Nguyễn Ngọc Tư
Sanh cùng tuổi Nhêm, xuống tóc thọ giới cùng một ngày, lúc loay hoay vận y cà sa, Sanh bất ngờ thò tay vào sờ soạng giữa hai đùi Nhêm rồi cười tí tởn, “Nhỏ xíu. Vậy tui làm anh nghen”.
Nhêm đỏ mặt, gật đầu, vì Sanh khôn ngoan, dữ dằn và già dặn hơn. Những đứa trẻ như Sanh luôn già trước tuổi. Cha hứng nước thốt nốt rơi từ ngọn cây xuống đất gãy cổ, mẹ nó đi cõng hàng lậu thuê qua biên giới, chết đuối giữa dòng nước lũ, chỉ một năm sau. Sanh tựa cửa nhìn những người thân mình bước đi vào sớm mai và cũng trong những buổi sớm mai ứa nắng trên đồng, họ về bằng chiếc cáng với hơi thở đã tắt. Sanh sống với chú. Nhà chú cũng nghèo, thím chia thức ăn cho con mình trước, tới Sanh chỉ còn miếng cơm cháy với chút nước cá kho. Sanh vào chùa để “kiếm ăn”, như lời nó nói, là chọn lựa giữa đói triền miên và đói nửa buổi.
Tui còn cha mẹ đâu mà tu báo hiếu, Sanh nói thẳng. Vào những buổi chiều đói rã rời, long đầu óc, đã có lúc Nhêm rủ Sanh lén lút ăn cái gì đó, Sanh lắc đầu, tui phải giữ giới để trả ơn buổi sáng và trưa Phật cho tui ăn no. Và Sanh để mặc Nhêm lăn lộn với cái bụng trống rỗng cồn cào, nó ngáy pho pho. Đói cũng là một thói quen của Sanh, từ tuổi lên mười.
Nhêm thì nghĩ mình không bao giờ có thể quen được những cơn đói buổi chiều tà. Khi nhà hàng bên kia đường bắt đầu có khách. Gió từ mé biển cứ đòng đưa mùi thức ăn trên đầu, làm nó nghẹt thở như thể đó là dây thòng lọng. Cái vòng rào loang lổ nước sơn và cánh cổng rơi vài mảng gạch không thể chặn lại mùi dầu cháy tỏi trong chảo. Sanh nhìn Nhêm suốt buổi tối cứ thều thào nhỏ dãi, nó giễu cợt, “Nhắm có ở chùa được tới năm sau không, ê ?”.
Nhưng Nhêm đã ở chùa ba năm. Thời gian đủ để nó bình tâm, thôi quay quắt trước những ngọn gió trần tục ban chiều. Ba năm cũng đủ cho những nhà hàng, quán ăn phục vụ khách du lịch kịp quây kín, như bóp nghẹt ngôi chùa. Hành trình khất thực có chút thay đổi, Sanh và Nhêm không còn đi trên lộ nhựa, dọc bờ cát ven biển, dưới những hàng cây thốt nốt im lìm. Phum sóc đã dạt xa lên đồng, co cụm gần chân núi Cóc. Và những thức ăn mà bà con dâng thường không có những mùi thơm của những quán xá bên đường.
Nên thỉnh thoảng, khất thực xong, bọn Sanh vòng về con đường bắt đầu ướp nắng để thưởng thức sự vương vất của những món ăn xa lạ. Các cô gái với những bộ trang phục buông tuồng trễ nải tụm lại ngó hai nhà sư trẻ cười cợt, “Lục ơi, tu chi cho khổ vậy, về nhà ôm em sướng hơn nhiều…”. Nhêm cúi đầu bước đi, chân líu ríu. Sanh ung dung đằng sau, mắt lại đầy giễu cợt, “Thấy chịu không nổi thì về nhà đi, Nhêm”.
Lần về thăm nhà gần nhất, mẹ Nhêm cũng nói vậy, sau khi chắp tay vái nó ngoài sân, “sư về nhà luôn đi, ba năm rồi còn gì…”. Giọng bà mỏng, ríu dần lại khi cha nó bước ra, cha muốn nó tu đạt tới tỳ kheo, muốn nó được cả sóc kính nể và trọng vọng, điều mà cho dù có nhiều đất ruộng và trâu, cha Nhêm cũng không có được. Ông đành đặt hy vọng vào Nhêm.
- Na Thi vẫn chưa về đâu - Cha nói.
Cha biết cách để Nhêm tự nguyện ở lại chùa, học kinh kệ. Na Thi chưa về. Cô nhận lời phụ bán quần áo cho thím A Phò khi Nhêm vào chùa được hơn năm. Trưa cuối gặp nhau bên hè, đá chân vào đám cỏ mần trầu, cô bần thần vuốt mãi mớ tóc xoăn tít, Nhêm đi rồi em ở lại đây buồn lắm, ngang qua nhà Nhêm em nhớ quá. Em đi vài năm em về, lúc đó Nhêm cũng hoàn tục rồi. Ngoéo tay, ngón tay cũng run, nóng bỏng. Rồi Nhêm lại khăn gói tới chùa xa, không gặp Na Thi lần nào, về nhà thấy mẹ Na Thi buông nón chắp tay lạy đằng xa, bà nói ngay, Na Thi có về, nó hỏi thăm sư có khỏe.
Trong lúc Nhêm trông Na Thi về thì biết đâu Na Thi cũng chờ đợi nó, ý nghĩ đó làm những câu kinh Phạn cứ vuột khỏi môi, trôi tuột. Lục Cả hơi buồn. Vài đệ tử nhập thế, chùa chỉ còn Lục Cả, Nhêm và Sanh. Hai sa di cứ loay hoay với những bài tụng sơ đẳng nhất, nên Lục Cả cô đơn với những kiến thức Phật pháp sâu sắc, bao la, cô đơn với những pho kinh thư đồ sộ. Ông hầu như không kỳ vọng vào đám trẻ, một vô thần, níu Phật để trốn chạy cái đói, cái ghẻ lạnh, một ngóng mãi phía cổng chùa.
Khuôn viên chùa rộng mênh mông, người ít, mà lá cây rụng vô kể, cỏ cũng nhiều. Suốt ba tháng nhập hạ, sư trẻ dường như chỉ tụng niệm và làm cỏ. Cỏ lớn nhanh, mãnh liệt đến nỗi họ phạt cỏ đằng trước thì sau lưng đã lún phún mầm xanh. Tưởng tượng, chỉ một tháng họ không cầm dao làm lụng, cỏ sẽ vươn tận thềm chính điện, lút đầu người. Vậy nên lúc cắm đầu thổi lửa vào đống cỏ khô, Sanh nhằn, sao mà tui ghét trời mưa quá.
Nhêm cũng ghét. Giữa lễ nhập hạ cho tới xuất hạ, chỉ là những cơn mưa dài, lướt thướt. Hai đứa quẩn quanh trong chùa, cắm mặt vô những trang kinh, mắc chán. Sanh học lóm được nghề làm tranh kiếng, nên xin Lục Cả ít tiền mua vật liệu, mày mò làm. Những lúc ấy Nhêm thật sự cô đơn, Sanh bỏ quên Nhêm để cắm mặt vẽ bức chân dung cha mẹ nó. Vài lần Sanh đã ném cọ đi khi phác thảo hình ảnh cha mẹ mình ngồi thảnh thơi, an nhàn trong căn nhà gạch khang trang. Nó dằn vặt vì đấy không phải là chân dung của những người thân, không giống họ chút nào, cả căn nhà, cả nếp áo phẳng phiu, tươi rói. Rốt cuộc bức tranh thờ dang dở, vì trong ký ức Sanh đã không còn lưu giữ những khuôn mặt cũ. Điều đó làm nó tuyệt vọng. Sanh hay rủ Nhêm xách cuốc chim đi làm cỏ ở gần rào sau, từ đó nhìn lên cánh đồng dưới chân núi là những phum nhỏ nằm quẩn dưới chòm cây xanh rì, khói bếp len qua những tầng lá thành những sợi lam mỏng vờn, phai mãi vào nền trời. Thốt nốt dọc theo các con đường nhỏ ngoằn ngoèo vẽ vào cánh đồng những nét cô đơn, vết mực đậm và đầy đặn ở phía này và bắt đầu mỏng vút cuối tầm nhìn. Dưới trăng chiều, vài con trâu quay tít cái đuôi xua những con ruồi xanh lè, to bằng đầu ngón tay cứ chực xông vào. Thấy Sanh níu vào rào, Nhêm hỏi, “Nhớ nhà hả ?”. Dứt mắt khỏi sóc Tà Cóc đang im lìm dưới làn mưa mỏng, quay vào sala, giọng Sanh quạu quọ, “Có nhà đâu mà nhớ”.
Nhêm sợ Sanh, nó có thể rất hiền lành, tử tế, nhưng Nhêm nói điều gì đó nhắc nhớ tuổi thơ buồn bã, và Sanh nổi khùng lên. Nhưng làm sao Nhêm biết chuyện nào buồn, chuyện nào không ? Bởi vậy, hai đứa hay hục hặc nhau vì những chuyện không đâu, thí dụ Nhêm buồn tình lấy hơpâm gõ bài “chim sáo”, hai gáo dừa mới lộp cộp đã bị Sanh đá văng lông lốc, ai mà biết lúc người ta khiêng cha Sanh từ ngoài đồng về, ông chủ lò nấu đường vẫn dửng dưng ngồi gõ hơpâm cho hết bài, rồi mới thủng thẳng phủi đít đứng lên, “Chết rồi hả? Thôi, tiền còn nợ tao coi như xóa bỏ”. Những chiều Sanh ngồi trước sala, lặng lẽ nhìn bồ đề rụng lá, Lục Cả thở dài, có lẽ ông thất vọng vì nhà chùa không làm lành được những khối tổn thương trong lòng Sanh, cũng như bất lực trước một xã hội tổn thương, những giá trị luân lý đục ngầu bên ngoài cánh cổng.
Ở đó cũng có đám người đang ghét cay ghét đắng mưa rơi. Khách du lịch thưa thớt. Gió biển ướt rượt thổi qua dãy nhà hàng, khách sạn vắng người, những cô gái không lượn lờ ngoài sân nữa mà co cụm trong nhà, hết giũa móng tay tới sơn móng chân, hết tỉa chân mày đến se lông mặt. Rồi sự lười nhác trễ nãi biến mất, họ tản đi khi người đàn bà cho vay tiền góp, lăn cái thân nặng chịch vì mang cả ký lô son phấn trên mặt đứng trước nhà hàng tru tréo gọi Lan Huệ, Sầu, Ai ơi. Mấy chục chiếc vòng chất gần đến cổ tay kêu leng keng mỗi khi bà chuyển động.
Nhờ âm thanh đó, cùng với dáng người thấp lé đé các con nợ luôn phát hiện bà từ xa, và họ biến mất. Cô cũng tạt vào chùa vào một bữa âm thanh những chiếc vòng xủng xẻng đã quá gần. Te tái vào ngồi ở thềm sala, cô dáo dác nói, cho ngồi chút chơi nghen. Nhưng mặt cô không có vẻ là chơi, căng ra khi bóng người qua cổng. Sanh mỉa mai, có trốn nợ thì trốn chỗ khác, ở đây là chỗ tu hành. Cô độp ngay, giọng cố kìm lại nên nhỏ mà rắn đanh.
- Ủa, đây là chỗ từ bi mà, mắc gì tôi không được vô. Ừ, trốn nợ đó. Hay là Lục… cho tiền đi, trả nợ xong tôi không ghé đây nữa.
Nói rồi cô phủi đít dợm đứng lên, nhưng mớ âm thanh leng keng vẫn còn quanh quẩn ngoài kia. Cô trùng trình ngó Sanh, “chùa này đâu phải của Lục, mắc gì tôi sợ”. Cô ngồi lại, điệu bộ lỳ ra, vẻ thách thức.
Những ngày sau, cô lại tới. Cô nhận ra một chỗ nương náu an toàn, nơi mà mọi lời mắng chửi rủa sả không vọng đến, hoặc hoặc vói theo một cách yếu ớt. Chùa không hẳn là thiêng liêng với họ nhưng là sức mạnh tinh thần của tộc người. Ai cũng biết điều đó. Họ đã chứng kiến những cái sroc nghèo xơ xác, những ngôi nhà cột cặm trống trước trống sau nhưng ngôi chùa thì luôn luôn rực rỡ. Đó là lý do Nhêm ở đây, cha muốn nó là một con người rực rỡ. Đó là lý do Sanh ở đây, nó không bao giờ đói dưới sự rực rỡ này. Đó là lý do cô ở đây, cộng đồng người trong sroc kia sẵn sàng thấm máu vào áo mình để giữ cái rực rỡ tồn tại trong thế giới đức tin của họ.
Cũng không tìm được lý do khác cho việc cô gái lui tới chùa. Cô chẳng hề yêu thích ai ở đây, cái cách nói chuyện khinh khỉnh, sấn sổ, ngạo ngược của cô nói lên điều đó. Nhưng Lục Cả luôn bất an, ông luôn sai sư trẻ làm lụng mỗi khi cô nhẩn nha lại. Và ba tháng hạ của năm mười bảy tuổi, họ đã làm rất nhiều việc, lợp lại mái sala, sơn một số chi tiết trong chính điện, cuốc đất mảnh vườn sau để gieo cải, quét lá khuôn viên chùa. Cô luôn lẽo đẽo đi theo, hỏi những câu ngớ ngẩn, thí dụ, sao không đốn bỏ cây bồ đề luôn để khỏi quét lá cho mắc công? Sao bức tranh này không sơn màu xanh mà là màu vàng? Sao nền chính điện cao dữ vậy? Lục Cả nhiều lúc cũng buồn cười, ông nói, tụi tôi làm không mệt bằng nghe cô hỏi. Cô rụt cổ cười. Nhêm cảm giác, nếu bóc mảng son phấn ra, mặt cô sẽ lành và trong như em gái nó.
Chắc cô cũng bằng tuổi ấy, mười sáu, hoặc nhỏ hơn. Sanh hỏi tuổi, cô vặt vẹo, “Lục rảnh quá thì đi tụng kinh, xoi mói chuyện của tôi làm gì?”. Sanh xúi Nhêm hỏi thăm tên, quê quán cô gái này, Sanh nói “con nhỏ đó ghét sư, tại hôm trước sư đuổi…”.
Nhưng Nhêm cũng không khá hơn, hỏi, cô chỉ vào khoảng sân, châm chọc:
- Cỏ.
Người nhà chùa xem đó là tên của cô. Cỏ bằng tuổi Na Thi, mười bảy. Đương nhiên là từ nơi khác đến. Lục Cả nói, những đứa con gái làm nghề này chỉ đổi chỗ cho nhau. Con gái ở đây thì bôn ba xứ người mua vui cho thiên hạ bằng đuôi mắt cuối mày, và ngược lại. Chúng làm nên một cuộc nổi trôi buồn bã. Nhêm bỗng liên tưởng tới Na Thi mỗi khi nhìn Cỏ cố che mảng da thịt bằng cách kéo cái áo ngắn ngủn nằm vắt vẻo nửa lưng trên.
Nỗi nhớ Na Thi đã lạt đi rất nhiều, Nhêm áy náy lắm. Sau lễ xuất hạ, trời vẫn còn nhập nhòa mưa. Nhưng bọn Nhêm không bỏ bất cứ buổi khất thực nào, dù là đi dưới mưa. Không hẳn vì những thức ăn cúng dường hai sư có được sau một buổi vòng tay ôm bát, mà vì nỗi nhớ những nẻo đường, hàng cây, bờ đá… Ba tháng quẩn chân vườn chùa, bỗng dưng thấy mọi thứ đều thay đổi, lạ lẫm, và trò đùa của các cô tiếp viên rảnh rỗi ngày càng tai quái hơn, có lần qua quán “Duyên Quê”, một cô môi đỏ trút vào bát họ ít thức ăn. Quay lưng đi một quãng, Cỏ lao theo giằng lấy bát, hắt xuống đất. Mớ thịt đã bị băm nát nằm vãi trên sân. Cỏ hằn học hỏi :
- Thịt rắn đó. Muốn phá giới sao?
Các cô khác đấm vào lưng nhau cười ngặt nghẽo. Sanh ngó sững cô, cái nhìn ánh lên chút dịu dàng, hàm ơn. Về tới cổng chùa rồi Nhêm vẫn còn ngơ ngác. Nó sợ. Những người không có đức tin sẵn sàng báng bổ đức tin. Nhưng Sanh vẫn thích đi trên con đường đang còng lưng gánh những quán bia, nhà hàng, nên ngày nào nó cũng kéo Nhêm vòng lại. Ngày nào cũng thấy Cỏ ngồi chán chường ở quầy bar trong quán, nét mặt, khóe môi, bàn tay… tất cả chi tiết trên người cô buông lơi, trễ nãi, cảm giác mọi thứ đang rời nhau và trôi đi. Cả nụ cười mỉm khi nhìn thấy người nhà chùa cũng là nụ cười đang trôi vô định. Nhưng hành trình đột ngột thay đổi, Sanh không đi qua đó thêm một lần nào, vì một buổi trưa ngang qua cuộc tiễn đưa, thấy Cỏ đang chèo kéo quấn vào đám đàn ông sắp lên xe, trong cái khói nắng mùa hạ. Mắt còn đậu lại trong khi chân vẫn liên tục bước, sư trẻ thấy Cỏ ngó theo, thoáng chênh chao.
Cô không ghé chùa nữa, vì mùa khô bắt đầu quay lại, khách lác đác đến tắm biển, uống bia. Buổi chiều, sư trẻ đi nhổ những dây mướp đã chết khô trên bờ rào, dáo dác ngó về phía cổng, ai bước vào hai đứa cũng thất vọng thở hắt ra.
