi bực, hãy nhìn chị ta đi, chị đang lo lắng sắp té xỉu rồi kìa. Chốc nữa cơn bão tới, căn chòi này chắc chắn bay mất, may lắm thì còn trơ lại cái sàn đóng bằng vạc cau. Sau đó thì sao? Nếu sống qua bão, thì cũng bị lạnh teo, đói meo, bởi ở đây hoàn toàn không mì gói. Cóc cũng đang đói, bầy muỗi dự cảm được bão, chúng nấp sâu vào bẹ những đám lá quanh đầm. Anh đã nhận ra sự bất an của chị qua bàn tay mướt mồ hôi, anh cười, sau bão thì người ta sẽ thấy mình ở đây, họ sẽ ra rước mình, em lo gì. Câu nói đó đã dìm chị sâu hơn vào vô vọng, chị rớt nước mắt.
- Người ta sẽ thấy hai đứa mình …
Chị thảng thốt. Những ý nghĩ bỗng bời bời, xấp xãi chạy trên gương mặt tròn, tái ngắt. Cóc thấy chị ngó nó, mà không ngó nó. Trống rỗng, tuyệt vọng.
- Bà con sẽ nghĩ nầy nghĩ nọ…
- Thôi mà, em. Mình sẽ nói là dọc đường bị bão, tình cờ gặp.
- Người ta đồn rùm lên…
- Thôi đi, em.
- Em biết nói sao với con em bây giờ? Chị kêu lên, rúm lại, hức một tiếng, như ý nghĩ kia đã xuyên thẳng qua người. Anh nằm ngoẻo xuống, nửa như thật sự rã rời, nửa lại giống đang giễu cho vui. Nhưng chị không cười, chị vạch vách lá nhìn ra, như chiếc xuồng đang trốn ở đó, trêu cợt chị. Không có gì cả. Cóc ngó theo, nó cũng mong có một phép thần kỳ. Chị day vào, bắt gặp anh đang nhìn mình, giận dỗi, xa lạ. Cảm thấy mình hơi vô lý, chị cười, như ai đơm sẵn nụ cười, và chị gắn hờ lên miệng. Trời ơi, Cóc kêu lên, không vui mắc gì phải cười để chiều chuộng lòng nhau?
- Tại em sợ… Hồi xưa, em có nhỏ bạn. Đời nó buồn lắm, mẹ nó bị tù…
Anh cười khào, ứ hự, bất chấp mạng sống lặn lội hẹn hò trong mưa gió gầm gào, anh không chờ đợi để nghe câu chuyện lãng xẹt, chẳng dính gì tới chuyện tình mình. Nhưng chị vẫn kể, giọng thản nhiên, như thể câu chuyện đã làm chị bình tâm lại, như chuyện đó thì phải thì phải nói bằng ngữ điệu dửng dưng đó, bởi có phải chuyện của chị đâu, có phải nỗi đau của chị đâu.
- Mẹ nó làm giám đốc, nhưng thích cải lương, thích nghệ sĩ, xài nhiều tiền của công ty vô mấy chuyện hát hò. Có bữa, nghe Minh về hát bên Thổ Cường, bà chạy xe hơi gần hai trăm cây số để đem cho ông Minh mắc dịch đó ơ cá dứa kho tộ. Nhà báo người ta viết về vụ đó quá trời.
Anh lại mơn man cổ chân chị, bây giờ nó đã lạnh, cứng đờ như nước đá. Việc của anh là làm cho da thịt chị ấm lại, mềm ra, anh không đếm xỉa gì câu chuyện xa xôi đó, chỉ mỗi Cóc lắng nghe bi kịch của cuộc đời, bi kịch của đứa con bỏ nhà đi, vì xấu hổ, buồn tủi, không phải vì người mẹ ở tù mà vì ơ cá kho, không phải là ơ cá kho bình thường trên mỗi mâm cơm người ta hay mút mút, quẹt quẹt, mà ý nghĩ, ngoài ơ cái kho, phải còn cái gì nữa. Cái-gì đó thì ai cũng biết là cái-gì.
Cóc bỗng liên tưởng tới đứa con chị đang trốn bão trong căn nhà chỉ có mì gói, không dây chì, không bao cát. Nó sẽ qua khỏi cơn bão này, dù mái nhà có bay vèo, có đổ sập. Có gì đâu, bão lần nào cũng tan hoang, nhưng rồi sau bão, cả nhà nó sẽ bò ra từ gầm bộ ván ngựa, thu dọn, sắp xếp, cất lại cái nhà khác, nhỏ hơn, te tua, tuềnh toàng hơn. Đứa con sẽ đi qua cơn bão này gọn ơ vì mì gói đang có sẵn. Nhưng có một cơn bão khác mà cả đời nó cũng không đi khỏi, nó sẽ nhớ hoài chuyện mẹ nó cùng một người đàn ông xa lạ ở trong căn chòi giữa Đầm Sầu, khi ai nấy đều về nhà, về chỉ để nhìn nhau chứ không ngăn được cây đổ, nhà sập. Nhưng hai người đó không về, họ ở ngoài đầm, để làm gì thì không nói ra cũng biết làm gì.