Ngày cuối cùng của mùa hạ, người trong sroc mượn sân chùa làm lễ cúng trăng. Cỏ ghé chơi lúc sắp khuya rồi. Khỏi nói Nhêm mừng như thế nào, đến nỗi, nó tự hỏi, gặp Na Thi, nó có mừng được bằng cỡ đó không. Sanh không tỏ thái độ gì, dửng dưng ngậm ngọn cỏ vung vinh trên môi, “ủa, tối nay không ở nhà chơi với tụi nhà giàu?”, Cỏ cười, “mắc mớ gì tới Lục?” rồi lảng đi, lại gần Nhêm, coi người ta bắt mấy đứa nhỏ ăn cốm dẹp, theo thông tục. Hồi nhỏ, Nhêm cũng được đút cốm dẹp, khi người ta vuốt lưng, hỏi, năm nay muốn gì, nó gần như òa khóc, “mắc tiểu quá, con muốn đi tiểu”. Năm đó nắng dai, lúa bị khô háp trên đồng, hành không đặng củ, cả sroc cứ đổ thừa tại Nhêm.
Giờ thì mấy đứa nhỏ cũng trợn trạo ngốn cốm dẹp và nói thích lúa, thích gạo. Điều đó làm Nhêm buồn cười, trẻ con không thích đồ chơi đẹp, quần áo đẹp thì thôi, lúa gạo mà làm gì. Chắc là cha mẹ chúng đã dạy trước, Nhêm cũng từng buộc phải học thuộc lòng. Chỉ là tụi nó bây giờ khôn ngoan hơn, và không bị mắc tiểu giữa chừng, như Nhêm. Đang kể chuyện vẩn vơ thì sương trên đuôi lá bồ đề rụng xuống trán, Nhêm giật mình.
Không thấy Cỏ ngồi bên cạnh nữa. Sanh đã kín đáo lôi xểnh cô ra phía sau sala, chỗ những dây bìm bìm leo xum xuê trên mái chuồng gà bỏ hoang. Nỗi nhớ, sự ghen hờn, xót xa, niềm kiêu hãnh giày bừa trong lòng Sanh làm nó như mê đi. Cỏ chỉ cười nhẹ, xấp xãi bước theo, vẻ mặt không ngạc nhiên chút nào. Hoặc cô đã chờ đợi điều này lâu, nên chỉ thở cồn cào như một con sóng nhỏ khi tay và môi Sanh bắt đầu uống ngấu lấy cô. Thằng con trai đó đi qua những cơn đói nhưng chưa bao giờ ngưng sống, như cỏ của những mùa trăng ướt.
Nhêm tìm thấy Sanh đang đứng đối mặt với khoảng tường, y cà sa căng tròn, bọc lấy thân thể Cỏ. Cô chỉ còn đôi chân, và khuôn mặt, phần còn lại của cơ thể đã tan biến. Bóng trăng lấp ló chồm vào đôi người lấp ló. Nhêm chết sững và nỗi tức giận nào đó ứa ra bưng mắt, buốt những đầu ngón tay, nó hồng hộc chạy về phía chánh điện, chỗ Lục Cả đang tụng khúc cầu an.
Sanh rời khỏi chùa vào chiều hôm sau, hoàn toàn không có một nghi lễ hoàn tục nào đưa tiễn. Ngang qua quán rượu, Sanh dừng lại chờ rất lâu mới thấy Cỏ ơ hờ bước ra, Sanh chụp níu lấy tay :
- …Đi với tôi nghen ?!
- Đi với Lục thì lấy gì ăn? - Cỏ hắt tay Sanh, lạnh lùng hỏi lại.
Không biết, ngay việc bây giờ đi về đâu Sanh còn không biết. Có thể đi làm thuê, làm mướn ở một nơi xa xôi nào đó, đào đất, trèo thốt nốt lấy nước, làm cửu vạn hay vác những bộ tranh kiếng bán dạo khắp nẻo đường. Sanh nuốt thất vọng quay đi. Đám con gái trong quán thò đầu ra cửa sổ, nhìn theo cái lưng gù gù như cõng đá, tru lên thảm thiết, trời ơi, Lục đừng đi, Lục mà đi thì tụi tui phải chung tiền cho con quỷ sứ này, phải biết Lục dễ dụ dỗ vậy, tụi này không đánh cuộc… Sanh khựng lại một vài giây, rồi nó gần như bỏ chạy, nó cảm thấy mình tắt thở rồi. Chết trước khi những cơn đói ập đến trừng phạt nó, vì sự bội tín, vô ơn với Đức Thích Ca.
Những ngọn gió cuối mùa Nam còn sót lại đưa tin thắng cuộc của cô tiếp viên đi nhanh. Người đàn bà cho bạc góp hể hả đòi được món nợ cũ, ghé chùa nói với Lục Cả, “Riết rồi không thấy người nữa, chỉ thấy mấy thứ giống người...”, rồi day mắt về phía sư trẻ đang quét lá giữa sân chùa vắng, “may nhờ lục Nhêm tu tập tử tế…”.
Nhêm nghe được, cười khan, nỗi buồn cào cấu rát lòng, sao người ra đi lại là Sanh mà không phải nó, sao cô gái đó chọn Sanh? Hỏi hỏi và hỏi. Trời thì cao và xanh xao.
_____________________________________________________
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà văn Nam Bộ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà văn Nam Bộ. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 29 tháng 3, 2011
Thứ Ba, 1 tháng 3, 2011
Mưa Vĩnh Hưng
Tản văn
Nguyễn Ngọc Tư
Đám mây đen ướt sũng nước nằm chắn ngang phía con đường đang vút tới, như một cánh cửa đóng sập xuống. Vĩnh Hưng đằng trước. Cột cây số nói vậy. Nhưng sấm chớp thì nói đi nữa sẽ gặp mưa ướt mèm, có đáng không?
Bạn đã đối diện với câu hỏi đó hàng trăm lần trong đời, "Có đáng không?". Gã đó có đáng cho ta ba chấm (*) không, chuyện đổ vỡ nhỏ đó có đáng cho ta buồn không, thất bại đó có đáng cho ta ngã gục không… Và "có đáng không" nhiều lúc được hiểu như "nơi đó có gì hay mà ta phải cực thân dữ vậy?". Đó là những khi bạn trên đường gió bụi, phải dắt chiếc xe cán đinh thất thểu đi tìm chỗ vá, phải nằm queo trong căn phòng trọ mốc meo không điện không nước cửa không chốt gài, phải thấy mình đang ngun ngút bốc hơi trong nắng lửa, và gió cát tát vào mắt…
Do dự vặn vẹo làm bạn mệt phờ, nó muốn bạn bỏ dở cuộc đi, ru ầu ơ chăn gối ấm ví dầu tắm nước nóng… Có khi nó thắng. Cũng có khi bạn kháng cự bằng tất cả những gì bạn có, đây này đồi chè đây này suối nước nóng, và những cánh đồng triền miên hoa cải, nhưng nhiều lúc bạn chỉ có mỗi cái tên, một chấm nhỏ trên bản đồ. Và từng ấy cũng đủ. Những Khâu Băng, Rừng Lạnh, Khau Phạ, Cành Nàng, Đồng Bụt, Thứ Mười Một… Những cái tên gợi cảm, xa xăm, sâu thẳm như được gọi lên từ một miền trời khác. Những cái tên khiến bạn thèm ăn chúng, hít thở chúng. Những cái tên mời mọc bạn lên đường và giữ bạn trên đường.
Và bạn chưa bao giờ thất vọng, ngay cả nơi đó khô rốc gió Lào, lèo tèo vài hàng quán nhỏ, bụi mù đỏ và không một bóng cây. Có lẽ thất vọng thường đi kèm lời hứa, nhưng bạn hầu như chẳng nhận được lời hứa nào. Chúng chỉ như bảo, tôi đây, đến với tôi đi, tôi có gì á, tới đây rồi biết. Như Vĩnh Hưng, không thể hiện chút gì về mình ngoài cái tên cheo leo nơi biên giới. Ở chỗ cách Vĩnh Hưng bảy cây số, thực sự cái bạn đang có chỉ mưa là mưa. Không, tận hai cơn mưa, chúng kẹp bạn ở giữa. Tạt vô một căn nhà bên đường trốn ướt, bạn vuốt nước mưa trên mặt, thấy Có Đáng Không nhăn nhở chập chờn.
Nhưng nó biến mất tăm, kể từ bạn ngó ông già đang nằm ngủ bộ vạc trước nhà. Chân buông thõng xuống, cái quần cộc rộng lồng gió phất phơ, hồn nhiên để lộ những cơ bắp chảy nhão. Ông già ngáy đều, nghe trong mưa có tiếng lật phật của môi. Bộ điệu nhẹ nhỏm như thể giấc ngủ đến rất tình cờ, như thể ông già đang ngồi đợi ngắm mưa thì buồn ngủ quá nhẹ nhàng lăn ra vạc, bỏ trời đất bơ vơ.
Cửa nhà mở toang. Ghé đụt mưa cả buổi chỉ có một chị ló đầu ra ngó, cười tươi rồi lại biến mất, bên trong tiếng trẻ con ríu ran. Ông già nằm không cục cựa, giấc mơ trưa trôi giữa cơn run rẩy của đất trời. Con chó nằm cạnh cái tủ thờ chỉ ngóc đầu lên ngó rồi gối đầu lên chân lim dim. Mấy cây bàng xòe tán che kín mặt sân, lá rụng chở mưa xuống đất cho mưa đỡ đau.
Bạn nín thở rón rén bỏ đi. Bạn sợ chút nữa đây con chó sẽ sủa những âm thanh hằn học và ông già bị đánh thức, trẻ con trong nhà sẽ ùa ra hỏi hau háu ủa dì ở đâu mà đi tới đây, Vĩnh Hưng chán thí mồ mà chơi gì? Tụi nhỏ sẽ không bao giờ tin bạn tìm được thiên đường ở đây, ngay nhà chúng.
Tụi nhỏ không bao giờ hiểu cái cảm giác thanh bình này đáng giá bao nhiêu, và bạn phải đi xa bao nhiêu mới gặp. Có những nơi trên dãi đất này, nó đẹp không phải vì cảnh đẹp. Bên ngoài thềm nhà đó cũng là xóm làng mênh mông, đi lòng vòng cả buổi bạn không gặp một nét mặt thăm dò, không nhìn thấy sự dè dặt, thù hằn, không có ai dõi mắt theo, không một tiếng động nào chát chúa. Bình yên lẩn khuất trong từng nắm mưa lâm thâm, trong bộ điệu lừng khừng nửa trôi nửa dừng của mấy chiếc tắc rán giữa sông, trong cái barie chỗ vọng gác biên giới được anh lính biên phòng nào lơ đãng kéo chếch lên, như không còn gì ngăn cách ta và bạn, trong mưa này. Vài bà già làm công quả trong chánh điện chùa Nổi đang rị mọ lau mấy cái chân đèn, bỗng có bà dừng tay bồn chồn bới củ tỏi lại búng tóc sương, khi nghe tiếng ho từ ngôi nhà sàn bên kia màn mưa - chỗ ông thầy trụ trì chùa đang ở. Chẳng hiểu sao bạn nghĩ tới một mối tình thầm, man mác, trắc trở. Chắc tại mưa khiến xui…
Lúc trở về ngang qua cái nhà mà mình khi nãy ghé qua, thấy bộ vạc trống trơn. Chắc là ông già nghe lạnh nên tỉnh dậy mất rồi. Vĩnh Hưng như một giấc mơ, chỉ mưa là thật…
(*) …
______________________________________________________
Nguyễn Ngọc Tư
Đám mây đen ướt sũng nước nằm chắn ngang phía con đường đang vút tới, như một cánh cửa đóng sập xuống. Vĩnh Hưng đằng trước. Cột cây số nói vậy. Nhưng sấm chớp thì nói đi nữa sẽ gặp mưa ướt mèm, có đáng không?
Bạn đã đối diện với câu hỏi đó hàng trăm lần trong đời, "Có đáng không?". Gã đó có đáng cho ta ba chấm (*) không, chuyện đổ vỡ nhỏ đó có đáng cho ta buồn không, thất bại đó có đáng cho ta ngã gục không… Và "có đáng không" nhiều lúc được hiểu như "nơi đó có gì hay mà ta phải cực thân dữ vậy?". Đó là những khi bạn trên đường gió bụi, phải dắt chiếc xe cán đinh thất thểu đi tìm chỗ vá, phải nằm queo trong căn phòng trọ mốc meo không điện không nước cửa không chốt gài, phải thấy mình đang ngun ngút bốc hơi trong nắng lửa, và gió cát tát vào mắt…
Do dự vặn vẹo làm bạn mệt phờ, nó muốn bạn bỏ dở cuộc đi, ru ầu ơ chăn gối ấm ví dầu tắm nước nóng… Có khi nó thắng. Cũng có khi bạn kháng cự bằng tất cả những gì bạn có, đây này đồi chè đây này suối nước nóng, và những cánh đồng triền miên hoa cải, nhưng nhiều lúc bạn chỉ có mỗi cái tên, một chấm nhỏ trên bản đồ. Và từng ấy cũng đủ. Những Khâu Băng, Rừng Lạnh, Khau Phạ, Cành Nàng, Đồng Bụt, Thứ Mười Một… Những cái tên gợi cảm, xa xăm, sâu thẳm như được gọi lên từ một miền trời khác. Những cái tên khiến bạn thèm ăn chúng, hít thở chúng. Những cái tên mời mọc bạn lên đường và giữ bạn trên đường.
Và bạn chưa bao giờ thất vọng, ngay cả nơi đó khô rốc gió Lào, lèo tèo vài hàng quán nhỏ, bụi mù đỏ và không một bóng cây. Có lẽ thất vọng thường đi kèm lời hứa, nhưng bạn hầu như chẳng nhận được lời hứa nào. Chúng chỉ như bảo, tôi đây, đến với tôi đi, tôi có gì á, tới đây rồi biết. Như Vĩnh Hưng, không thể hiện chút gì về mình ngoài cái tên cheo leo nơi biên giới. Ở chỗ cách Vĩnh Hưng bảy cây số, thực sự cái bạn đang có chỉ mưa là mưa. Không, tận hai cơn mưa, chúng kẹp bạn ở giữa. Tạt vô một căn nhà bên đường trốn ướt, bạn vuốt nước mưa trên mặt, thấy Có Đáng Không nhăn nhở chập chờn.
Nhưng nó biến mất tăm, kể từ bạn ngó ông già đang nằm ngủ bộ vạc trước nhà. Chân buông thõng xuống, cái quần cộc rộng lồng gió phất phơ, hồn nhiên để lộ những cơ bắp chảy nhão. Ông già ngáy đều, nghe trong mưa có tiếng lật phật của môi. Bộ điệu nhẹ nhỏm như thể giấc ngủ đến rất tình cờ, như thể ông già đang ngồi đợi ngắm mưa thì buồn ngủ quá nhẹ nhàng lăn ra vạc, bỏ trời đất bơ vơ.
Cửa nhà mở toang. Ghé đụt mưa cả buổi chỉ có một chị ló đầu ra ngó, cười tươi rồi lại biến mất, bên trong tiếng trẻ con ríu ran. Ông già nằm không cục cựa, giấc mơ trưa trôi giữa cơn run rẩy của đất trời. Con chó nằm cạnh cái tủ thờ chỉ ngóc đầu lên ngó rồi gối đầu lên chân lim dim. Mấy cây bàng xòe tán che kín mặt sân, lá rụng chở mưa xuống đất cho mưa đỡ đau.
Bạn nín thở rón rén bỏ đi. Bạn sợ chút nữa đây con chó sẽ sủa những âm thanh hằn học và ông già bị đánh thức, trẻ con trong nhà sẽ ùa ra hỏi hau háu ủa dì ở đâu mà đi tới đây, Vĩnh Hưng chán thí mồ mà chơi gì? Tụi nhỏ sẽ không bao giờ tin bạn tìm được thiên đường ở đây, ngay nhà chúng.
Tụi nhỏ không bao giờ hiểu cái cảm giác thanh bình này đáng giá bao nhiêu, và bạn phải đi xa bao nhiêu mới gặp. Có những nơi trên dãi đất này, nó đẹp không phải vì cảnh đẹp. Bên ngoài thềm nhà đó cũng là xóm làng mênh mông, đi lòng vòng cả buổi bạn không gặp một nét mặt thăm dò, không nhìn thấy sự dè dặt, thù hằn, không có ai dõi mắt theo, không một tiếng động nào chát chúa. Bình yên lẩn khuất trong từng nắm mưa lâm thâm, trong bộ điệu lừng khừng nửa trôi nửa dừng của mấy chiếc tắc rán giữa sông, trong cái barie chỗ vọng gác biên giới được anh lính biên phòng nào lơ đãng kéo chếch lên, như không còn gì ngăn cách ta và bạn, trong mưa này. Vài bà già làm công quả trong chánh điện chùa Nổi đang rị mọ lau mấy cái chân đèn, bỗng có bà dừng tay bồn chồn bới củ tỏi lại búng tóc sương, khi nghe tiếng ho từ ngôi nhà sàn bên kia màn mưa - chỗ ông thầy trụ trì chùa đang ở. Chẳng hiểu sao bạn nghĩ tới một mối tình thầm, man mác, trắc trở. Chắc tại mưa khiến xui…
Lúc trở về ngang qua cái nhà mà mình khi nãy ghé qua, thấy bộ vạc trống trơn. Chắc là ông già nghe lạnh nên tỉnh dậy mất rồi. Vĩnh Hưng như một giấc mơ, chỉ mưa là thật…
(*) …
______________________________________________________
Thứ Hai, 14 tháng 2, 2011
Địa đàng không quên
Truyện ngắn của MẠC CAN
Tôi sinh ra trên sông Tiền - còn có một tên khác là sông Bảo Định - thuộc tỉnh Định Tường, thường gọi là Mỹ Tho, nay là tỉnh Tiền Giang. Vì nghề nghiệp, tôi đã đi và sống nhiều nơi, về các tỉnh thành khác. Không hiểu sao tôi cứ hay nhớ các rạp chiếu bóng ở những nơi từng đi qua. Các huyện xa xôi hẻo lánh có vài rạp chiếu bóng nhỏ không khí trầm lặng buồn hiu, mỗi tuần chỉ chiếu một hai suất, dù vậy mỗi khi ở đó tôi vẫn hay chờ vô coi chiếu bóng. Mỹ Tho có rạp chiếu bóng ở giữa con phố khá đẹp nhìn ra bờ sông lớn. Khi ở Sài Gòn, tôi quen rong chơi các đường phố và vẫn thích đi coi chiếu bóng. Tôi khoái nhất là các rạp chiếu bóng ở phía trước để tấm panô vẽ tuồng phim bằng bột màu coi rất hấp dẫn. Rồi tôi sưu tập những tờ chương trình quảng cáo, giới thiệu phim, có hình tài tử dán vô một cuốn tập dầy. Thường lệ vào buổi chiều mát mẻ, đông đảo khán giả tới mua vé, đứng chờ vô rạp, con nít chạy giỡn chung quanh, người lớn nói chuyện vui nhộn. Có lẽ nhờ vậy, nhờ ghiền coi chiếu bóng, tôi vừa coi vừa vô tình học lỏm cách diễn và cách quay phim hồi nào không hay, cho nên khi lớn lên có dịp gặp người đi săn ảnh chọn vai cho phim nào đó, tôi cũng được mời làm diễn viên điện ảnh, vai… phụ thiệt là phụ, cho một vài phim. Vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Tân Định, Đa Kao, Bà Chiểu, Khánh Hội… lúc đó có khá nhiều rạp chiếu bóng. Trung tâm Sài Gòn có rạp Rex, một rạp lớn và một rạp mini trên lầu. Cách đó không xa, ở các con đường nho nhỏ khác cũng không thiếu. Rạp Vĩnh Lợi rạp Đại Nam rạp Tân Thuận chiếu phim Tây, rạp Long Phụng chiếu phim Ấn Độ, còn riêng rạp Lê Lợi thì chuyên trị phim đen trắng chọn lọc. Mới đây tôi gặp một ông bạn già, nói chuyện nầy nọ sau bao nhiêu năm không gặp. Anh với tôi ngồi suốt đêm, bên chai rượu đỏ, nói về các tài tử điện ảnh, về những cuốn phim mà chúng tôi coi lúc còn trẻ, trong các rạp nhỏ xíu tối hù, nhiều kỷ niệm khó quên. Tôi với anh luôn cùng đố nhau nhớ tên các rạp, rạp nào nằm ở đâu, trên con đường gì, nếu tôi nhớ không kịp thì anh nhắc, rồi ngược lại, lần hồi chúng tôi nhớ ra nào là rạp Cầu Bông ở Đa Kao, rạp Moderne và Kinh Thành gần chợ Tân Định, rạp Ca Thay khu Chợ Cũ… Cũng có khi hai đứa bị “đứt phim”, không nhớ nổi. Nhiều khi chỉ nhớ mang máng ở khu phố nào đó trước kia có một rạp chiếu bóng, vậy thôi. Tôi nói với anh về rạp chiếu bóng Eden nằm trong khu thương xá có nhiều tiệm bán quà lưu niệm, sách báo và tranh ảnh. Anh lim dim mắt lắng nghe tôi nói:
- Lúc đó anh biết không, tôi có mối tình đầu tiên.
Anh bạn tôi vừa cười vừa té ho vì trong câu chuyện gì gì tôi cũng chen vào một chút chuyện tình. Mà chuyện tình nào cũng đầu tiên. Tôi lại hỏi anh:
- Anh nhớ Quyên không?
- Quyên nào?
Anh không nhớ là Quyên nào, vì thật ra có không ít cô gái tên Quyên. Lúc đó tôi với anh và Quyên nầy là bạn thân cùng làm chung ở một nhà hàng ăn cũng là phòng trà ca nhạc. Anh bạn chững chạc, to cao đẹp trai, làm về âm thanh ánh sáng. Quyên ở trong đoàn múa. Còn tôi xấu trai, lùn tịt thì… học nấu bếp và học làm người pha chế rượu. Chuyện lạ kỳ làm sao Quyên lại khoái anh bếp… tương lai là tôi, có lẽ vì - chỉ là có lẽ thôi - mỗi tối tôi hay đem lên phòng hóa trang của đoàn múa vài dĩa khoai tây chiên, trong đó có một dĩa đặc biệt dành riêng cho em.
Cho tới bây giờ tôi vẫn chưa hiểu vì sao lúc đó, hay là nhằm giờ linh nên Quyên bất thần rủ tôi đi coi chiếu bóng mà không rủ anh bạn đẹp trai. Quyên rủ một mình tôi, thôi thì cũng đừng nghĩ là nhờ dĩa khoai tây chiên giòn.
- À, Quyên “khoai tây chiên”!
Tới đây thì anh bạn chợt nhớ ra. Còn tôi thì xác nhận:
- Không sai.
Một buổi tối Quyên từ phòng hóa trang trên lầu tư xuống bếp tìm tôi trả cái dĩa:
- Anh gì ơi. Chiều mai em đi làm sớm.
Tôi lau bàn tay đang dính dầu mỡ vào cái tạp dề mang trên bụng vì tôi đang phụ bếp khử tỏi xắt chiên thịt bò áp chảo. Mỗi khi Quyên trả cái dĩa đựng khoai, tôi hay làm bộ vô ý khẽ chạm vào một ngón tay của Quyên, có chút xíu “gia vị” vậy thôi cũng đà quá đã. Quyên không để ý chuyện nhỏ đó, em cầm một củ khoai gọt gọt vỏ liệng vô cái sọt rồi nói tiếp:
- Anh đi coi chiếu bóng với em nha?
Gì chớ chiếu bóng là tui khoái hết biết, lại còn “đi coi với em nha?” thì sướng run người. Còn một chuyện, cái rạp Eden nầy có xa xôi gì, chỉ vài bước đi tắt qua tiệm bánh ngọt là tới cửa bếp nhà hàng nơi tôi chiên khoai đó thôi. Ngày nào tôi lại không tới thăm ông Chà Và gác cửa, vô coi cọp một suất. Tôi biết chiều mai rạp Eden sẽ chiếu phim ma. Coi phim ma thì các cô gái hay sợ kêu rú lên, lúc đó là dịp tôi sẽ nắm chặt tay nàng!
Chiều hôm sau tôi cũng… đi làm sớm. Ngượng nghịu với cái áo sơmi mới, tôi luẩn quẩn trong hành lang Eden mà tim đập mạnh, bụng dạ đánh lôtô. Hay là Quyên với mấy cô gái trong đoàn múa bày trò chọc tôi? Nhưng ai bước xuống xe xích lô bên kia đường kia kìa? Quyên chớ còn ai, chắc là Quyên hẹn với anh chàng nào đó đi coi chiếu bóng! Mấy cô trẻ hay quên mà thường thì không nói hết ý định của mình. Kỳ đời cho tới giờ phút ấy tôi vẫn “nghi” người mà Quyên vui miệng hẹn hôm qua không phải là tôi! Quyên cầm cái dù làm duyên đi qua đường, giữa đường Quyên làm duyên dừng lại chờ một chiếc xe hơi chạy qua… Diễn viên mà! Tới lề đường bên nầy Quyên chăm chú nhìn tôi có vẻ ngạc nhiên. Sao lại ngạc nhiên? Thôi đúng rồi, chắc không phải chỉ là tôi mà còn một người nữa! Tôi nghĩ Quyên nhìn xuôi ngược rồi sẽ hỏi “Anh chờ ai vậy?”, nhưng Quyên cười và nói khác hơn là tôi tưởng tượng:
- Anh chờ em lâu chưa?
Bỗng nhiên tôi nói ngọng:
- A…n…h có đem theo… túi khoai tây chiên.
- Cũng được, khỏi mua ở ngoài. Anh mua vé chưa anh?
Hai ba tiếng kêu anh liền một lúc. Quyên đi trước, cổ chân trái của Quyên có đeo chiếc vòng vàng tây với cái chuông nhỏ, mỗi bước đi nghe leng keng vui tai. Quyên vừa đi vừa múa qua các tiệm chép và bán tranh, bán sách, tới cửa vào trong rạp. Tôi lù khù không dám bước song song với Quyên, vì Quyên cao hơn tôi đẹp hơn tôi nhiều, ví lại hồi nào giờ nói thiệt bà con thương, tôi có đi chơi chung với con gái đâu mà. Tôi tới cửa tò vò mua hai vé. Người bán vé cúi thấp xuống, tôi thấy cặp mắt mở lớn hết pha của cô ta nhìn tôi ngạc nhiên, rồi cái ông Chà Và gác cửa xé vé cũng nhìn tôi không khác. Quyên cầm túi khoai tây chiên đi trước. Tôi đưa cho ông Chà Và hai vé. Ông ta kín đáo chỉ Quyên, tôi gật đầu thì ông ta cười, theo tôi nghĩ là ông ta… khen tôi có bồ đẹp.
Rạp Eden có cái màn dầy che ánh sáng khi khán giả bước vô, ai cũng phải chui qua mới tới vườn địa đàng lúc nào cũng tối hù trong kia. Một lúc sau tôi mới quen mắt, thấy Quyên đã ngồi xuống ghế chỗ bên cạnh tôi đang đứng. Mắt Quyên nhìn lên màn ảnh, còn miệng thì nhai khoai tây. Trên màn ảnh lúc đó có một chiếc xe ngựa chạy trong mưa tuyết, trên con đường rừng vắng hoe. Rồi chiếc xe dừng lại nơi cửa… nhà mồ. Bàn tay của Quyên đang thò trong cái túi giấy đựng khoai tây, bỗng nằm im trong đó luôn, còn miệng Quyên cũng dừng lại không nhai nữa. Hình như có tiếng gì kêu leng keng dưới chân Quyên. Quyên giật chân co lên ghế, vẫn còn tiếng kêu leng keng như lục lạc trên cổ hai con ngựa cạnh nhà mồ kia. Người xà ích vẫn ngồi trên xe giữ cương ngựa. Từ bên trong nhà mồ, một con dơi bay qua cổng sắt chui vô hòm xe, hiện ra một người đàn ông ốm nhách. Ông ta nhe chiếc nanh nhọn dài ứa máu, quay lại nhìn xuống… khán giả. Quyên rú lên làm rơi cả túi khoai tây chiên, nắm chặt tay tôi kéo tôi ngồi xuống cạnh Quyên. Quyên trốn con ma, úp mặt vào vai tôi, mùi thơm từ mái tóc của Quyên làm tôi ngây ngất. Tuy vậy tôi cũng không quên thời cơ quyết liệt nầy, được cầm bàn tay của nàng một cách chánh thức, khỏi phải trung gian qua dĩa khoai, ấy là cũng nhờ cái ông ma cà rồng trên màn ảnh kia. Phim ma hay thật, đúng là phim ma chánh hiệu. Quyên nhắm mắt không coi nữa, mà thời gian vô tình vẫn còn hiệu lực, vì hai đứa về nhà hàng lúc nầy cũng còn sớm, Quyên chưa tới giờ ra sân khấu còn tôi chưa chiên khoai. Tôi xúc động để yên cho Quyên ngủ vùi trên vai tôi mà không dám cục cựa, rủi Quyên thức thì uổng, cảm giác của tôi lúc đó như lên Thiên Thai, bây giờ già rồi nhớ lại cũng còn run. Tôi ngồi im re hít thở nhẹ cho tới khi đèn trên trần rạp bật sáng, nhìn lại chỉ có tôi với Quyên trong cái rạp vắng hoe. Tối hôm đó tôi vẫn… chiên khoai nhưng không dám đem dĩa khoai lên phòng hóa trang. Tôi nghĩ là các cô kia đã biết chuyện. “Tôi Với Quyên Yêu Nhau”, năm chữ nầy có thể làm tên cho một cuốn phim ăn khách lắm chứ. Tôi vừa hãnh diện vừa tội nghiệp cho Quyên vì tôi chỉ là anh chàng phụ bếp.
Có những cuộc tình giễu cợt như vậy làm cho người ta vui sống một lúc. Những con đường lá me bay bay dưới mưa, và rạp chiếu bóng của các cặp tình nhân với tôi đã quen thuộc. Riêng với rạp Eden thì còn khá nhiều chuyện để nhớ. Toàn bộ rạp chiếu bóng nầy nằm trong tòa nhà thương xá và những căn phòng cho thuê, kín bưng không hề có chút ánh sáng mặt trời. Dường như chỉ có mỗi tôi biết một nơi có chút ánh sáng ngoài đường phố lọt vào trong rạp. Lâu lâu chán cái cảnh gọt khoai rồi tập pha rượu, tôi hay chuồn ra ngả sau nhà hàng tới cười cười với ông Chà Và gác cửa rạp, rồi chui qua cái màn dầy vô coi phim, nhiều lúc ngủ quên luôn trong đó. Trong rạp tối hù, cái tủ bán kem thường ngày luôn có một người mà tôi không hề thấy rõ mặt ngồi cạnh. Nhưng vào một suất chiếu buổi trưa tôi không thấy người đó, vì vậy mới thấy sau chỗ cái ghế anh ta ngồi có chút ánh sáng lóe lên. Ánh sáng từ đâu chui qua kẽ hở, có lẽ là khi xây cất khu rạp những người thợ hồ quên không trét xi măng kỹ. Tôi tò mò đứng nhìn. Kẽ hở chỉ rộng chừng ngón tay, khi tôi áp mắt nhìn ra thì thấy thấp thoáng ngoài kia là đường phố tràn ngập ánh nắng, nhưng không thể định hướng được là nơi nào vì tầm mắt qua kẽ hở bị hạn chế khá nhiều. Tôi lấy que kem đút qua kẽ hở làm dấu, rồi hàng ngày tôi đi quanh ngoài khu phố thương xá tìm... que kem, tức là tìm nơi mà ánh sáng ngoài phố chui vào trong vườn địa đàng.
Từ buổi chiều đi coi chiếu bóng với Quyên cho tới buổi tối hôm đó và những ngày sau, tôi khó gặp Quyên. Tôi nghĩ là Quyên hối hận việc rủ anh chàng cù lần nhát gái là tôi đi coi phim ma. Tôi cũng còn một vài lần đem dĩa khoai chiên lên phòng hóa trang, nhưng Quyên không mặn mòi lắm, rồi sau đó chuyện dĩa khoai chiên và Quyên đi vào kỷ niệm.
Một ngày buồn hiu, tôi vô rạp Eden coi chiếu bóng một mình rồi tò mò tới gần cái tủ kem sát vách tường, nhìn qua kẽ hở. Bên trong nầy là rạp chiếu bóng còn ngoài kia là đường phố. Tôi nhắm một mắt nhìn một mắt ra đường bất chợt thấy một - cận ảnh - cổ chân một cô gái có sợi dây chuyền vàng tây và cái chuông nhỏ, rồi thì - toàn hẹp - bên cạnh là đôi giày tây láng bóng của một người con trai. Mắt tôi - lia lên - một chút theo khoảng dài của kẽ hở - như là với ống kính zoom. Tôi thấy bàn tay người con trai nắm chặt bàn tay người con gái…
Từ ngày đó cho tới khi tôi trôi dạt tứ phương tám hướng, sao tôi vẫn nhớ mãi những rạp chiếu bóng và những con đường nhộn nhịp của Sài Gòn hoa lệ. Nhiều lần tôi trở về vẫn có ý tìm que kem mà tôi làm dấu bên trong vườn địa đàng. Nói vậy cho đỡ nhớ chớ que kem nào mà còn, vì mấy chục năm đã qua, đi quanh quẩn trên đường phố, chung quanh rạp chiếu bóng, tìm hoài vẫn không thấy nơi nào có cái kẽ hở để nhìn vào trong rạp. Nhìn ra thì đã mà nhìn vô thì không thể. Tôi vốn nhiều tưởng tượng và hay tự làm khổ mình. Song tôi tin là ở trong rạp chiếu bóng mà Quyên rủ tôi đi coi phim ngày nào đó đã xa, còn một nơi có chút ánh sáng xuyên qua tường, dù cho là không có đi nữa tôi cũng không bao giờ quên. Làm sao mà quên được, dù kỷ niệm chỉ còn là cay đắng. Thôi thì tôi cũng không cách nào khác, để nhớ chút hương xưa trên mái tóc Quyên, là tìm về một buổi chiều em ngủ say giấc bên tôi. Đâu đó cho tới bây giờ vẫn còn phảng phất mùi khoai tây chiên…
oOo
Chuyện tới đây là hết, nhưng tôi nghĩ là nên đùa thêm một chút cho vui. Nếu như có đạo diễn nào muốn làm phim theo truyện ngắn nầy, tôi sẽ kể dài ra thêm. Quyên mà biết thì không chừng em còn ôm chặt tôi hơn. Trên trần nhà và phía sau tấm phông trắng màn ảnh của rạp Eden, sẽ có nhiều con ma khác, từ oan hồn của những tình nhân từng ngồi bên nhau trong rạp Eden về tìm lại chút kỷ niệm xưa… Còn rất nhiều chuyện hấp dẫn xảy ra trong Vườn Địa Đàng. Nhưng bây giờ thì xin dừng lại.