Cóc muốn khóc, tội cho cái cảnh tận cùng tuyệt vọng của chị. Và tận cùng cô đơn, dù người đàn ông kia có (lại) siết chị vào lòng. Cóc mà là anh ta, Cóc chỉ ngồi im lặng, nghe câu chuyện của người bạn nào đó, nghe cái giọng dửng dưng, nhưng che tiếng tim người đang nhói. Đàn ông, trong máu có pha chất vô tâm, mà thằng cha này vô tâm hết chỗ nói, tới mức bi kịch “ơ cá kho” là của chị (ví dụ vậy, nghi nghi vậy) thì thằng chả cũng không biết cách nào để an ủi một tấm lòng đau.
Ngay cả tình yêu trong chị vừa giãy chết, anh ta cũng không biết, nên tay cứ miết mãi trên da chị, giờ đã lạnh như đồng. Mắt chị đã tắt ánh nhìn lấp lánh, cồn lên một chút thất vọng, một chút não nề. Đúng cái kiểu của Cóc khi người yêu bỏ về trước sau cuộc hẹn hò mây mưa. Lúc Cóc vẫn còn say ngủ. Cóc thức dậy, bạn tình đã nhảy xuống xuồng theo người ta vào trong xóm. Cóc chua chát, trời sanh nó có bộ da nhạy cảm, cái phổi nhạy cảm. Nó không trở về đất nữa. Căn chòi có bậc thang cũ, đuôi lá lệt phệt, che kín, con nước lên xuống đủ độ ẩm ướt, Cóc lấy làm nhà. Nó dần quên đời đau.
Để bữa nay chị lại là Cóc của một bữa xưa nào. Có thể thấy chị đang khóc lặng. Cóc ngó theo ánh nhìn của chị đang mông lung ngoài trời, cả Đầm Sầu là một khoảng mưa mờ và tối. Xa xa, đằng sau bờ lá, nhà chị ở đó, chữ nhà không bao gồm người chồng cười hơ hơ hơ, nhà-chị là đứa con đang ôm mền gối chui xuống dưới bộ ván mọt ăn lỗ chỗ như cái rổ, nằm chèo queo. Nhà-chị đang hỏi, không biết làm sao mà mẹ chưa về, rốt cuộc mẹ đi đâu? Nhà-chị không hề nghĩ, nếu biết mẹ đi đâu, làm gì nó sẽ bị bão quăng quật, hành hạ suốt đời.
Cóc lại gần chị hơn. Nó có thể nghe được tim chị bỗng đập rộn lên, tung phá những bức tường đang quây nhốt chị, ngạo nghễ trước cơn bão đang khoái trá lồng lên, hú hét. Cóc nghe thoáng một lời giã biệt, rất khẽ, hay là chị chẳng nói gì hết, chị nhảy ào xuống nước, nhanh như một cái nháy mắt, nhanh hơn cả khoảnh khắc Cóc đớp một con muỗi đói. Anh chồm theo, chẳng kịp ới lên, bàn tay chìa ra, chới với nhìn chị bươn bả vẹt sóng, nôn nả về phía bờ lá xa xăm. Cóc với ngó theo, màn mưa che khuất tầm nhìn, thấy cái đầu chị rướn cao, nhấp nhô như con rùa đang bơi, đầm thì xa, rộng, sóng đang cồn lên, giận dữ. Không biết chị có đủ sức để chạm tay vào bờ đất ?
*
Những ngày sau bão, tôi thường một mình ra Đầm Sầu, tự hỏi cơn gió nào đã hắt mẹ tôi khỏi xuồng, và nơi nào mẹ ngã xuống? Không đánh dấu được vào nước, tôi khắc lên be xuồng, gần lái, chỗ mẹ hay ngồi bơi.
Một lần, ghé lại căn chòi hoang, tôi thấy con cóc đang nhìn mình, như khóc. Hay vì tôi đang khóc, nên thấy vậy…
________________________________________________
Mưa rồi. Không phải là thứ mưa nhão, ướt, đẫm nước, dịu dàng mà Cóc từng quen thuộc, có cảm giác mưa hơi rát, trơ như một tiếng cười khan. Gió cũng lạ lẫm, chúng rào rào đuổi nhau trên cao, trên ngọn cây, mái nhà. Gần mặt đất là một khoảng không lặng phắc, cả cái lá bìm bìm đeo trên vách chòi cũng không thèm ve vẩy. Cóc hơi lo lắng, sáng này nghe người ta bơi xuồng rôm rả đua nhau đi mua mì gói, họ nói bão tới rồi. Có thùng mì dằn trong tủ, người Thổ Sầu chẳng cần chằng chống, ràng rịt nhà cửa, cũng bình thản qua bão cấp mười. Nghĩ tới đó, Cóc mắc cười.
Cóc ra cửa, ngó nghiêng. Mưa tạt ướt mặt. Đầm Sầu lặng ngắt. Trong màn mưa đục ngầu ngầu, những cái chòi lá nằm rải rác, thưa thớt, đờ đẫn. Bình thường, Đầm Sầu đã vắng người, vì đã qua mùa tôm cá, bây giờ lại thêm tin bão, đầm nước hoàn toàn hoang vu. Cóc thấy bão đã đến, thật gần.
Nhưng đôi người vẫn nằm kia, tỉnh bơ, lơ ngơ ngủ. Họ ra đây lúc xế chiều, khi trời vẫn còn một chùm nắng héo. Như thể họ tình cờ đi ngang qua căn chòi hoang này, tình cờ thấy người quen, và ghé lại. Người đàn ông chạy xuồng máy đến trước, phất áo quét sơ những bụi bặm, chửi cha mấy cái mạng nhện mắc trên tóc, sau đó nằm dài, nhịp chân, ca lửng tửng. Một hồi thì người phụ nữ tới, những nhát dầm của chị rất dè dặt, chần chừ. Và ngập ngừng, chị vẫn ngồi dưới xuồng, ngó xuống ngón chân:
- Ra đây để nói với anh, em… không thể… Có bão…
Anh cười, không nói gì, cầm tay chị, mơn man.
- Ừ, thì bão…
- Em sợ anh chờ nên mới ra nói anh hay. Có bão thiệt mà, anh.
Chị hụt hơi, bởi bàn tay nhỏ nhắn nhiều vết chai của mình vẫn bị nắm lấy, nâng niu. Từ đấy, không rời. Cóc ngó chị, nghĩ ngay, chị ta đã thua rồi, thua ngay từ ở trong bờ lá xa thẳm kia, khi quyết định hướng mũi xuồng ra đầm. Chắc mẻm, chị sẽ bước lên chòi. Cóc đếm một… hai… hai rưỡi… và cười, thấy chưa, thua rõ ràng.
Cóc cũng đã từng hẹn hò, nên Cóc biết. Nó bao gồm một chuỗi thua cuộc liên tục, mới đầu là sự choáng váng khi gặp gỡ, ra về, cảm giác thất bại sẽ đau nghiến lòng người ta, mắc mớ gì mình lại xao động dữ vậy cà, mình đâu có được xao động, mình đã không còn quyền xao động. Những lần gặp sau, thương nhớ sẽ thít chặt hơn. Đến một bữa, đàn ông bỏ nhỏ, “anh nhớ em quá, mình gặp riêng chỗ nào nghen”, ngay lập tức, người ta lắc đầu. Đàn ông vẫn cười, anh chờ em ở chỗ đó, chỗ đó, em không tới, chắc anh chết… Người ta thảng thốt, thôi, đừng chờ. Nhưng chính người ta lại chờ, đau đáu nghĩ về cuộc hẹn, lòng bảo không đi, không thể đi. Nhưng người ta bước xuống xuồng, bơi đến chỗ đó chỗ đó, nhưng đi một quãng khập khừng, lại muốn quay về, cắn môi nghĩ, thôi ra nói một câu để mắc công người ta kia chờ. Và sập bẫy. Trên đường về, cảm giác thua cuộc ấy rõ ràng hơn, người ta đay nghiến mình, tại sao mình lại đi, đã nói không gặp sao lại gặp? Đi, rồi sao nữa, ngày mai, tương lai?