À, tôi còn quên một chuyện. Hình như người bán tủ kem lâu lâu lại biến mất. Có lúc tôi thấy anh ta đứng đâu đó, trong bất cứ phim nào. Diễn viên điện ảnh nầy xuất hiện nhiều nhất là mỗi lần rạp chiếu phim ma. Rồi từ trong phim, anh ta lại trở xuống ngồi trong bóng tối cạnh tủ kem…
________________________________________________
Tôi sinh ra trên sông Tiền - còn có một tên khác là sông Bảo Định - thuộc tỉnh Định Tường, thường gọi là Mỹ Tho, nay là tỉnh Tiền Giang. Vì nghề nghiệp, tôi đã đi và sống nhiều nơi, về các tỉnh thành khác. Không hiểu sao tôi cứ hay nhớ các rạp chiếu bóng ở những nơi từng đi qua. Các huyện xa xôi hẻo lánh có vài rạp chiếu bóng nhỏ không khí trầm lặng buồn hiu, mỗi tuần chỉ chiếu một hai suất, dù vậy mỗi khi ở đó tôi vẫn hay chờ vô coi chiếu bóng. Mỹ Tho có rạp chiếu bóng ở giữa con phố khá đẹp nhìn ra bờ sông lớn. Khi ở Sài Gòn, tôi quen rong chơi các đường phố và vẫn thích đi coi chiếu bóng. Tôi khoái nhất là các rạp chiếu bóng ở phía trước để tấm panô vẽ tuồng phim bằng bột màu coi rất hấp dẫn. Rồi tôi sưu tập những tờ chương trình quảng cáo, giới thiệu phim, có hình tài tử dán vô một cuốn tập dầy. Thường lệ vào buổi chiều mát mẻ, đông đảo khán giả tới mua vé, đứng chờ vô rạp, con nít chạy giỡn chung quanh, người lớn nói chuyện vui nhộn. Có lẽ nhờ vậy, nhờ ghiền coi chiếu bóng, tôi vừa coi vừa vô tình học lỏm cách diễn và cách quay phim hồi nào không hay, cho nên khi lớn lên có dịp gặp người đi săn ảnh chọn vai cho phim nào đó, tôi cũng được mời làm diễn viên điện ảnh, vai… phụ thiệt là phụ, cho một vài phim. Vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Tân Định, Đa Kao, Bà Chiểu, Khánh Hội… lúc đó có khá nhiều rạp chiếu bóng. Trung tâm Sài Gòn có rạp Rex, một rạp lớn và một rạp mini trên lầu. Cách đó không xa, ở các con đường nho nhỏ khác cũng không thiếu. Rạp Vĩnh Lợi rạp Đại Nam rạp Tân Thuận chiếu phim Tây, rạp Long Phụng chiếu phim Ấn Độ, còn riêng rạp Lê Lợi thì chuyên trị phim đen trắng chọn lọc. Mới đây tôi gặp một ông bạn già, nói chuyện nầy nọ sau bao nhiêu năm không gặp. Anh với tôi ngồi suốt đêm, bên chai rượu đỏ, nói về các tài tử điện ảnh, về những cuốn phim mà chúng tôi coi lúc còn trẻ, trong các rạp nhỏ xíu tối hù, nhiều kỷ niệm khó quên. Tôi với anh luôn cùng đố nhau nhớ tên các rạp, rạp nào nằm ở đâu, trên con đường gì, nếu tôi nhớ không kịp thì anh nhắc, rồi ngược lại, lần hồi chúng tôi nhớ ra nào là rạp Cầu Bông ở Đa Kao, rạp Moderne và Kinh Thành gần chợ Tân Định, rạp Ca Thay khu Chợ Cũ… Cũng có khi hai đứa bị “đứt phim”, không nhớ nổi. Nhiều khi chỉ nhớ mang máng ở khu phố nào đó trước kia có một rạp chiếu bóng, vậy thôi. Tôi nói với anh về rạp chiếu bóng Eden nằm trong khu thương xá có nhiều tiệm bán quà lưu niệm, sách báo và tranh ảnh. Anh lim dim mắt lắng nghe tôi nói:
- Lúc đó anh biết không, tôi có mối tình đầu tiên.
Anh bạn tôi vừa cười vừa té ho vì trong câu chuyện gì gì tôi cũng chen vào một chút chuyện tình. Mà chuyện tình nào cũng đầu tiên. Tôi lại hỏi anh:
- Anh nhớ Quyên không?
- Quyên nào?
Anh không nhớ là Quyên nào, vì thật ra có không ít cô gái tên Quyên. Lúc đó tôi với anh và Quyên nầy là bạn thân cùng làm chung ở một nhà hàng ăn cũng là phòng trà ca nhạc. Anh bạn chững chạc, to cao đẹp trai, làm về âm thanh ánh sáng. Quyên ở trong đoàn múa. Còn tôi xấu trai, lùn tịt thì… học nấu bếp và học làm người pha chế rượu. Chuyện lạ kỳ làm sao Quyên lại khoái anh bếp… tương lai là tôi, có lẽ vì - chỉ là có lẽ thôi - mỗi tối tôi hay đem lên phòng hóa trang của đoàn múa vài dĩa khoai tây chiên, trong đó có một dĩa đặc biệt dành riêng cho em.
Cho tới bây giờ tôi vẫn chưa hiểu vì sao lúc đó, hay là nhằm giờ linh nên Quyên bất thần rủ tôi đi coi chiếu bóng mà không rủ anh bạn đẹp trai. Quyên rủ một mình tôi, thôi thì cũng đừng nghĩ là nhờ dĩa khoai tây chiên giòn.
- À, Quyên “khoai tây chiên”!
Tới đây thì anh bạn chợt nhớ ra. Còn tôi thì xác nhận:
- Không sai.
Một buổi tối Quyên từ phòng hóa trang trên lầu tư xuống bếp tìm tôi trả cái dĩa:
- Anh gì ơi. Chiều mai em đi làm sớm.
Tôi lau bàn tay đang dính dầu mỡ vào cái tạp dề mang trên bụng vì tôi đang phụ bếp khử tỏi xắt chiên thịt bò áp chảo. Mỗi khi Quyên trả cái dĩa đựng khoai, tôi hay làm bộ vô ý khẽ chạm vào một ngón tay của Quyên, có chút xíu “gia vị” vậy thôi cũng đà quá đã. Quyên không để ý chuyện nhỏ đó, em cầm một củ khoai gọt gọt vỏ liệng vô cái sọt rồi nói tiếp:
- Anh đi coi chiếu bóng với em nha?
Gì chớ chiếu bóng là tui khoái hết biết, lại còn “đi coi với em nha?” thì sướng run người. Còn một chuyện, cái rạp Eden nầy có xa xôi gì, chỉ vài bước đi tắt qua tiệm bánh ngọt là tới cửa bếp nhà hàng nơi tôi chiên khoai đó thôi. Ngày nào tôi lại không tới thăm ông Chà Và gác cửa, vô coi cọp một suất. Tôi biết chiều mai rạp Eden sẽ chiếu phim ma. Coi phim ma thì các cô gái hay sợ kêu rú lên, lúc đó là dịp tôi sẽ nắm chặt tay nàng!
Chiều hôm sau tôi cũng… đi làm sớm. Ngượng nghịu với cái áo sơmi mới, tôi luẩn quẩn trong hành lang Eden mà tim đập mạnh, bụng dạ đánh lôtô. Hay là Quyên với mấy cô gái trong đoàn múa bày trò chọc tôi? Nhưng ai bước xuống xe xích lô bên kia đường kia kìa? Quyên chớ còn ai, chắc là Quyên hẹn với anh chàng nào đó đi coi chiếu bóng! Mấy cô trẻ hay quên mà thường thì không nói hết ý định của mình. Kỳ đời cho tới giờ phút ấy tôi vẫn “nghi” người mà Quyên vui miệng hẹn hôm qua không phải là tôi! Quyên cầm cái dù làm duyên đi qua đường, giữa đường Quyên làm duyên dừng lại chờ một chiếc xe hơi chạy qua… Diễn viên mà! Tới lề đường bên nầy Quyên chăm chú nhìn tôi có vẻ ngạc nhiên. Sao lại ngạc nhiên? Thôi đúng rồi, chắc không phải chỉ là tôi mà còn một người nữa! Tôi nghĩ Quyên nhìn xuôi ngược rồi sẽ hỏi “Anh chờ ai vậy?”, nhưng Quyên cười và nói khác hơn là tôi tưởng tượng:
- Anh chờ em lâu chưa?
Bỗng nhiên tôi nói ngọng:
- A…n…h có đem theo… túi khoai tây chiên.
- Cũng được, khỏi mua ở ngoài. Anh mua vé chưa anh?
Hai ba tiếng kêu anh liền một lúc. Quyên đi trước, cổ chân trái của Quyên có đeo chiếc vòng vàng tây với cái chuông nhỏ, mỗi bước đi nghe leng keng vui tai. Quyên vừa đi vừa múa qua các tiệm chép và bán tranh, bán sách, tới cửa vào trong rạp. Tôi lù khù không dám bước song song với Quyên, vì Quyên cao hơn tôi đẹp hơn tôi nhiều, ví lại hồi nào giờ nói thiệt bà con thương, tôi có đi chơi chung với con gái đâu mà. Tôi tới cửa tò vò mua hai vé. Người bán vé cúi thấp xuống, tôi thấy cặp mắt mở lớn hết pha của cô ta nhìn tôi ngạc nhiên, rồi cái ông Chà Và gác cửa xé vé cũng nhìn tôi không khác. Quyên cầm túi khoai tây chiên đi trước. Tôi đưa cho ông Chà Và hai vé. Ông ta kín đáo chỉ Quyên, tôi gật đầu thì ông ta cười, theo tôi nghĩ là ông ta… khen tôi có bồ đẹp.
Rạp Eden có cái màn dầy che ánh sáng khi khán giả bước vô, ai cũng phải chui qua mới tới vườn địa đàng lúc nào cũng tối hù trong kia. Một lúc sau tôi mới quen mắt, thấy Quyên đã ngồi xuống ghế chỗ bên cạnh tôi đang đứng. Mắt Quyên nhìn lên màn ảnh, còn miệng thì nhai khoai tây. Trên màn ảnh lúc đó có một chiếc xe ngựa chạy trong mưa tuyết, trên con đường rừng vắng hoe. Rồi chiếc xe dừng lại nơi cửa… nhà mồ. Bàn tay của Quyên đang thò trong cái túi giấy đựng khoai tây, bỗng nằm im trong đó luôn, còn miệng Quyên cũng dừng lại không nhai nữa. Hình như có tiếng gì kêu leng keng dưới chân Quyên. Quyên giật chân co lên ghế, vẫn còn tiếng kêu leng keng như lục lạc trên cổ hai con ngựa cạnh nhà mồ kia. Người xà ích vẫn ngồi trên xe giữ cương ngựa. Từ bên trong nhà mồ, một con dơi bay qua cổng sắt chui vô hòm xe, hiện ra một người đàn ông ốm nhách. Ông ta nhe chiếc nanh nhọn dài ứa máu, quay lại nhìn xuống… khán giả. Quyên rú lên làm rơi cả túi khoai tây chiên, nắm chặt tay tôi kéo tôi ngồi xuống cạnh Quyên. Quyên trốn con ma, úp mặt vào vai tôi, mùi thơm từ mái tóc của Quyên làm tôi ngây ngất. Tuy vậy tôi cũng không quên thời cơ quyết liệt nầy, được cầm bàn tay của nàng một cách chánh thức, khỏi phải trung gian qua dĩa khoai, ấy là cũng nhờ cái ông ma cà rồng trên màn ảnh kia. Phim ma hay thật, đúng là phim ma chánh hiệu. Quyên nhắm mắt không coi nữa, mà thời gian vô tình vẫn còn hiệu lực, vì hai đứa về nhà hàng lúc nầy cũng còn sớm, Quyên chưa tới giờ ra sân khấu còn tôi chưa chiên khoai. Tôi xúc động để yên cho Quyên ngủ vùi trên vai tôi mà không dám cục cựa, rủi Quyên thức thì uổng, cảm giác của tôi lúc đó như lên Thiên Thai, bây giờ già rồi nhớ lại cũng còn run. Tôi ngồi im re hít thở nhẹ cho tới khi đèn trên trần rạp bật sáng, nhìn lại chỉ có tôi với Quyên trong cái rạp vắng hoe. Tối hôm đó tôi vẫn… chiên khoai nhưng không dám đem dĩa khoai lên phòng hóa trang. Tôi nghĩ là các cô kia đã biết chuyện. “Tôi Với Quyên Yêu Nhau”, năm chữ nầy có thể làm tên cho một cuốn phim ăn khách lắm chứ. Tôi vừa hãnh diện vừa tội nghiệp cho Quyên vì tôi chỉ là anh chàng phụ bếp.
Có những cuộc tình giễu cợt như vậy làm cho người ta vui sống một lúc. Những con đường lá me bay bay dưới mưa, và rạp chiếu bóng của các cặp tình nhân với tôi đã quen thuộc. Riêng với rạp Eden thì còn khá nhiều chuyện để nhớ. Toàn bộ rạp chiếu bóng nầy nằm trong tòa nhà thương xá và những căn phòng cho thuê, kín bưng không hề có chút ánh sáng mặt trời. Dường như chỉ có mỗi tôi biết một nơi có chút ánh sáng ngoài đường phố lọt vào trong rạp. Lâu lâu chán cái cảnh gọt khoai rồi tập pha rượu, tôi hay chuồn ra ngả sau nhà hàng tới cười cười với ông Chà Và gác cửa rạp, rồi chui qua cái màn dầy vô coi phim, nhiều lúc ngủ quên luôn trong đó. Trong rạp tối hù, cái tủ bán kem thường ngày luôn có một người mà tôi không hề thấy rõ mặt ngồi cạnh. Nhưng vào một suất chiếu buổi trưa tôi không thấy người đó, vì vậy mới thấy sau chỗ cái ghế anh ta ngồi có chút ánh sáng lóe lên. Ánh sáng từ đâu chui qua kẽ hở, có lẽ là khi xây cất khu rạp những người thợ hồ quên không trét xi măng kỹ. Tôi tò mò đứng nhìn. Kẽ hở chỉ rộng chừng ngón tay, khi tôi áp mắt nhìn ra thì thấy thấp thoáng ngoài kia là đường phố tràn ngập ánh nắng, nhưng không thể định hướng được là nơi nào vì tầm mắt qua kẽ hở bị hạn chế khá nhiều. Tôi lấy que kem đút qua kẽ hở làm dấu, rồi hàng ngày tôi đi quanh ngoài khu phố thương xá tìm... que kem, tức là tìm nơi mà ánh sáng ngoài phố chui vào trong vườn địa đàng.
Từ buổi chiều đi coi chiếu bóng với Quyên cho tới buổi tối hôm đó và những ngày sau, tôi khó gặp Quyên. Tôi nghĩ là Quyên hối hận việc rủ anh chàng cù lần nhát gái là tôi đi coi phim ma. Tôi cũng còn một vài lần đem dĩa khoai chiên lên phòng hóa trang, nhưng Quyên không mặn mòi lắm, rồi sau đó chuyện dĩa khoai chiên và Quyên đi vào kỷ niệm.
Một ngày buồn hiu, tôi vô rạp Eden coi chiếu bóng một mình rồi tò mò tới gần cái tủ kem sát vách tường, nhìn qua kẽ hở. Bên trong nầy là rạp chiếu bóng còn ngoài kia là đường phố. Tôi nhắm một mắt nhìn một mắt ra đường bất chợt thấy một - cận ảnh - cổ chân một cô gái có sợi dây chuyền vàng tây và cái chuông nhỏ, rồi thì - toàn hẹp - bên cạnh là đôi giày tây láng bóng của một người con trai. Mắt tôi - lia lên - một chút theo khoảng dài của kẽ hở - như là với ống kính zoom. Tôi thấy bàn tay người con trai nắm chặt bàn tay người con gái…
Từ ngày đó cho tới khi tôi trôi dạt tứ phương tám hướng, sao tôi vẫn nhớ mãi những rạp chiếu bóng và những con đường nhộn nhịp của Sài Gòn hoa lệ. Nhiều lần tôi trở về vẫn có ý tìm que kem mà tôi làm dấu bên trong vườn địa đàng. Nói vậy cho đỡ nhớ chớ que kem nào mà còn, vì mấy chục năm đã qua, đi quanh quẩn trên đường phố, chung quanh rạp chiếu bóng, tìm hoài vẫn không thấy nơi nào có cái kẽ hở để nhìn vào trong rạp. Nhìn ra thì đã mà nhìn vô thì không thể. Tôi vốn nhiều tưởng tượng và hay tự làm khổ mình. Song tôi tin là ở trong rạp chiếu bóng mà Quyên rủ tôi đi coi phim ngày nào đó đã xa, còn một nơi có chút ánh sáng xuyên qua tường, dù cho là không có đi nữa tôi cũng không bao giờ quên. Làm sao mà quên được, dù kỷ niệm chỉ còn là cay đắng. Thôi thì tôi cũng không cách nào khác, để nhớ chút hương xưa trên mái tóc Quyên, là tìm về một buổi chiều em ngủ say giấc bên tôi. Đâu đó cho tới bây giờ vẫn còn phảng phất mùi khoai tây chiên…
oOo
Chuyện tới đây là hết, nhưng tôi nghĩ là nên đùa thêm một chút cho vui. Nếu như có đạo diễn nào muốn làm phim theo truyện ngắn nầy, tôi sẽ kể dài ra thêm. Quyên mà biết thì không chừng em còn ôm chặt tôi hơn. Trên trần nhà và phía sau tấm phông trắng màn ảnh của rạp Eden, sẽ có nhiều con ma khác, từ oan hồn của những tình nhân từng ngồi bên nhau trong rạp Eden về tìm lại chút kỷ niệm xưa… Còn rất nhiều chuyện hấp dẫn xảy ra trong Vườn Địa Đàng. Nhưng bây giờ thì xin dừng lại.