Cóc đã từng hẹn hò, nên Cóc biết. Nặng nề. Thương tổn. Ngồi trong cái hốc nhà tối, nhìn ra, Cóc thấy ngậm ngùi, cho chị. Cóc biết chị, biết cả chồng chị, một người hay say, hay đứng phắt dậy giữa lúc nhậu, hỏi mấy thằng bạn, ê, đi với tao không ? Đám kia hí hửng hỏi đi đâu, anh ta cười phô hàm răng xếu xáo ra, “Đi đái!” rồi cười hơ hơ hơ, vô duyên dễ sợ. Chị thì ngồi đâu đó, chơi với thằng con mà dỏng lỗ tai lên nghe xem chồng có gọi gì không, nướng con cá khô, hay gọt thêm mấy trái cóc, trái ổi. Chị héo hắt, lam lũ, lúc nào cũng khô quắt, cả lúc chồng không đánh, chị cũng gồng lên như gánh một gánh vô hình. Cóc không biết là chị cũng dịu dàng, sạch sẽ và đầy sức sống như bây giờ, như đang ngồi kia, bối rối gật đầu, lắc đầu, buộc phải nói thì chỉ hai tiếng: “Dạ” và “Thôi”, mặc cho người yêu nói tuôn tuôn, những nhớ thương liên tu bất tận. Rồi miệng không nói bằng âm thanh nhưng lời vẫn ngọt ngào. Sau đó, thì ánh nhìn cũng nói, vòng tay cũng nói…
Cóc không thể kể tiếp, bởi vì nó phải lấy tay che mắt. Không thể kể, bởi kể ra người ta sẽ phát hiện ra nó đang dòm lén qua kẽ tay, sẽ phát hiện ra Cóc cũng là giống như những kẻ tầm thường, miệng nói đạo đức, chê mấy chuyện trai gái là hạ tiện, tục tĩu nhưng với bạn tình vẫn háo hức. Cóc đổ thừa tại bàn tay không khép lại được, nhưng nhờ nhìn lén, nó phát hiện ra chuyện không may. Xuồng trôi. Cả hai chiếc đều tuột dây, bởi những bàn tay buộc chúng đều bồn chồn. Cứ như xuồng cũng thực hiện cuộc hẹn hò khác, chúng đủng đỉnh rời nhau, trôi hấp háy xa xa, như chẳng hề quen biết. Cóc hoảng hồn, nhảy chồm lên, kêu “Xuồng trôi kìa! Xuồng trôi mất tiêu kìa!” Chỉ nghe chị yếu ớt nói, “Đừng anh… Có con cóc…” Cóc thở dài, bây giờ có con voi ở đây thì cũng vậy thôi. Nên xuồng cứ trôi, chậm rãi, nhơ nhởn, đến khi không còn nhìn thấy trong tầm mắt nữa.
Lúc người phụ nữ giật mình thức dậy, thảng thốt quờ kiếm tấm áo thì hai chiếc xuồng đã gặp nhau ở một bờ lá nào. Cũng có thể chúng bị gió xô dạt về hai hướng khác. Như lúc này, mưa cũng bị gió giật, xé bừa ra, tơi tả, tạt ướt cả bắp chân chị, dẫn cái lạnh chạy buốt sống lưng. Chị hoảng hồn, kêu lên từng tiếng rời:
- Trời ơi! Anh! Ai lấy xuồng mình rồi. Mất hết rồi.
Cóc mắc cười, mưa bão như vầy ai mà mò ra giữa đầm lấy xuồng. Nó trôi rồi, bà chị ơi. Tui kêu rã họng, mấy người không nghe, ráng chịu. Người đàn ông mệt phờ ngồi dậy, thò đầu ra mưa, ngó quanh quất, giọng mệt phờ, ờ ha, mất tiêu. Trôi mất tiêu rồi. Giọng chị bỗng nghẹn lại, em làm sao về nhà được đây? Anh cười cười, chụp lấy tay chị, về làm gì, ở lại với anh. Mắt chị lạc đi, em làm sao về nhà được, bão tới sát bên rồi. Anh cũng là bão vậy, thêm cơn bão nữa nghen, anh vẫn mơn trớn. Cóc hơi bực, hãy nhìn chị ta đi, chị đang lo lắng sắp té xỉu rồi kìa. Chốc nữa cơn bão tới, căn chòi này chắc chắn bay mất, may lắm thì còn trơ lại cái sàn đóng bằng vạc cau. Sau đó thì sao? Nếu sống qua bão, thì cũng bị lạnh teo, đói meo, bởi ở đây hoàn toàn không mì gói. Cóc cũng đang đói, bầy muỗi dự cảm được bão, chúng nấp sâu vào bẹ những đám lá quanh đầm. Anh đã nhận ra sự bất an của chị qua bàn tay mướt mồ hôi, anh cười, sau bão thì người ta sẽ thấy mình ở đây, họ sẽ ra rước mình, em lo gì. Câu nói đó đã dìm chị sâu hơn vào vô vọng, chị rớt nước mắt.
- Người ta sẽ thấy hai đứa mình …
Chị thảng thốt. Những ý nghĩ bỗng bời bời, xấp xãi chạy trên gương mặt tròn, tái ngắt. Cóc thấy chị ngó nó, mà không ngó nó. Trống rỗng, tuyệt vọng.
- Bà con sẽ nghĩ nầy nghĩ nọ…
- Thôi mà, em. Mình sẽ nói là dọc đường bị bão, tình cờ gặp.
- Người ta đồn rùm lên…
- Thôi đi, em.
- Em biết nói sao với con em bây giờ? Chị kêu lên, rúm lại, hức một tiếng, như ý nghĩ kia đã xuyên thẳng qua người. Anh nằm ngoẻo xuống, nửa như thật sự rã rời, nửa lại giống đang giễu cho vui. Nhưng chị không cười, chị vạch vách lá nhìn ra, như chiếc xuồng đang trốn ở đó, trêu cợt chị. Không có gì cả. Cóc ngó theo, nó cũng mong có một phép thần kỳ. Chị day vào, bắt gặp anh đang nhìn mình, giận dỗi, xa lạ. Cảm thấy mình hơi vô lý, chị cười, như ai đơm sẵn nụ cười, và chị gắn hờ lên miệng. Trời ơi, Cóc kêu lên, không vui mắc gì phải cười để chiều chuộng lòng nhau?
- Tại em sợ… Hồi xưa, em có nhỏ bạn. Đời nó buồn lắm, mẹ nó bị tù…
Anh cười khào, ứ hự, bất chấp mạng sống lặn lội hẹn hò trong mưa gió gầm gào, anh không chờ đợi để nghe câu chuyện lãng xẹt, chẳng dính gì tới chuyện tình mình. Nhưng chị vẫn kể, giọng thản nhiên, như thể câu chuyện đã làm chị bình tâm lại, như chuyện đó thì phải thì phải nói bằng ngữ điệu dửng dưng đó, bởi có phải chuyện của chị đâu, có phải nỗi đau của chị đâu.
- Mẹ nó làm giám đốc, nhưng thích cải lương, thích nghệ sĩ, xài nhiều tiền của công ty vô mấy chuyện hát hò. Có bữa, nghe Minh về hát bên Thổ Cường, bà chạy xe hơi gần hai trăm cây số để đem cho ông Minh mắc dịch đó ơ cá dứa kho tộ. Nhà báo người ta viết về vụ đó quá trời.
Anh lại mơn man cổ chân chị, bây giờ nó đã lạnh, cứng đờ như nước đá. Việc của anh là làm cho da thịt chị ấm lại, mềm ra, anh không đếm xỉa gì câu chuyện xa xôi đó, chỉ mỗi Cóc lắng nghe bi kịch của cuộc đời, bi kịch của đứa con bỏ nhà đi, vì xấu hổ, buồn tủi, không phải vì người mẹ ở tù mà vì ơ cá kho, không phải là ơ cá kho bình thường trên mỗi mâm cơm người ta hay mút mút, quẹt quẹt, mà ý nghĩ, ngoài ơ cái kho, phải còn cái gì nữa. Cái-gì đó thì ai cũng biết là cái-gì.
Cóc bỗng liên tưởng tới đứa con chị đang trốn bão trong căn nhà chỉ có mì gói, không dây chì, không bao cát. Nó sẽ qua khỏi cơn bão này, dù mái nhà có bay vèo, có đổ sập. Có gì đâu, bão lần nào cũng tan hoang, nhưng rồi sau bão, cả nhà nó sẽ bò ra từ gầm bộ ván ngựa, thu dọn, sắp xếp, cất lại cái nhà khác, nhỏ hơn, te tua, tuềnh toàng hơn. Đứa con sẽ đi qua cơn bão này gọn ơ vì mì gói đang có sẵn. Nhưng có một cơn bão khác mà cả đời nó cũng không đi khỏi, nó sẽ nhớ hoài chuyện mẹ nó cùng một người đàn ông xa lạ ở trong căn chòi giữa Đầm Sầu, khi ai nấy đều về nhà, về chỉ để nhìn nhau chứ không ngăn được cây đổ, nhà sập. Nhưng hai người đó không về, họ ở ngoài đầm, để làm gì thì không nói ra cũng biết làm gì.
Cóc muốn khóc, tội cho cái cảnh tận cùng tuyệt vọng của chị. Và tận cùng cô đơn, dù người đàn ông kia có (lại) siết chị vào lòng. Cóc mà là anh ta, Cóc chỉ ngồi im lặng, nghe câu chuyện của người bạn nào đó, nghe cái giọng dửng dưng, nhưng che tiếng tim người đang nhói. Đàn ông, trong máu có pha chất vô tâm, mà thằng cha này vô tâm hết chỗ nói, tới mức bi kịch “ơ cá kho” là của chị (ví dụ vậy, nghi nghi vậy) thì thằng chả cũng không biết cách nào để an ủi một tấm lòng đau.
Ngay cả tình yêu trong chị vừa giãy chết, anh ta cũng không biết, nên tay cứ miết mãi trên da chị, giờ đã lạnh như đồng. Mắt chị đã tắt ánh nhìn lấp lánh, cồn lên một chút thất vọng, một chút não nề. Đúng cái kiểu của Cóc khi người yêu bỏ về trước sau cuộc hẹn hò mây mưa. Lúc Cóc vẫn còn say ngủ. Cóc thức dậy, bạn tình đã nhảy xuống xuồng theo người ta vào trong xóm. Cóc chua chát, trời sanh nó có bộ da nhạy cảm, cái phổi nhạy cảm. Nó không trở về đất nữa. Căn chòi có bậc thang cũ, đuôi lá lệt phệt, che kín, con nước lên xuống đủ độ ẩm ướt, Cóc lấy làm nhà. Nó dần quên đời đau.