À, tôi còn quên một chuyện. Hình như người bán tủ kem lâu lâu lại biến mất. Có lúc tôi thấy anh ta đứng đâu đó, trong bất cứ phim nào. Diễn viên điện ảnh nầy xuất hiện nhiều nhất là mỗi lần rạp chiếu phim ma. Rồi từ trong phim, anh ta lại trở xuống ngồi trong bóng tối cạnh tủ kem…
________________________________________________
Thứ Ba, 8 tháng 2, 2011
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng 80 tuổi vẫn nhậu tốt
Trần Hoàng Nhân
- Tác giả Chiếc lược ngà là người quảng giao. Nếu nói cường điệu một chút, ông quen cả Sài Gòn và quen một nửa Việt Nam. Vì sao Nguyễn Quang Sáng quen biết nhiều người đến vậy? Xin thưa, đầu tiên vì ông là nhà văn có nhiều tác phẩm được người đọc yêu thích. Lý do quan trọng khác không kém là ông rất chịu chơi - hiểu theo nghĩa tửu lượng của ông rất khá và siêng nhậu.
Người ta viết về ông nhiều rồi, tôi chỉ chỉ dám viết thêm một khía cạnh bên lề văn chương của ông già Nam Bộ phóng khoáng này.
Thách nhau viết truyện về “bia ôm”
Người Nam bộ có thói quen trước khi bàn công việc hãy uống với nhau vài ly cái đã. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng là người như thế. Trong nhiều lần có việc phỏng vấn ông, câu đầu tiên ông nói với tôi: “Mày làm với tao vài ly cái đã”. Sau vài ly, câu chuyện cứ thế “vào đề”, người cần hỏi không cần hỏi nữa...
Nguyễn Quang Sáng nhiều lần nói ông tìm đề tài, chi tiết truyện trong quán nhậu. Vì khi nhậu, người ta mở lòng hơn và nói nhiều chuyện bình thường ít đề cập. Nguyễn Quang Sáng đi nhậu tức là đi thực tế.
Nhà văn Đoàn Thạch Biền trong một lần vui miệng, kể rằng ông từng đi “thực tế” với ông Sáng. Trong cuộc này, mấy ông nhà văn “thách” nhau ai viết được truyện “bia ôm” hay hơn. Kết quả, Nguyễn Quang Sáng có truyện Con ma da được người đọc đón nhận. Bản thân Đoàn Thạch Biền bái phục “bố già” Nguyễn Quang Sáng về truyện ngắn này.
Quan niệm uống rượu của Nguyễn Quang Sáng được chính ông “thi hóa” thành thơ. Năm 2007, NXB Văn học và Hội Nhà văn TP.HCM xuất bản Sài Gòn thơ - tuyển thơ có mặt nhiều… nhà văn. Nguyễn Quang Sáng đóng góp bài thơ Rượu với mấy câu ngắn gọn như tuyên ngôn: “Trong mâm rượu/ Nếu nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc/ Trong mâm rượu/ Nhắc, nhớ người vắng mặt/ Rượu sẽ ngọt ngào nước thánh/ Ta rót vào hồn nỗi nhớ thương”.
Trong nhiều lần hầu rượu “bố già”, tôi chưa thấy Nguyễn Quang Sáng “nói xấu” ai bao giờ. Có chăng là những lớp đàn em, hậu sinh như tôi có hỏi về điều gì đó thì “bố già” trả lời. Nhưng Nguyễn Quang Sáng đều dặn: “Chuyện bàn rượu thôi nghe mày, không có viết báo à nghen! Chuyện nhậu chơi, tao không chịu trách nhiệm”.
Để ngày nào cũng có thể lai rai, nhà văn Nguyễn Quang Sáng có bí quyết riêng. Bí quyết vừa mới tiếc lộ bên trên là khi nhậu không “nói xấu người vắng mặt”. Bí quyết thứ hai, là sáng nào, “bố già” cũng được vợ “tẩm bổ” cho một chén chè đậu xanh nhưng… không đường. Nhà văn tiết lộ: “Cái món này nó giúp lọc bớt chất độc trong cơ thể. Có vậy tao mới lai rai hoài được”.
Sợ viết hồi ký
Năm 2010, “bố già” bán căn nhà chung cư trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Q.1, TP.HCM dọn về Q.7. Nhà Q.7 to đẹp hơn, đàng hoàng hơn nhà Q.1 nhưng dường như ở Q.7 nhà văn bị “trở ngại” hơn trong việc đi nhậu. Khi còn ở Q.1, thỉnh thoảng tôi gặp ông đi bộ liêu xiêu trên vỉa hè. Những lần đó, tôi tấp xe vô chở ông về nhà. Vốn tính tôi hay thích đùa, chở ông về nhà xong tôi tỉnh bơ “đòi tiền xe ôm”. Tưởng “bố già” say, nhưng lần nào ông cũng trả lời: “Cái mặt mày… Chiều mai đến nhà chở tao ra quán trả tiền xe ôm cho mày bằng… rượu”.
Nhưng thời gian không “sợ” ai hết, kể cả “bố già” Nguyễn Quang Sáng. Nhiều người đọc chờ đợi ông viết hồi ký. Hỏi ông, ông nói không viết, vì viết hồi ký dễ chủ quan “cái gì thuộc về mình đều tốt cả”. Ừ nhỉ, đã là con người không ai có thể “thập toàn”. Nhiều khi viết hồi ký còn “say” hơn cả say rượu thì thật… nguy hiểm. Nguyễn Quang Sáng không viết hồi ký vì lẽ đó.
Tuy nhiên, hồi ức về ông vẫn luôn hiện diện trong bạn bè. Nhà báo Trần Thanh Phương tập hợp cả một cuốn sách Nguyễn Quang Sáng với bạn bè (NXB Tổng hợp TP.HCM 2010) dày 350 trang gồm những bài viết của bạn bè về ông. Trong số những tác giả của Nguyễn Quang Sáng với bạn bè, có rất nhiều người vừa là bạn văn, vừa là bạn rượu của ông. Có lẽ, sau chén rượu “ngọt ngào nước thánh” với Nguyễn Quang Sáng, là cái tình đọng lại để “ta rót vào hồn nỗi nhớ thương”.
Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1932, năm 2011 ông tròn 80 tính theo tuổi “mụ”. Khi kết thúc những dòng này về ông, tôi điện thoại hỏi thăm sức khỏe “bố già”. Đầu dây bên kia ông nói: “Tao vẫn lai rai tốt”. 80 tuổi nhà văn Nguyễn Quang Sáng vẫn nhậu đều đều. Ông nhậu như đi thực tế dù có thể tuổi cao không viết nữa. Hơn thế, ông nhậu vì bạn bè yêu mến ông và ông yêu mến họ.
80 tuổi, còn sức khỏe và bạn bè để nhậu như nhà văn Nguyễn Quang Sáng, âu cũng là hạnh phúc một đời người.
__________________________________________________
- Tác giả Chiếc lược ngà là người quảng giao. Nếu nói cường điệu một chút, ông quen cả Sài Gòn và quen một nửa Việt Nam. Vì sao Nguyễn Quang Sáng quen biết nhiều người đến vậy? Xin thưa, đầu tiên vì ông là nhà văn có nhiều tác phẩm được người đọc yêu thích. Lý do quan trọng khác không kém là ông rất chịu chơi - hiểu theo nghĩa tửu lượng của ông rất khá và siêng nhậu.
Người ta viết về ông nhiều rồi, tôi chỉ chỉ dám viết thêm một khía cạnh bên lề văn chương của ông già Nam Bộ phóng khoáng này.
Thách nhau viết truyện về “bia ôm”
Người Nam bộ có thói quen trước khi bàn công việc hãy uống với nhau vài ly cái đã. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng là người như thế. Trong nhiều lần có việc phỏng vấn ông, câu đầu tiên ông nói với tôi: “Mày làm với tao vài ly cái đã”. Sau vài ly, câu chuyện cứ thế “vào đề”, người cần hỏi không cần hỏi nữa...
Nguyễn Quang Sáng nhiều lần nói ông tìm đề tài, chi tiết truyện trong quán nhậu. Vì khi nhậu, người ta mở lòng hơn và nói nhiều chuyện bình thường ít đề cập. Nguyễn Quang Sáng đi nhậu tức là đi thực tế.
Nhà văn Đoàn Thạch Biền trong một lần vui miệng, kể rằng ông từng đi “thực tế” với ông Sáng. Trong cuộc này, mấy ông nhà văn “thách” nhau ai viết được truyện “bia ôm” hay hơn. Kết quả, Nguyễn Quang Sáng có truyện Con ma da được người đọc đón nhận. Bản thân Đoàn Thạch Biền bái phục “bố già” Nguyễn Quang Sáng về truyện ngắn này.
Quan niệm uống rượu của Nguyễn Quang Sáng được chính ông “thi hóa” thành thơ. Năm 2007, NXB Văn học và Hội Nhà văn TP.HCM xuất bản Sài Gòn thơ - tuyển thơ có mặt nhiều… nhà văn. Nguyễn Quang Sáng đóng góp bài thơ Rượu với mấy câu ngắn gọn như tuyên ngôn: “Trong mâm rượu/ Nếu nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc/ Trong mâm rượu/ Nhắc, nhớ người vắng mặt/ Rượu sẽ ngọt ngào nước thánh/ Ta rót vào hồn nỗi nhớ thương”.
Trong nhiều lần hầu rượu “bố già”, tôi chưa thấy Nguyễn Quang Sáng “nói xấu” ai bao giờ. Có chăng là những lớp đàn em, hậu sinh như tôi có hỏi về điều gì đó thì “bố già” trả lời. Nhưng Nguyễn Quang Sáng đều dặn: “Chuyện bàn rượu thôi nghe mày, không có viết báo à nghen! Chuyện nhậu chơi, tao không chịu trách nhiệm”.
Để ngày nào cũng có thể lai rai, nhà văn Nguyễn Quang Sáng có bí quyết riêng. Bí quyết vừa mới tiếc lộ bên trên là khi nhậu không “nói xấu người vắng mặt”. Bí quyết thứ hai, là sáng nào, “bố già” cũng được vợ “tẩm bổ” cho một chén chè đậu xanh nhưng… không đường. Nhà văn tiết lộ: “Cái món này nó giúp lọc bớt chất độc trong cơ thể. Có vậy tao mới lai rai hoài được”.
Sợ viết hồi ký
Năm 2010, “bố già” bán căn nhà chung cư trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Q.1, TP.HCM dọn về Q.7. Nhà Q.7 to đẹp hơn, đàng hoàng hơn nhà Q.1 nhưng dường như ở Q.7 nhà văn bị “trở ngại” hơn trong việc đi nhậu. Khi còn ở Q.1, thỉnh thoảng tôi gặp ông đi bộ liêu xiêu trên vỉa hè. Những lần đó, tôi tấp xe vô chở ông về nhà. Vốn tính tôi hay thích đùa, chở ông về nhà xong tôi tỉnh bơ “đòi tiền xe ôm”. Tưởng “bố già” say, nhưng lần nào ông cũng trả lời: “Cái mặt mày… Chiều mai đến nhà chở tao ra quán trả tiền xe ôm cho mày bằng… rượu”.
Nhưng thời gian không “sợ” ai hết, kể cả “bố già” Nguyễn Quang Sáng. Nhiều người đọc chờ đợi ông viết hồi ký. Hỏi ông, ông nói không viết, vì viết hồi ký dễ chủ quan “cái gì thuộc về mình đều tốt cả”. Ừ nhỉ, đã là con người không ai có thể “thập toàn”. Nhiều khi viết hồi ký còn “say” hơn cả say rượu thì thật… nguy hiểm. Nguyễn Quang Sáng không viết hồi ký vì lẽ đó.
Tuy nhiên, hồi ức về ông vẫn luôn hiện diện trong bạn bè. Nhà báo Trần Thanh Phương tập hợp cả một cuốn sách Nguyễn Quang Sáng với bạn bè (NXB Tổng hợp TP.HCM 2010) dày 350 trang gồm những bài viết của bạn bè về ông. Trong số những tác giả của Nguyễn Quang Sáng với bạn bè, có rất nhiều người vừa là bạn văn, vừa là bạn rượu của ông. Có lẽ, sau chén rượu “ngọt ngào nước thánh” với Nguyễn Quang Sáng, là cái tình đọng lại để “ta rót vào hồn nỗi nhớ thương”.
Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1932, năm 2011 ông tròn 80 tính theo tuổi “mụ”. Khi kết thúc những dòng này về ông, tôi điện thoại hỏi thăm sức khỏe “bố già”. Đầu dây bên kia ông nói: “Tao vẫn lai rai tốt”. 80 tuổi nhà văn Nguyễn Quang Sáng vẫn nhậu đều đều. Ông nhậu như đi thực tế dù có thể tuổi cao không viết nữa. Hơn thế, ông nhậu vì bạn bè yêu mến ông và ông yêu mến họ.
80 tuổi, còn sức khỏe và bạn bè để nhậu như nhà văn Nguyễn Quang Sáng, âu cũng là hạnh phúc một đời người.
__________________________________________________
Thứ Năm, 13 tháng 1, 2011
Chụp ảnh gia đình
Truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư
Vào thời khắc cha quét váng nhện trên mảng tường tróc lở vôi và nhận ra trong nhà không hề có một tấm hình chụp chung nào chứng tỏ đây đang có một gia đình thì con đang lội mạng, nấn ná chỗ lễ đính hôn của một cô hoa hậu. Mùi xa hoa nào của buổi tiệc làm mũi nó dún lại trên gương mặt chảy dài thẩn thờ. Và cuộc gọi của cha đến khi nó đã chuyển qua chơi Bejeweled, những viên đá sặc sỡ vỡ vụn không làm nó nguôi đi chuyện cái áo đầm cô dâu kia mặc giá mười hai ngàn đô. Trời đất.
Về chụp hình cả nhà mình, cha nói hào hển, thở thì gần mà giọng hụp hửi ở đâu đâu, như đang ngoi ngóp dưới hồ. Thằng nhỏ thảng thốt hỏi lại, vụ gì cha? Về. Chụp hình. Cha gằn giọng và trước khi cúp máy, chọi qua thêm cục ngơ ngác nữa. Gấp.
Cái quán cà phê thằng con ngồi cách bến xe bảy cây số, cách sân bay mười hai cây, và cách bến tàu năm trăm mét. Tới những chỗ ấy thì sẽ cách nhà ngót ngét bốn trăm cây. Đường không phải là quá xa, chẳng lâu lắc gì cho lắm nhưng thằng con còn phải tốn cả tháng để hỏi đi hỏi lại, có đúng là cha kêu mình về để chụp hình không?
Gì thì chụp hình không giống một lý do, con không thể hình dung nổi chuyện phải bỏ công ăn chuyện làm đi hàng trăm cây số chỉ để toe miệng ra cười bên cạnh hai ông bà già và một con chó cũng già trong khi ông thợ chụp ảnh chổng mông đếm một hai ba. Thằng con nghĩ mẹ bệnh, nhà cháy, một người họ hàng thân cận nào đó cưới hoặc qua đời, hoặc đám giỗ ông bà nội ngoại mới là những cái cớ có thể chấp nhận được.
Bạn Tí cũng biết bông Cẩm Chướng nhà mình mà, tánh như nước nóng đổ dái. Ổng đang cằn nhằn nhức xương chuyện gián gặm nát cái hình hồi cưới má đây nè. Má nói, không quên đệm vào cái thở dài chừng ba thước tám. Những cái thở dài của má luôn xa vắng, trên điện thoại càng xa, như từ kiếp nào nối máy tới. Chỉ chữ bạn là ấm áp.
Má gọi con bằng bạn vào một hôm con không cho má coi cái nhọt trên mông nữa. Hồi đó con mười ba tuổi, giọng vỡ và trên người bỗng dưng mọc nhiều lông, đến nỗi nó nghĩ cứ đà này năm sau mình thành khỉ vô rừng leo cây ăn chuối mất. Nó sống trong nỗi hoang mang kinh khủng, chịu đựng một mình loay hoay một mình chống chọi một mình. Má thấy rõ ràng con ngày một xa, ra khỏi tầm với của mình, dù nó vẫn đang ngồi dặt dẹo chê cá tanh cơm lạt trước mặt mình đây. Má hỏi thăm khắp bạn bè, mượn mấy quyển sách tâm sinh lý về đọc, rốt cuộc xin được một chữ “bạn” đem về xài với con. Má đổi cách xưng hô, kêu bạn ơi bạn à suốt nhưng cũng chỉ mở được một tí đủ cho má hé mắt nhìn vào cái thế giới vừa hổn tạp vừa buồn cười, vừa ngượng ngập vừa ngớ ngẩn đó, mà không thể lách mình qua.