Để bữa nay chị lại là Cóc của một bữa xưa nào. Có thể thấy chị đang khóc lặng. Cóc ngó theo ánh nhìn của chị đang mông lung ngoài trời, cả Đầm Sầu là một khoảng mưa mờ và tối. Xa xa, đằng sau bờ lá, nhà chị ở đó, chữ nhà không bao gồm người chồng cười hơ hơ hơ, nhà-chị là đứa con đang ôm mền gối chui xuống dưới bộ ván mọt ăn lỗ chỗ như cái rổ, nằm chèo queo. Nhà-chị đang hỏi, không biết làm sao mà mẹ chưa về, rốt cuộc mẹ đi đâu? Nhà-chị không hề nghĩ, nếu biết mẹ đi đâu, làm gì nó sẽ bị bão quăng quật, hành hạ suốt đời.
Cóc lại gần chị hơn. Nó có thể nghe được tim chị bỗng đập rộn lên, tung phá những bức tường đang quây nhốt chị, ngạo nghễ trước cơn bão đang khoái trá lồng lên, hú hét. Cóc nghe thoáng một lời giã biệt, rất khẽ, hay là chị chẳng nói gì hết, chị nhảy ào xuống nước, nhanh như một cái nháy mắt, nhanh hơn cả khoảnh khắc Cóc đớp một con muỗi đói. Anh chồm theo, chẳng kịp ới lên, bàn tay chìa ra, chới với nhìn chị bươn bả vẹt sóng, nôn nả về phía bờ lá xa xăm. Cóc với ngó theo, màn mưa che khuất tầm nhìn, thấy cái đầu chị rướn cao, nhấp nhô như con rùa đang bơi, đầm thì xa, rộng, sóng đang cồn lên, giận dữ. Không biết chị có đủ sức để chạm tay vào bờ đất ?
*
Những ngày sau bão, tôi thường một mình ra Đầm Sầu, tự hỏi cơn gió nào đã hắt mẹ tôi khỏi xuồng, và nơi nào mẹ ngã xuống? Không đánh dấu được vào nước, tôi khắc lên be xuồng, gần lái, chỗ mẹ hay ngồi bơi.
Một lần, ghé lại căn chòi hoang, tôi thấy con cóc đang nhìn mình, như khóc. Hay vì tôi đang khóc, nên thấy vậy…
________________________________________________
Thứ Sáu, 23 tháng 7, 2010
Bụi đường nháo nhác…
Nguyễn Ngọc Tư
Bạn chiêm bao thấy mình nằm chết trên một con đường. Thật ra cũng có thể coi là ngủ, vì điệu bộ khá giống nhau: nằm thanh thản im lìm. Bạn chọn chết vì nó có lý hơn (chỉ thấy người điên mới nằm giữa đường mà ngủ, hic). Và vì duy lý nên bạn không cho là điềm báo, tỉnh dậy chỉ nghĩ, té ra ta sợ đường sá đến nỗi bị ám cả trong mơ.
Một khảo sát gần đây cho thấy thời gian người ta ngủ trên giường bằng với thời gian đi trên đường, bạn nghĩ họ mô tả phần nào đời bạn. Cuộc sống gì mà cứ mở con mắt ra là dắt xe rời khỏi nhà, rồi cứ chạy nháo nhác. Có trăm việc phải chạy: đưa đón con, tới chợ, tới quán cà phê bù khú với bạn bè, tới cơ quan, đi công tác, về quê… Một bữa ngó đồng hồ công-tơ-mét phát hiện ra mình đi mỗi ngày ngót năm mươi cây số. Phải chi đường trường thoáng đãng thì còn vẩn vơ ngó lau sậy, phải ngoạn mục như con đường chênh vênh ngoắt ngoéo bên miệng vực, như đường xuyên rừng bướm bay như vãi, hay như con đường chạy thẳng tắp bên dưới tán cao su mùa lá rụng… thì hay quá, bạn đi miết cũng không biết chán là gì. Nhưng cung đường ngày ngày bạn phải len lỏi ngược xuôi chỉ loanh quanh trong thành phố với những đoạn bị đào xới, những ngã tư nghẽn cứng xe, những quãng chìm trong nước… Khói khỏi phải nói, bụi khỏi phải tả, ồn ả khỏi phải than.
Thành ra đi đường là một việc mệt nhọc và cơ cực. Tỉnh táo lắm giỏi giang lắm mới né khỏi nước miếng của người đi trước, mới không xảy ra va quẹt, không cán phải xác chuột hay một đống cơm cặn nát, không bị kẹt cứng giữa đám đông, hay sụp vào một ổ trâu… Về tới cỗng nhà mới dám thở hắt ra tin mình còn sống. Một mình mạo hiểm đã sợ, nhưng mỗi ngày bạn vẫn phải chở trẻ con theo. Che chắn bề nào cũng thấy rủi. Sợ cả cái cùi bắp, vỏ dưa hấu mà người ta vô tư rải trên mặt đường, bởi bánh xe tránh được thì bạn cũng vấp vào câu hỏi của trẻ con, sao người lớn không tốt như lời mẹ dạy… Đôi buổi đón con tới trước nhà rồi mới sực nhớ suốt quãng đường về mình không nói câu nào với thằng nhỏ, trời đất! Chung một xe mà đi như những thực thể cô đơn.
Khi đó thằng con bạn đầu mới vô mẫu giáo. Giờ nhà bạn có thêm đứa trẻ nữa, lịch trình đón đưa mỗi ngày mỗi dài thêm. Than rằng đời ta không hơn cái giấy gói bánh mì, xao xác mãi trên đường, nhừ tử nát thành bụi rồi vẫn bám đường mà xao xác. Ba năm trước đi Sài Gòn chơi, gọi chị bạn cà phê chị từ chối gọn, "chị đã lỡ về nhà rồi em ơi…" bạn nghe giận lắm, không ngờ giờ mình đã trở thành bản sao, nghĩ tới chuyện lộn ra đường nghe ngán ngược, như chị Kiều bị cụ Du cho gặp lại anh Trọng, sau những trầm luân(*).
Bạn nghĩ một phần do mình già, chớ hồi trẻ khoái xách xe ra đường tí tớn. Hồi trẻ đường phố là hơi thở, lầm lỗi gì mà nghe má dọa cấm không cho đi đâu thì sợ lắm, thà chịu bị đánh chục roi còn hơn. Nhưng những con đường xưa không còn nữa, những con đường nhỏ nằm mơ màng dưới bóng cây. Nhà thấp. Hàng quán thưa. Cỏ liếm láp bên lề. Chuông xe đạp leng keng vừa đủ để vui tai. Bụi đất đỏ cuộn là đà sau chiếc dép mòn bén lẹm của người gánh ve chai. Buổi tan trường trên đường lô xô áo dài, nón lá.
Giờ thành phố cũng còn một vài con đường còn sót chút đỉnh thơ mộng cũ, đôi khi bạn cũng vòng qua đó dù không có công chuyện gì. Thằng bạn nhỏ hết hồn khi nghe con mẹ nó cao hứng hát ử ừ ư, chứ ngày thường ra đường mặt mẹ quạu đeo sẵn sàng sừng sộ…
Ngán ngẩm nào ám khói vô bộ não đến cả chiêm bao cũng thấy nằm buồn xo giữa đường. Nhưng có vài lần giấc mơ ấy lặp lại. Lúc đó bạn buộc phải nằm một chỗ trong nhà gần hai tháng trời, ban đêm khi mọi người ngủ hết nghe tiếng xe máy chạy qua nhà để lại một vệt âm thanh dài và ấm, bỗng dưng bạn như nhìn thấy góc đường có bà già thường ngồi bán xôi vò, thấy một chú mặt mũi bậm trợn hồng hộc đuổi theo và kêu cô ơi quên gạt cái chống chân kìa và ở chỗ chốt đèn đỏ có anh cảnh sát giao thông đang thổi bong bóng giùm cho tụi trẻ con…
Chiêm bao đó bạn giải mã bằng chữ nhớ. Xa mới nhớ, lẽ thường…
(*) Sao tui không thấy đó là kết thúc có hậu, trời?????
______________________________________________________
Bạn chiêm bao thấy mình nằm chết trên một con đường. Thật ra cũng có thể coi là ngủ, vì điệu bộ khá giống nhau: nằm thanh thản im lìm. Bạn chọn chết vì nó có lý hơn (chỉ thấy người điên mới nằm giữa đường mà ngủ, hic). Và vì duy lý nên bạn không cho là điềm báo, tỉnh dậy chỉ nghĩ, té ra ta sợ đường sá đến nỗi bị ám cả trong mơ.