Lúc đó cha đang đi chiếu bóng lưu động ở những xóm làng xa tít mù tắp, heo hút tới nỗi cảm giác gió thổi cũng phải vói. Lúc đó cha đang bắc loa rao về bộ phim sẽ chiếu tối nay, đang lắp máy chiếu, trèo cây mắc dây nhợ, căng phông màn… cũng có thể đang xuôi ghe từ nơi này sang nơi khác, cái máy Kohler tàn tạ cứ cả ngày chạy cà tịch cà tang trên sông sông rạch rạch. Buổi sáng của cha bắt đầu bằng việc tìm nguồn nước sạch để đánh răng, và giọng nói sang sảng của cha sẽ mở ra ban tối, ra rả trước buổi chiếu phim, với những thông báo chính sách mới của nhà nước, hay phương pháp chống rầy nâu hay kêu gọi đóng thuế nông nghiệp mùa này.
Những năm sau đó, trong lúc con mệt mỏi trước việc tại sao thằng nhỏ giữa hai đùi nó cứ ngóc lên bất thần giữa buổi học mà không có một cơn cớ nào rõ ràng, thì cha đang hồng hộc rượt theo cái phông vải bị giông tốc cuốn đi, đang phơi mấy cái phim sắp mốc. Trong lúc con hôn vào ảnh Jennifer Lopez và nghe nửa dưới ướt nhoe nhoét thì cha đang tát nước ghe. Đội chiếu bóng lại nhổ sào đi bãi mới.
Lần xây lại nhà cha về luôn hai tháng, thằng con cứ thảng thốt mỗi khi đụng độ cha trong nhà tắm, Ủa, sao cha ở nhà lâu vậy?. Thậm chí nó còn vô tình nói ra câu thắt họng hơn nhiều, trời đất, tới bữa nay mà cha cũng chưa đi sao?. Cha bần thần đến ngón chân út cũng bần thần, thấy cái sự vắng mặt của mình trong nhà này có gì đó không hợp lẽ đời cho lắm.
Nhưng cha không coi vài cái thảng thốt của con không giống như một lý do để bỏ đội chiếu bóng, và những chi tiết chảy máu mắt mà cha vẫn thường gặp như bữa cơm con chỉ dọn hai cái chén, đi học về nhìn thấy giày cha nó hỏi má ơi có khách nào ghé nhà, muốn chạy chơi đâu đó cũng xà quần đi kiếm má để hỏi dù cha ở sờ sờ ra đó… cũng không phải là lý do có thể buộc chân cha lại.
Chỉ khi đội chiếu bóng giải tán cha mới thôi lang bạt. Làm anh công chức xà quần với hai mét vuông bàn giấy đã khó, làm người trong nhà còn khó hơn. Có tối cha cằn nhằn, “áo em sao mà nhiều nút quá trời đất, mở xong hết ham…”, sáng sau má đem chiếu gối ra phơi, bên xóm người ta tủm tỉm cười, nói thím muốn ông chồng đỡ nóng ruột thì mặc cái đầm ngủ, tốc cái một là lên tới đầu, xong ngay. Má mắc cở quá ẩy cha ra ngoài ngủ chay cả tuần, sau cho vào chỉ vì cha gọi cửa không bao giờ xuống giọng, cả xuống giọng cũng không giống xuống giọng.
Cha gần như mất khả năng thầm thì, ông oang oang sang sảng nói chữ nào chữ nấy bự chảng quen rồi. Con cứ giật mình thon thót mỗi khi cha kêu tóc dài quá nhìn thiếu văn hóa, ăn bận rách rưới như một kẻ vô học, một lớp trẻ như vầy thì đất nước này còn có hy vọng gì… Cái quần jean mà nó bỏ công ra mài cho sờn cho bạc chỉ mặc lần đó, rồi thôi.
Cũng may, trường đại học đã rủ rê thằng con đi xa. Cũng may vừa lúc nó cảm thấy nhà ba người thật là chật đi đâu cũng vấp ánh mắt cũng bị vướng ánh mắt cũng ngợp trong ánh mắt thì nó có hội bỏ chạy tới một nơi cách đó ba trăm bảy mươi lăm cây số. Rất khoảng khoát.
Thằng con tận hưởng sự tự do mà cuộc đời ban thưởng. Hè thì đi mùa hè xanh dạy tụi con nít thổi bong bóng, hì hục xuống rạch vớt lục bình, bắc những cây cầu không phải ai qua cũng được. Lễ lạt khoác ba lô đi bụi lên rừng rú. Phủi cái đít thâm sì chai ngắt chào từ biệt trường đại học rồi cũng vậy, thằng con vẫn nhảy việc và đi miết, chỉ Tết mới về nhà, nói ba điều bốn chuyện xong chạy chơi mất biệt. Một bữa nó nhận ra cha đã biết thầm thì, khi hỏi chuyện vợ con bồ bịch gì tới đâu rồi mậy, sao không thấy dắt về chơi. Má cười nói ổng già hết hơi rồi, huyết áp bữa lên bữa xuống, oang oang sao nổi.
Lạ là thằng con không quen với một ông cha thầm thì. Cũng như hồi nhỏ không quen thấy cha ở nhà hơn ba ngày liên tục. Nhiều lúc nhìn cha đem phơi những cuộn phim kỹ niệm mốc xì như thể được quay suốt dưới mưa, mặt Nguyễn Chánh Tín cũng như Thương Tín, Lâm Tới, mặt của Thanh Lan cũng như Thúy An đều rổ hột mè chi chít… con cảm thấy tuyệt vọng vì không làm sao chấp nhận được những ngớ ngẩn cũ kỹ này.
Như vụ chụp hình.
Cũng có lần cả nhà mặc đồ đẹp định đi tiệm Bạn Trẻ chụp hình chung, má nhắc lại, bạn Tí nhớ không, năm đó là năm cọp, nên họ trang trí một rừng tre có cây mai ở giữa, có con cọp giấy ló đầu ra. Bạn Tí sợ khóc quá xá, dỗ hoài không được nên mất hứng, không chụp nữa. Thằng con nói chuyện xưa như cái bánh dừa sao con nhớ được, má ơi công chuyện ngập đầu con đây. Má nói nhanh đuổi theo một đứa toan bỏ chạy, ráng thu xếp lẹ về một chuyến cho bông Cẩm Chướng vui, nghen bạn nghen. Lời tuôn qua môi xong, má bỗng thấy mình như con bò cứ ợ cỏ lên mà nhai đi nhai lại, càng nhai càng lạt miệng quá chừng. Đầu dây bên kia không vọng một tiếng vang. Sau lặng phắt là một tràng dài tít tít tít.
Trên vách vẫn trống hoác, vôi vữa lớp rụng lớp ố vàng thành những hình thù quái đản. Cha pha ấm trà ngồi mường tượng nào rồng nào rắn nào khủng long, cảm giác nhà này như hang ổ của thú hoang. Uất quá cha đi lục tung lên thì lượm được hình má hồi mười tám tuổi nghiêng đầu xỏa tóc, cha hồi bốn mươi hai tuổi đang đứng chống nạnh bên máy chiếu do phóng viên báo Sài Gòn chụp, con hồi năm tuổi mặc cái áo lòi rún, đầu trọc đơm đầy ghẻ chóc. Không đọc được mối dây liên hệ nào giữa những tấm ảnh hiếm hoi này.
Lại gọi điện cho thằng con. Nó nói hay cha má rủ con Phèn ra tiệm chụp hình trước đi, con gởi cái ảnh con về, người ta đem ghép lại là cả nhà bên nhau, y như thiệt… Nói tới đó thằng con có hơi giật mình vì chữ “rủ” gắn với con Phèn hình như không hợp lắm, nhưng má coi Phèn như người còn gì, má biết Phèn yêu ánh trăng thích ăn đầu cá lóc nướng trui thích được tắm bằng sunsilk siêu mượt… trong khi cứ liên tục ép con mình ăn món cà chua dồn thịt. Ký ức đôi lúc trở nên bội bạc, làm má ngỡ sở thích của con không bao giờ thay đổi. Trời đất, mọi thứ đang biến dạng chóng mặt, một phút thôi đã đủ cho con bồ cũ trở thành gái có chồng, đủ cho máy bay trở thành máy sấy, đủ cho con gà sống trở thành gà sắp chết với chữ dương tính in rành rành trên giấy xét nghiệm… Có cái gì đứng yên đâu, huống chi chuyện thằng con ham ăn cà chua dồn thịt đến nỗi mắc nghẹn trợn trừng trợn trắng đã xảy ra mười ba năm trước.
Những hồi tưởng lùng nhùng xẹt qua đầu thằng con khi nó đang đong đếm coi ba chữ “rủ con Phèn” có mỉa mai có ẩn chứa tị hiềm không thì bỗng bên kia cha hạ giọng thầm thì, “nói vậy cha chết mầy mới chịu về hả con?”. Thằng con nghe đuối lưỡi, ui chao là sợ cái kiểu thầm thì như nghiến ngầm lại như nghèn nghẹn này. Thì về.
Nó nói với con bồ, ba anh đau. Đọc thấy con nhỏ há miệng ra định đòi đi theo, thằng con cắt cơn liền, không nghiêm trọng lắm, như vô viện nằm dưỡng sức ít bữa thôi mà. Lúc gặp sếp thì cơn cớ phải về quê ít bữa đổi thành chú qua đời. Thấy đỡ áy náy hơn vì nó không có chú. Thằng con không tin là người ta khi biết sự thật về quê chụp hình mà không cười té ghế, không mỉa mai viện cớ đi chơi à, không buột miệng nói bộ khùng sao?
Khùng. Thằng con cũng cảm thấy vậy khi xa lăn bánh. Quá trời khùng, ý nghĩ đó quăng quật nó như xô nó xuống xe ngay cửa ngõ thành phố. Để tiếp tục ngồi lại nó cố hình dung ra không khí rộn rã ở nhà, chắc con Phèn cũng nôn nao lo không biết răng cỏ xếu xáo vầy có còn tiệc tùng được mấy, chắc là má kêu cha chở đi chợ mang về một đống đồ ăn mà hồi Tết con ưa. Đó, hai người họ chỉ có thể nắm giữ được con của thời quá khứ trong khi nó đã trôi tuột đi rồi.
Nắm rịt lấy cái khoảnh khắc thằng con gọi điện cho hay nó đã lên xe, cha má đinh ninh cuối chiều sẽ tóm được nó. Nhưng những gì xảy ra trên quãng đường dài hàng bảy giờ đồng hồ nằm ngoài tầm với. Thấy ngồi ngó đếm từng cột cây số qua cũng tẻ nhạt, thằng con rải tin nhắn ra đầy xe, than chưa chi anh đã nhớ em rồi cho con bồ ruột, ra vẻ quan tâm nhỏ ơi dậy chưa ăn sáng chưa cho con bồ sơ cua, hỏi thằng bạn thân hồi đại học đã về cồn Tre nuôi cá bè, hỏi ê ngoắc tao không, đi ngang nhà nè. Đứa kia kêu ghé tắm sông đi, mùa này nước trong con gái trong thị xã ra cồn tắm đông lắm.
Khi thằng con chuồi xuống vệ đường như con lươn khẽ uốn người trườn đi êm ái, nó nghĩ chụp cái ảnh cũng đâu có lâu lắc gì, tối đa là hai mươi phút, kể cả xảy ra vài trục trặc một trong ba người và con chó nhắm mắt, hoặc ai đó không cười, hoặc ai đó lơ đãng ngó đi chỗ khác. Rốt cuộc màn trập máy ảnh vẫn mở và đóng xạch, lưu giữ mãi khoảnh khắc cả nhà ở bên nhau. Rốt cuộc cũng có bằng chứng thuyết phục họ là một gia đình.
Rốt cuộc thì thằng con cũng về dù nấn ná ở bãi sông có đông con gái mặc nguyên quần dài áo dài xuống tắm, dù có dừng lại ít chục phút hóng hớt vụ xe tải đâm chìm ghe lúa ở dọc đường. Tấm ảnh đã được treo lên, che bớt khoảng loang ố và tróc lở, vá đỡ cái hoang vu.
Không ai cười trong đó. Má không cười vì mới gãy răng cửa. Ba không cười vì đầu gối sưng như cột đình và trặc lọi bàn chân phải. Con chó không cười vì chó không biết cười hoặc có cười cũng không giống như cười. Thằng con không cười vì mãi nghĩ sao lúc xương xẩu cha và má va lộc cộc xuống mặt đường thì ở cồn Tre tim nó không nhói lên một tiếng nào không chút linh cảm nào, hay đã có mà nó mê chơi không nhận ra? Sao không ai nói nó nghe về cú té nhào của hai ông bà già trong lúc quay đầu xe ở chợ?
Hôm ấy cha vẫn thầm thì trong điện thoại khi thằng con gọi về nói đã ghé dọc đường chơi rồi.
Ừ chơi vui đi…
Cũng cần có thời gian cho mấy vết thương bớt sưng. Để còn chụp hình. Níu được nhau lúc nào hay lúc đó, đời đầy những rủi ro…
_____________________________________________
Nguyễn Ngọc Tư
Vào thời khắc cha quét váng nhện trên mảng tường tróc lở vôi và nhận ra trong nhà không hề có một tấm hình chụp chung nào chứng tỏ đây đang có một gia đình thì con đang lội mạng, nấn ná chỗ lễ đính hôn của một cô hoa hậu. Mùi xa hoa nào của buổi tiệc làm mũi nó dún lại trên gương mặt chảy dài thẩn thờ. Và cuộc gọi của cha đến khi nó đã chuyển qua chơi Bejeweled, những viên đá sặc sỡ vỡ vụn không làm nó nguôi đi chuyện cái áo đầm cô dâu kia mặc giá mười hai ngàn đô. Trời đất.
Về chụp hình cả nhà mình, cha nói hào hển, thở thì gần mà giọng hụp hửi ở đâu đâu, như đang ngoi ngóp dưới hồ. Thằng nhỏ thảng thốt hỏi lại, vụ gì cha? Về. Chụp hình. Cha gằn giọng và trước khi cúp máy, chọi qua thêm cục ngơ ngác nữa. Gấp.
Cái quán cà phê thằng con ngồi cách bến xe bảy cây số, cách sân bay mười hai cây, và cách bến tàu năm trăm mét. Tới những chỗ ấy thì sẽ cách nhà ngót ngét bốn trăm cây. Đường không phải là quá xa, chẳng lâu lắc gì cho lắm nhưng thằng con còn phải tốn cả tháng để hỏi đi hỏi lại, có đúng là cha kêu mình về để chụp hình không?
Gì thì chụp hình không giống một lý do, con không thể hình dung nổi chuyện phải bỏ công ăn chuyện làm đi hàng trăm cây số chỉ để toe miệng ra cười bên cạnh hai ông bà già và một con chó cũng già trong khi ông thợ chụp ảnh chổng mông đếm một hai ba. Thằng con nghĩ mẹ bệnh, nhà cháy, một người họ hàng thân cận nào đó cưới hoặc qua đời, hoặc đám giỗ ông bà nội ngoại mới là những cái cớ có thể chấp nhận được.
Bạn Tí cũng biết bông Cẩm Chướng nhà mình mà, tánh như nước nóng đổ dái. Ổng đang cằn nhằn nhức xương chuyện gián gặm nát cái hình hồi cưới má đây nè. Má nói, không quên đệm vào cái thở dài chừng ba thước tám. Những cái thở dài của má luôn xa vắng, trên điện thoại càng xa, như từ kiếp nào nối máy tới. Chỉ chữ bạn là ấm áp.
Má gọi con bằng bạn vào một hôm con không cho má coi cái nhọt trên mông nữa. Hồi đó con mười ba tuổi, giọng vỡ và trên người bỗng dưng mọc nhiều lông, đến nỗi nó nghĩ cứ đà này năm sau mình thành khỉ vô rừng leo cây ăn chuối mất. Nó sống trong nỗi hoang mang kinh khủng, chịu đựng một mình loay hoay một mình chống chọi một mình. Má thấy rõ ràng con ngày một xa, ra khỏi tầm với của mình, dù nó vẫn đang ngồi dặt dẹo chê cá tanh cơm lạt trước mặt mình đây. Má hỏi thăm khắp bạn bè, mượn mấy quyển sách tâm sinh lý về đọc, rốt cuộc xin được một chữ “bạn” đem về xài với con. Má đổi cách xưng hô, kêu bạn ơi bạn à suốt nhưng cũng chỉ mở được một tí đủ cho má hé mắt nhìn vào cái thế giới vừa hổn tạp vừa buồn cười, vừa ngượng ngập vừa ngớ ngẩn đó, mà không thể lách mình qua.
Lúc đó cha đang đi chiếu bóng lưu động ở những xóm làng xa tít mù tắp, heo hút tới nỗi cảm giác gió thổi cũng phải vói. Lúc đó cha đang bắc loa rao về bộ phim sẽ chiếu tối nay, đang lắp máy chiếu, trèo cây mắc dây nhợ, căng phông màn… cũng có thể đang xuôi ghe từ nơi này sang nơi khác, cái máy Kohler tàn tạ cứ cả ngày chạy cà tịch cà tang trên sông sông rạch rạch. Buổi sáng của cha bắt đầu bằng việc tìm nguồn nước sạch để đánh răng, và giọng nói sang sảng của cha sẽ mở ra ban tối, ra rả trước buổi chiếu phim, với những thông báo chính sách mới của nhà nước, hay phương pháp chống rầy nâu hay kêu gọi đóng thuế nông nghiệp mùa này.
Những năm sau đó, trong lúc con mệt mỏi trước việc tại sao thằng nhỏ giữa hai đùi nó cứ ngóc lên bất thần giữa buổi học mà không có một cơn cớ nào rõ ràng, thì cha đang hồng hộc rượt theo cái phông vải bị giông tốc cuốn đi, đang phơi mấy cái phim sắp mốc. Trong lúc con hôn vào ảnh Jennifer Lopez và nghe nửa dưới ướt nhoe nhoét thì cha đang tát nước ghe. Đội chiếu bóng lại nhổ sào đi bãi mới.