Một khảo sát gần đây cho thấy thời gian người ta ngủ trên giường bằng với thời gian đi trên đường, bạn nghĩ họ mô tả phần nào đời bạn. Cuộc sống gì mà cứ mở con mắt ra là dắt xe rời khỏi nhà, rồi cứ chạy nháo nhác. Có trăm việc phải chạy: đưa đón con, tới chợ, tới quán cà phê bù khú với bạn bè, tới cơ quan, đi công tác, về quê… Một bữa ngó đồng hồ công-tơ-mét phát hiện ra mình đi mỗi ngày ngót năm mươi cây số. Phải chi đường trường thoáng đãng thì còn vẩn vơ ngó lau sậy, phải ngoạn mục như con đường chênh vênh ngoắt ngoéo bên miệng vực, như đường xuyên rừng bướm bay như vãi, hay như con đường chạy thẳng tắp bên dưới tán cao su mùa lá rụng… thì hay quá, bạn đi miết cũng không biết chán là gì. Nhưng cung đường ngày ngày bạn phải len lỏi ngược xuôi chỉ loanh quanh trong thành phố với những đoạn bị đào xới, những ngã tư nghẽn cứng xe, những quãng chìm trong nước… Khói khỏi phải nói, bụi khỏi phải tả, ồn ả khỏi phải than.
Thành ra đi đường là một việc mệt nhọc và cơ cực. Tỉnh táo lắm giỏi giang lắm mới né khỏi nước miếng của người đi trước, mới không xảy ra va quẹt, không cán phải xác chuột hay một đống cơm cặn nát, không bị kẹt cứng giữa đám đông, hay sụp vào một ổ trâu… Về tới cỗng nhà mới dám thở hắt ra tin mình còn sống. Một mình mạo hiểm đã sợ, nhưng mỗi ngày bạn vẫn phải chở trẻ con theo. Che chắn bề nào cũng thấy rủi. Sợ cả cái cùi bắp, vỏ dưa hấu mà người ta vô tư rải trên mặt đường, bởi bánh xe tránh được thì bạn cũng vấp vào câu hỏi của trẻ con, sao người lớn không tốt như lời mẹ dạy… Đôi buổi đón con tới trước nhà rồi mới sực nhớ suốt quãng đường về mình không nói câu nào với thằng nhỏ, trời đất! Chung một xe mà đi như những thực thể cô đơn.
Khi đó thằng con bạn đầu mới vô mẫu giáo. Giờ nhà bạn có thêm đứa trẻ nữa, lịch trình đón đưa mỗi ngày mỗi dài thêm. Than rằng đời ta không hơn cái giấy gói bánh mì, xao xác mãi trên đường, nhừ tử nát thành bụi rồi vẫn bám đường mà xao xác. Ba năm trước đi Sài Gòn chơi, gọi chị bạn cà phê chị từ chối gọn, "chị đã lỡ về nhà rồi em ơi…" bạn nghe giận lắm, không ngờ giờ mình đã trở thành bản sao, nghĩ tới chuyện lộn ra đường nghe ngán ngược, như chị Kiều bị cụ Du cho gặp lại anh Trọng, sau những trầm luân(*).
Bạn nghĩ một phần do mình già, chớ hồi trẻ khoái xách xe ra đường tí tớn. Hồi trẻ đường phố là hơi thở, lầm lỗi gì mà nghe má dọa cấm không cho đi đâu thì sợ lắm, thà chịu bị đánh chục roi còn hơn. Nhưng những con đường xưa không còn nữa, những con đường nhỏ nằm mơ màng dưới bóng cây. Nhà thấp. Hàng quán thưa. Cỏ liếm láp bên lề. Chuông xe đạp leng keng vừa đủ để vui tai. Bụi đất đỏ cuộn là đà sau chiếc dép mòn bén lẹm của người gánh ve chai. Buổi tan trường trên đường lô xô áo dài, nón lá.
Giờ thành phố cũng còn một vài con đường còn sót chút đỉnh thơ mộng cũ, đôi khi bạn cũng vòng qua đó dù không có công chuyện gì. Thằng bạn nhỏ hết hồn khi nghe con mẹ nó cao hứng hát ử ừ ư, chứ ngày thường ra đường mặt mẹ quạu đeo sẵn sàng sừng sộ…
Ngán ngẩm nào ám khói vô bộ não đến cả chiêm bao cũng thấy nằm buồn xo giữa đường. Nhưng có vài lần giấc mơ ấy lặp lại. Lúc đó bạn buộc phải nằm một chỗ trong nhà gần hai tháng trời, ban đêm khi mọi người ngủ hết nghe tiếng xe máy chạy qua nhà để lại một vệt âm thanh dài và ấm, bỗng dưng bạn như nhìn thấy góc đường có bà già thường ngồi bán xôi vò, thấy một chú mặt mũi bậm trợn hồng hộc đuổi theo và kêu cô ơi quên gạt cái chống chân kìa và ở chỗ chốt đèn đỏ có anh cảnh sát giao thông đang thổi bong bóng giùm cho tụi trẻ con…
Chiêm bao đó bạn giải mã bằng chữ nhớ. Xa mới nhớ, lẽ thường…
(*) Sao tui không thấy đó là kết thúc có hậu, trời?????
______________________________________________________
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)