Lần xây lại nhà cha về luôn hai tháng, thằng con cứ thảng thốt mỗi khi đụng độ cha trong nhà tắm, Ủa, sao cha ở nhà lâu vậy?. Thậm chí nó còn vô tình nói ra câu thắt họng hơn nhiều, trời đất, tới bữa nay mà cha cũng chưa đi sao?. Cha bần thần đến ngón chân út cũng bần thần, thấy cái sự vắng mặt của mình trong nhà này có gì đó không hợp lẽ đời cho lắm.
Nhưng cha không coi vài cái thảng thốt của con không giống như một lý do để bỏ đội chiếu bóng, và những chi tiết chảy máu mắt mà cha vẫn thường gặp như bữa cơm con chỉ dọn hai cái chén, đi học về nhìn thấy giày cha nó hỏi má ơi có khách nào ghé nhà, muốn chạy chơi đâu đó cũng xà quần đi kiếm má để hỏi dù cha ở sờ sờ ra đó… cũng không phải là lý do có thể buộc chân cha lại.
Chỉ khi đội chiếu bóng giải tán cha mới thôi lang bạt. Làm anh công chức xà quần với hai mét vuông bàn giấy đã khó, làm người trong nhà còn khó hơn. Có tối cha cằn nhằn, “áo em sao mà nhiều nút quá trời đất, mở xong hết ham…”, sáng sau má đem chiếu gối ra phơi, bên xóm người ta tủm tỉm cười, nói thím muốn ông chồng đỡ nóng ruột thì mặc cái đầm ngủ, tốc cái một là lên tới đầu, xong ngay. Má mắc cở quá ẩy cha ra ngoài ngủ chay cả tuần, sau cho vào chỉ vì cha gọi cửa không bao giờ xuống giọng, cả xuống giọng cũng không giống xuống giọng.
Cha gần như mất khả năng thầm thì, ông oang oang sang sảng nói chữ nào chữ nấy bự chảng quen rồi. Con cứ giật mình thon thót mỗi khi cha kêu tóc dài quá nhìn thiếu văn hóa, ăn bận rách rưới như một kẻ vô học, một lớp trẻ như vầy thì đất nước này còn có hy vọng gì… Cái quần jean mà nó bỏ công ra mài cho sờn cho bạc chỉ mặc lần đó, rồi thôi.
Cũng may, trường đại học đã rủ rê thằng con đi xa. Cũng may vừa lúc nó cảm thấy nhà ba người thật là chật đi đâu cũng vấp ánh mắt cũng bị vướng ánh mắt cũng ngợp trong ánh mắt thì nó có hội bỏ chạy tới một nơi cách đó ba trăm bảy mươi lăm cây số. Rất khoảng khoát.
Thằng con tận hưởng sự tự do mà cuộc đời ban thưởng. Hè thì đi mùa hè xanh dạy tụi con nít thổi bong bóng, hì hục xuống rạch vớt lục bình, bắc những cây cầu không phải ai qua cũng được. Lễ lạt khoác ba lô đi bụi lên rừng rú. Phủi cái đít thâm sì chai ngắt chào từ biệt trường đại học rồi cũng vậy, thằng con vẫn nhảy việc và đi miết, chỉ Tết mới về nhà, nói ba điều bốn chuyện xong chạy chơi mất biệt. Một bữa nó nhận ra cha đã biết thầm thì, khi hỏi chuyện vợ con bồ bịch gì tới đâu rồi mậy, sao không thấy dắt về chơi. Má cười nói ổng già hết hơi rồi, huyết áp bữa lên bữa xuống, oang oang sao nổi.
Lạ là thằng con không quen với một ông cha thầm thì. Cũng như hồi nhỏ không quen thấy cha ở nhà hơn ba ngày liên tục. Nhiều lúc nhìn cha đem phơi những cuộn phim kỹ niệm mốc xì như thể được quay suốt dưới mưa, mặt Nguyễn Chánh Tín cũng như Thương Tín, Lâm Tới, mặt của Thanh Lan cũng như Thúy An đều rổ hột mè chi chít… con cảm thấy tuyệt vọng vì không làm sao chấp nhận được những ngớ ngẩn cũ kỹ này.
Như vụ chụp hình.
Cũng có lần cả nhà mặc đồ đẹp định đi tiệm Bạn Trẻ chụp hình chung, má nhắc lại, bạn Tí nhớ không, năm đó là năm cọp, nên họ trang trí một rừng tre có cây mai ở giữa, có con cọp giấy ló đầu ra. Bạn Tí sợ khóc quá xá, dỗ hoài không được nên mất hứng, không chụp nữa. Thằng con nói chuyện xưa như cái bánh dừa sao con nhớ được, má ơi công chuyện ngập đầu con đây. Má nói nhanh đuổi theo một đứa toan bỏ chạy, ráng thu xếp lẹ về một chuyến cho bông Cẩm Chướng vui, nghen bạn nghen. Lời tuôn qua môi xong, má bỗng thấy mình như con bò cứ ợ cỏ lên mà nhai đi nhai lại, càng nhai càng lạt miệng quá chừng. Đầu dây bên kia không vọng một tiếng vang. Sau lặng phắt là một tràng dài tít tít tít.
Trên vách vẫn trống hoác, vôi vữa lớp rụng lớp ố vàng thành những hình thù quái đản. Cha pha ấm trà ngồi mường tượng nào rồng nào rắn nào khủng long, cảm giác nhà này như hang ổ của thú hoang. Uất quá cha đi lục tung lên thì lượm được hình má hồi mười tám tuổi nghiêng đầu xỏa tóc, cha hồi bốn mươi hai tuổi đang đứng chống nạnh bên máy chiếu do phóng viên báo Sài Gòn chụp, con hồi năm tuổi mặc cái áo lòi rún, đầu trọc đơm đầy ghẻ chóc. Không đọc được mối dây liên hệ nào giữa những tấm ảnh hiếm hoi này.
Lại gọi điện cho thằng con. Nó nói hay cha má rủ con Phèn ra tiệm chụp hình trước đi, con gởi cái ảnh con về, người ta đem ghép lại là cả nhà bên nhau, y như thiệt… Nói tới đó thằng con có hơi giật mình vì chữ “rủ” gắn với con Phèn hình như không hợp lắm, nhưng má coi Phèn như người còn gì, má biết Phèn yêu ánh trăng thích ăn đầu cá lóc nướng trui thích được tắm bằng sunsilk siêu mượt… trong khi cứ liên tục ép con mình ăn món cà chua dồn thịt. Ký ức đôi lúc trở nên bội bạc, làm má ngỡ sở thích của con không bao giờ thay đổi. Trời đất, mọi thứ đang biến dạng chóng mặt, một phút thôi đã đủ cho con bồ cũ trở thành gái có chồng, đủ cho máy bay trở thành máy sấy, đủ cho con gà sống trở thành gà sắp chết với chữ dương tính in rành rành trên giấy xét nghiệm… Có cái gì đứng yên đâu, huống chi chuyện thằng con ham ăn cà chua dồn thịt đến nỗi mắc nghẹn trợn trừng trợn trắng đã xảy ra mười ba năm trước.
Những hồi tưởng lùng nhùng xẹt qua đầu thằng con khi nó đang đong đếm coi ba chữ “rủ con Phèn” có mỉa mai có ẩn chứa tị hiềm không thì bỗng bên kia cha hạ giọng thầm thì, “nói vậy cha chết mầy mới chịu về hả con?”. Thằng con nghe đuối lưỡi, ui chao là sợ cái kiểu thầm thì như nghiến ngầm lại như nghèn nghẹn này. Thì về.
Nó nói với con bồ, ba anh đau. Đọc thấy con nhỏ há miệng ra định đòi đi theo, thằng con cắt cơn liền, không nghiêm trọng lắm, như vô viện nằm dưỡng sức ít bữa thôi mà. Lúc gặp sếp thì cơn cớ phải về quê ít bữa đổi thành chú qua đời. Thấy đỡ áy náy hơn vì nó không có chú. Thằng con không tin là người ta khi biết sự thật về quê chụp hình mà không cười té ghế, không mỉa mai viện cớ đi chơi à, không buột miệng nói bộ khùng sao?
Khùng. Thằng con cũng cảm thấy vậy khi xa lăn bánh. Quá trời khùng, ý nghĩ đó quăng quật nó như xô nó xuống xe ngay cửa ngõ thành phố. Để tiếp tục ngồi lại nó cố hình dung ra không khí rộn rã ở nhà, chắc con Phèn cũng nôn nao lo không biết răng cỏ xếu xáo vầy có còn tiệc tùng được mấy, chắc là má kêu cha chở đi chợ mang về một đống đồ ăn mà hồi Tết con ưa. Đó, hai người họ chỉ có thể nắm giữ được con của thời quá khứ trong khi nó đã trôi tuột đi rồi.
Nắm rịt lấy cái khoảnh khắc thằng con gọi điện cho hay nó đã lên xe, cha má đinh ninh cuối chiều sẽ tóm được nó. Nhưng những gì xảy ra trên quãng đường dài hàng bảy giờ đồng hồ nằm ngoài tầm với. Thấy ngồi ngó đếm từng cột cây số qua cũng tẻ nhạt, thằng con rải tin nhắn ra đầy xe, than chưa chi anh đã nhớ em rồi cho con bồ ruột, ra vẻ quan tâm nhỏ ơi dậy chưa ăn sáng chưa cho con bồ sơ cua, hỏi thằng bạn thân hồi đại học đã về cồn Tre nuôi cá bè, hỏi ê ngoắc tao không, đi ngang nhà nè. Đứa kia kêu ghé tắm sông đi, mùa này nước trong con gái trong thị xã ra cồn tắm đông lắm.
Khi thằng con chuồi xuống vệ đường như con lươn khẽ uốn người trườn đi êm ái, nó nghĩ chụp cái ảnh cũng đâu có lâu lắc gì, tối đa là hai mươi phút, kể cả xảy ra vài trục trặc một trong ba người và con chó nhắm mắt, hoặc ai đó không cười, hoặc ai đó lơ đãng ngó đi chỗ khác. Rốt cuộc màn trập máy ảnh vẫn mở và đóng xạch, lưu giữ mãi khoảnh khắc cả nhà ở bên nhau. Rốt cuộc cũng có bằng chứng thuyết phục họ là một gia đình.
Rốt cuộc thì thằng con cũng về dù nấn ná ở bãi sông có đông con gái mặc nguyên quần dài áo dài xuống tắm, dù có dừng lại ít chục phút hóng hớt vụ xe tải đâm chìm ghe lúa ở dọc đường. Tấm ảnh đã được treo lên, che bớt khoảng loang ố và tróc lở, vá đỡ cái hoang vu.
Không ai cười trong đó. Má không cười vì mới gãy răng cửa. Ba không cười vì đầu gối sưng như cột đình và trặc lọi bàn chân phải. Con chó không cười vì chó không biết cười hoặc có cười cũng không giống như cười. Thằng con không cười vì mãi nghĩ sao lúc xương xẩu cha và má va lộc cộc xuống mặt đường thì ở cồn Tre tim nó không nhói lên một tiếng nào không chút linh cảm nào, hay đã có mà nó mê chơi không nhận ra? Sao không ai nói nó nghe về cú té nhào của hai ông bà già trong lúc quay đầu xe ở chợ?
Hôm ấy cha vẫn thầm thì trong điện thoại khi thằng con gọi về nói đã ghé dọc đường chơi rồi.
Ừ chơi vui đi…
Cũng cần có thời gian cho mấy vết thương bớt sưng. Để còn chụp hình. Níu được nhau lúc nào hay lúc đó, đời đầy những rủi ro…
_____________________________________________
Thứ Sáu, 24 tháng 12, 2010
Địa đàng không quên
Truyện ngắn của MẠC CAN
Tôi sinh ra trên sông Tiền - còn có một tên khác là sông Bảo Định - thuộc tỉnh Định Tường, thường gọi là Mỹ Tho, nay là tỉnh Tiền Giang. Vì nghề nghiệp, tôi đã đi và sống nhiều nơi, về các tỉnh thành khác. Không hiểu sao tôi cứ hay nhớ các rạp chiếu bóng ở những nơi từng đi qua. Các huyện xa xôi hẻo lánh có vài rạp chiếu bóng nhỏ không khí trầm lặng buồn hiu, mỗi tuần chỉ chiếu một hai suất, dù vậy mỗi khi ở đó tôi vẫn hay chờ vô coi chiếu bóng. Mỹ Tho có rạp chiếu bóng ở giữa con phố khá đẹp nhìn ra bờ sông lớn. Khi ở Sài Gòn, tôi quen rong chơi các đường phố và vẫn thích đi coi chiếu bóng. Tôi khoái nhất là các rạp chiếu bóng ở phía trước để tấm panô vẽ tuồng phim bằng bột màu coi rất hấp dẫn. Rồi tôi sưu tập những tờ chương trình quảng cáo, giới thiệu phim, có hình tài tử dán vô một cuốn tập dầy. Thường lệ vào buổi chiều mát mẻ, đông đảo khán giả tới mua vé, đứng chờ vô rạp, con nít chạy giỡn chung quanh, người lớn nói chuyện vui nhộn. Có lẽ nhờ vậy, nhờ ghiền coi chiếu bóng, tôi vừa coi vừa vô tình học lỏm cách diễn và cách quay phim hồi nào không hay, cho nên khi lớn lên có dịp gặp người đi săn ảnh chọn vai cho phim nào đó, tôi cũng được mời làm diễn viên điện ảnh, vai… phụ thiệt là phụ, cho một vài phim. Vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Tân Định, Đa Kao, Bà Chiểu, Khánh Hội… lúc đó có khá nhiều rạp chiếu bóng. Trung tâm Sài Gòn có rạp Rex, một rạp lớn và một rạp mini trên lầu. Cách đó không xa, ở các con đường nho nhỏ khác cũng không thiếu. Rạp Vĩnh Lợi rạp Đại Nam rạp Tân Thuận chiếu phim Tây, rạp Long Phụng chiếu phim Ấn Độ, còn riêng rạp Lê Lợi thì chuyên trị phim đen trắng chọn lọc. Mới đây tôi gặp một ông bạn già, nói chuyện nầy nọ sau bao nhiêu năm không gặp. Anh với tôi ngồi suốt đêm, bên chai rượu đỏ, nói về các tài tử điện ảnh, về những cuốn phim mà chúng tôi coi lúc còn trẻ, trong các rạp nhỏ xíu tối hù, nhiều kỷ niệm khó quên. Tôi với anh luôn cùng đố nhau nhớ tên các rạp, rạp nào nằm ở đâu, trên con đường gì, nếu tôi nhớ không kịp thì anh nhắc, rồi ngược lại, lần hồi chúng tôi nhớ ra nào là rạp Cầu Bông ở Đa Kao, rạp Moderne và Kinh Thành gần chợ Tân Định, rạp Ca Thay khu Chợ Cũ… Cũng có khi hai đứa bị “đứt phim”, không nhớ nổi. Nhiều khi chỉ nhớ mang máng ở khu phố nào đó trước kia có một rạp chiếu bóng, vậy thôi. Tôi nói với anh về rạp chiếu bóng Eden nằm trong khu thương xá có nhiều tiệm bán quà lưu niệm, sách báo và tranh ảnh. Anh lim dim mắt lắng nghe tôi nói:
- Lúc đó anh biết không, tôi có mối tình đầu tiên.
Anh bạn tôi vừa cười vừa té ho vì trong câu chuyện gì gì tôi cũng chen vào một chút chuyện tình. Mà chuyện tình nào cũng đầu tiên. Tôi lại hỏi anh:
- Anh nhớ Quyên không?
- Quyên nào?
Anh không nhớ là Quyên nào, vì thật ra có không ít cô gái tên Quyên. Lúc đó tôi với anh và Quyên nầy là bạn thân cùng làm chung ở một nhà hàng ăn cũng là phòng trà ca nhạc. Anh bạn chững chạc, to cao đẹp trai, làm về âm thanh ánh sáng. Quyên ở trong đoàn múa. Còn tôi xấu trai, lùn tịt thì… học nấu bếp và học làm người pha chế rượu. Chuyện lạ kỳ làm sao Quyên lại khoái anh bếp… tương lai là tôi, có lẽ vì - chỉ là có lẽ thôi - mỗi tối tôi hay đem lên phòng hóa trang của đoàn múa vài dĩa khoai tây chiên, trong đó có một dĩa đặc biệt dành riêng cho em.
Cho tới bây giờ tôi vẫn chưa hiểu vì sao lúc đó, hay là nhằm giờ linh nên Quyên bất thần rủ tôi đi coi chiếu bóng mà không rủ anh bạn đẹp trai. Quyên rủ một mình tôi, thôi thì cũng đừng nghĩ là nhờ dĩa khoai tây chiên giòn.
- À, Quyên “khoai tây chiên”!
Tới đây thì anh bạn chợt nhớ ra. Còn tôi thì xác nhận:
- Không sai.
Một buổi tối Quyên từ phòng hóa trang trên lầu tư xuống bếp tìm tôi trả cái dĩa:
- Anh gì ơi. Chiều mai em đi làm sớm.
Tôi lau bàn tay đang dính dầu mỡ vào cái tạp dề mang trên bụng vì tôi đang phụ bếp khử tỏi xắt chiên thịt bò áp chảo. Mỗi khi Quyên trả cái dĩa đựng khoai, tôi hay làm bộ vô ý khẽ chạm vào một ngón tay của Quyên, có chút xíu “gia vị” vậy thôi cũng đà quá đã. Quyên không để ý chuyện nhỏ đó, em cầm một củ khoai gọt gọt vỏ liệng vô cái sọt rồi nói tiếp:
- Anh đi coi chiếu bóng với em nha?
Gì chớ chiếu bóng là tui khoái hết biết, lại còn “đi coi với em nha?” thì sướng run người. Còn một chuyện, cái rạp Eden nầy có xa xôi gì, chỉ vài bước đi tắt qua tiệm bánh ngọt là tới cửa bếp nhà hàng nơi tôi chiên khoai đó thôi. Ngày nào tôi lại không tới thăm ông Chà Và gác cửa, vô coi cọp một suất. Tôi biết chiều mai rạp Eden sẽ chiếu phim ma. Coi phim ma thì các cô gái hay sợ kêu rú lên, lúc đó là dịp tôi sẽ nắm chặt tay nàng!
Chiều hôm sau tôi cũng… đi làm sớm. Ngượng nghịu với cái áo sơmi mới, tôi luẩn quẩn trong hành lang Eden mà tim đập mạnh, bụng dạ đánh lôtô. Hay là Quyên với mấy cô gái trong đoàn múa bày trò chọc tôi? Nhưng ai bước xuống xe xích lô bên kia đường kia kìa? Quyên chớ còn ai, chắc là Quyên hẹn với anh chàng nào đó đi coi chiếu bóng! Mấy cô trẻ hay quên mà thường thì không nói hết ý định của mình. Kỳ đời cho tới giờ phút ấy tôi vẫn “nghi” người mà Quyên vui miệng hẹn hôm qua không phải là tôi! Quyên cầm cái dù làm duyên đi qua đường, giữa đường Quyên làm duyên dừng lại chờ một chiếc xe hơi chạy qua… Diễn viên mà! Tới lề đường bên nầy Quyên chăm chú nhìn tôi có vẻ ngạc nhiên. Sao lại ngạc nhiên? Thôi đúng rồi, chắc không phải chỉ là tôi mà còn một người nữa! Tôi nghĩ Quyên nhìn xuôi ngược rồi sẽ hỏi “Anh chờ ai vậy?”, nhưng Quyên cười và nói khác hơn là tôi tưởng tượng:
- Anh chờ em lâu chưa?
Bỗng nhiên tôi nói ngọng:
- A…n…h có đem theo… túi khoai tây chiên.
- Cũng được, khỏi mua ở ngoài. Anh mua vé chưa anh?
Hai ba tiếng kêu anh liền một lúc. Quyên đi trước, cổ chân trái của Quyên có đeo chiếc vòng vàng tây với cái chuông nhỏ, mỗi bước đi nghe leng keng vui tai. Quyên vừa đi vừa múa qua các tiệm chép và bán tranh, bán sách, tới cửa vào trong rạp. Tôi lù khù không dám bước song song với Quyên, vì Quyên cao hơn tôi đẹp hơn tôi nhiều, ví lại hồi nào giờ nói thiệt bà con thương, tôi có đi chơi chung với con gái đâu mà. Tôi tới cửa tò vò mua hai vé. Người bán vé cúi thấp xuống, tôi thấy cặp mắt mở lớn hết pha của cô ta nhìn tôi ngạc nhiên, rồi cái ông Chà Và gác cửa xé vé cũng nhìn tôi không khác. Quyên cầm túi khoai tây chiên đi trước. Tôi đưa cho ông Chà Và hai vé. Ông ta kín đáo chỉ Quyên, tôi gật đầu thì ông ta cười, theo tôi nghĩ là ông ta… khen tôi có bồ đẹp.
Rạp Eden có cái màn dầy che ánh sáng khi khán giả bước vô, ai cũng phải chui qua mới tới vườn địa đàng lúc nào cũng tối hù trong kia. Một lúc sau tôi mới quen mắt, thấy Quyên đã ngồi xuống ghế chỗ bên cạnh tôi đang đứng. Mắt Quyên nhìn lên màn ảnh, còn miệng thì nhai khoai tây. Trên màn ảnh lúc đó có một chiếc xe ngựa chạy trong mưa tuyết, trên con đường rừng vắng hoe. Rồi chiếc xe dừng lại nơi cửa… nhà mồ. Bàn tay của Quyên đang thò trong cái túi giấy đựng khoai tây, bỗng nằm im trong đó luôn, còn miệng Quyên cũng dừng lại không nhai nữa. Hình như có tiếng gì kêu leng keng dưới chân Quyên. Quyên giật chân co lên ghế, vẫn còn tiếng kêu leng keng như lục lạc trên cổ hai con ngựa cạnh nhà mồ kia. Người xà ích vẫn ngồi trên xe giữ cương ngựa. Từ bên trong nhà mồ, một con dơi bay qua cổng sắt chui vô hòm xe, hiện ra một người đàn ông ốm nhách. Ông ta nhe chiếc nanh nhọn dài ứa máu, quay lại nhìn xuống… khán giả. Quyên rú lên làm rơi cả túi khoai tây chiên, nắm chặt tay tôi kéo tôi ngồi xuống cạnh Quyên. Quyên trốn con ma, úp mặt vào vai tôi, mùi thơm từ mái tóc của Quyên làm tôi ngây ngất. Tuy vậy tôi cũng không quên thời cơ quyết liệt nầy, được cầm bàn tay của nàng một cách chánh thức, khỏi phải trung gian qua dĩa khoai, ấy là cũng nhờ cái ông ma cà rồng trên màn ảnh kia. Phim ma hay thật, đúng là phim ma chánh hiệu. Quyên nhắm mắt không coi nữa, mà thời gian vô tình vẫn còn hiệu lực, vì hai đứa về nhà hàng lúc nầy cũng còn sớm, Quyên chưa tới giờ ra sân khấu còn tôi chưa chiên khoai. Tôi xúc động để yên cho Quyên ngủ vùi trên vai tôi mà không dám cục cựa, rủi Quyên thức thì uổng, cảm giác của tôi lúc đó như lên Thiên Thai, bây giờ già rồi nhớ lại cũng còn run. Tôi ngồi im re hít thở nhẹ cho tới khi đèn trên trần rạp bật sáng, nhìn lại chỉ có tôi với Quyên trong cái rạp vắng hoe. Tối hôm đó tôi vẫn… chiên khoai nhưng không dám đem dĩa khoai lên phòng hóa trang. Tôi nghĩ là các cô kia đã biết chuyện. “Tôi Với Quyên Yêu Nhau”, năm chữ nầy có thể làm tên cho một cuốn phim ăn khách lắm chứ. Tôi vừa hãnh diện vừa tội nghiệp cho Quyên vì tôi chỉ là anh chàng phụ bếp.
Có những cuộc tình giễu cợt như vậy làm cho người ta vui sống một lúc. Những con đường lá me bay bay dưới mưa, và rạp chiếu bóng của các cặp tình nhân với tôi đã quen thuộc. Riêng với rạp Eden thì còn khá nhiều chuyện để nhớ. Toàn bộ rạp chiếu bóng nầy nằm trong tòa nhà thương xá và những căn phòng cho thuê, kín bưng không hề có chút ánh sáng mặt trời. Dường như chỉ có mỗi tôi biết một nơi có chút ánh sáng ngoài đường phố lọt vào trong rạp. Lâu lâu chán cái cảnh gọt khoai rồi tập pha rượu, tôi hay chuồn ra ngả sau nhà hàng tới cười cười với ông Chà Và gác cửa rạp, rồi chui qua cái màn dầy vô coi phim, nhiều lúc ngủ quên luôn trong đó. Trong rạp tối hù, cái tủ bán kem thường ngày luôn có một người mà tôi không hề thấy rõ mặt ngồi cạnh. Nhưng vào một suất chiếu buổi trưa tôi không thấy người đó, vì vậy mới thấy sau chỗ cái ghế anh ta ngồi có chút ánh sáng lóe lên. Ánh sáng từ đâu chui qua kẽ hở, có lẽ là khi xây cất khu rạp những người thợ hồ quên không trét xi măng kỹ. Tôi tò mò đứng nhìn. Kẽ hở chỉ rộng chừng ngón tay, khi tôi áp mắt nhìn ra thì thấy thấp thoáng ngoài kia là đường phố tràn ngập ánh nắng, nhưng không thể định hướng được là nơi nào vì tầm mắt qua kẽ hở bị hạn chế khá nhiều. Tôi lấy que kem đút qua kẽ hở làm dấu, rồi hàng ngày tôi đi quanh ngoài khu phố thương xá tìm... que kem, tức là tìm nơi mà ánh sáng ngoài phố chui vào trong vườn địa đàng.
Từ buổi chiều đi coi chiếu bóng với Quyên cho tới buổi tối hôm đó và những ngày sau, tôi khó gặp Quyên. Tôi nghĩ là Quyên hối hận việc rủ anh chàng cù lần nhát gái là tôi đi coi phim ma. Tôi cũng còn một vài lần đem dĩa khoai chiên lên phòng hóa trang, nhưng Quyên không mặn mòi lắm, rồi sau đó chuyện dĩa khoai chiên và Quyên đi vào kỷ niệm.
Một ngày buồn hiu, tôi vô rạp Eden coi chiếu bóng một mình rồi tò mò tới gần cái tủ kem sát vách tường, nhìn qua kẽ hở. Bên trong nầy là rạp chiếu bóng còn ngoài kia là đường phố. Tôi nhắm một mắt nhìn một mắt ra đường bất chợt thấy một - cận ảnh - cổ chân một cô gái có sợi dây chuyền vàng tây và cái chuông nhỏ, rồi thì - toàn hẹp - bên cạnh là đôi giày tây láng bóng của một người con trai. Mắt tôi - lia lên - một chút theo khoảng dài của kẽ hở - như là với ống kính zoom. Tôi thấy bàn tay người con trai nắm chặt bàn tay người con gái…
Từ ngày đó cho tới khi tôi trôi dạt tứ phương tám hướng, sao tôi vẫn nhớ mãi những rạp chiếu bóng và những con đường nhộn nhịp của Sài Gòn hoa lệ. Nhiều lần tôi trở về vẫn có ý tìm que kem mà tôi làm dấu bên trong vườn địa đàng. Nói vậy cho đỡ nhớ chớ que kem nào mà còn, vì mấy chục năm đã qua, đi quanh quẩn trên đường phố, chung quanh rạp chiếu bóng, tìm hoài vẫn không thấy nơi nào có cái kẽ hở để nhìn vào trong rạp. Nhìn ra thì đã mà nhìn vô thì không thể. Tôi vốn nhiều tưởng tượng và hay tự làm khổ mình. Song tôi tin là ở trong rạp chiếu bóng mà Quyên rủ tôi đi coi phim ngày nào đó đã xa, còn một nơi có chút ánh sáng xuyên qua tường, dù cho là không có đi nữa tôi cũng không bao giờ quên. Làm sao mà quên được, dù kỷ niệm chỉ còn là cay đắng. Thôi thì tôi cũng không cách nào khác, để nhớ chút hương xưa trên mái tóc Quyên, là tìm về một buổi chiều em ngủ say giấc bên tôi. Đâu đó cho tới bây giờ vẫn còn phảng phất mùi khoai tây chiên…
oOo
Chuyện tới đây là hết, nhưng tôi nghĩ là nên đùa thêm một chút cho vui. Nếu như có đạo diễn nào muốn làm phim theo truyện ngắn nầy, tôi sẽ kể dài ra thêm. Quyên mà biết thì không chừng em còn ôm chặt tôi hơn. Trên trần nhà và phía sau tấm phông trắng màn ảnh của rạp Eden, sẽ có nhiều con ma khác, từ oan hồn của những tình nhân từng ngồi bên nhau trong rạp Eden về tìm lại chút kỷ niệm xưa… Còn rất nhiều chuyện hấp dẫn xảy ra trong Vườn Địa Đàng. Nhưng bây giờ thì xin dừng lại.
À, tôi còn quên một chuyện. Hình như người bán tủ kem lâu lâu lại biến mất. Có lúc tôi thấy anh ta đứng đâu đó, trong bất cứ phim nào. Diễn viên điện ảnh nầy xuất hiện nhiều nhất là mỗi lần rạp chiếu phim ma. Rồi từ trong phim, anh ta lại trở xuống ngồi trong bóng tối cạnh tủ kem…
___________________________________________
Tôi sinh ra trên sông Tiền - còn có một tên khác là sông Bảo Định - thuộc tỉnh Định Tường, thường gọi là Mỹ Tho, nay là tỉnh Tiền Giang. Vì nghề nghiệp, tôi đã đi và sống nhiều nơi, về các tỉnh thành khác. Không hiểu sao tôi cứ hay nhớ các rạp chiếu bóng ở những nơi từng đi qua. Các huyện xa xôi hẻo lánh có vài rạp chiếu bóng nhỏ không khí trầm lặng buồn hiu, mỗi tuần chỉ chiếu một hai suất, dù vậy mỗi khi ở đó tôi vẫn hay chờ vô coi chiếu bóng. Mỹ Tho có rạp chiếu bóng ở giữa con phố khá đẹp nhìn ra bờ sông lớn. Khi ở Sài Gòn, tôi quen rong chơi các đường phố và vẫn thích đi coi chiếu bóng. Tôi khoái nhất là các rạp chiếu bóng ở phía trước để tấm panô vẽ tuồng phim bằng bột màu coi rất hấp dẫn. Rồi tôi sưu tập những tờ chương trình quảng cáo, giới thiệu phim, có hình tài tử dán vô một cuốn tập dầy. Thường lệ vào buổi chiều mát mẻ, đông đảo khán giả tới mua vé, đứng chờ vô rạp, con nít chạy giỡn chung quanh, người lớn nói chuyện vui nhộn. Có lẽ nhờ vậy, nhờ ghiền coi chiếu bóng, tôi vừa coi vừa vô tình học lỏm cách diễn và cách quay phim hồi nào không hay, cho nên khi lớn lên có dịp gặp người đi săn ảnh chọn vai cho phim nào đó, tôi cũng được mời làm diễn viên điện ảnh, vai… phụ thiệt là phụ, cho một vài phim. Vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Tân Định, Đa Kao, Bà Chiểu, Khánh Hội… lúc đó có khá nhiều rạp chiếu bóng. Trung tâm Sài Gòn có rạp Rex, một rạp lớn và một rạp mini trên lầu. Cách đó không xa, ở các con đường nho nhỏ khác cũng không thiếu. Rạp Vĩnh Lợi rạp Đại Nam rạp Tân Thuận chiếu phim Tây, rạp Long Phụng chiếu phim Ấn Độ, còn riêng rạp Lê Lợi thì chuyên trị phim đen trắng chọn lọc. Mới đây tôi gặp một ông bạn già, nói chuyện nầy nọ sau bao nhiêu năm không gặp. Anh với tôi ngồi suốt đêm, bên chai rượu đỏ, nói về các tài tử điện ảnh, về những cuốn phim mà chúng tôi coi lúc còn trẻ, trong các rạp nhỏ xíu tối hù, nhiều kỷ niệm khó quên. Tôi với anh luôn cùng đố nhau nhớ tên các rạp, rạp nào nằm ở đâu, trên con đường gì, nếu tôi nhớ không kịp thì anh nhắc, rồi ngược lại, lần hồi chúng tôi nhớ ra nào là rạp Cầu Bông ở Đa Kao, rạp Moderne và Kinh Thành gần chợ Tân Định, rạp Ca Thay khu Chợ Cũ… Cũng có khi hai đứa bị “đứt phim”, không nhớ nổi. Nhiều khi chỉ nhớ mang máng ở khu phố nào đó trước kia có một rạp chiếu bóng, vậy thôi. Tôi nói với anh về rạp chiếu bóng Eden nằm trong khu thương xá có nhiều tiệm bán quà lưu niệm, sách báo và tranh ảnh. Anh lim dim mắt lắng nghe tôi nói:
- Lúc đó anh biết không, tôi có mối tình đầu tiên.
Anh bạn tôi vừa cười vừa té ho vì trong câu chuyện gì gì tôi cũng chen vào một chút chuyện tình. Mà chuyện tình nào cũng đầu tiên. Tôi lại hỏi anh:
- Anh nhớ Quyên không?
- Quyên nào?
Anh không nhớ là Quyên nào, vì thật ra có không ít cô gái tên Quyên. Lúc đó tôi với anh và Quyên nầy là bạn thân cùng làm chung ở một nhà hàng ăn cũng là phòng trà ca nhạc. Anh bạn chững chạc, to cao đẹp trai, làm về âm thanh ánh sáng. Quyên ở trong đoàn múa. Còn tôi xấu trai, lùn tịt thì… học nấu bếp và học làm người pha chế rượu. Chuyện lạ kỳ làm sao Quyên lại khoái anh bếp… tương lai là tôi, có lẽ vì - chỉ là có lẽ thôi - mỗi tối tôi hay đem lên phòng hóa trang của đoàn múa vài dĩa khoai tây chiên, trong đó có một dĩa đặc biệt dành riêng cho em.
Cho tới bây giờ tôi vẫn chưa hiểu vì sao lúc đó, hay là nhằm giờ linh nên Quyên bất thần rủ tôi đi coi chiếu bóng mà không rủ anh bạn đẹp trai. Quyên rủ một mình tôi, thôi thì cũng đừng nghĩ là nhờ dĩa khoai tây chiên giòn.
- À, Quyên “khoai tây chiên”!
Tới đây thì anh bạn chợt nhớ ra. Còn tôi thì xác nhận:
- Không sai.
Một buổi tối Quyên từ phòng hóa trang trên lầu tư xuống bếp tìm tôi trả cái dĩa:
- Anh gì ơi. Chiều mai em đi làm sớm.
Tôi lau bàn tay đang dính dầu mỡ vào cái tạp dề mang trên bụng vì tôi đang phụ bếp khử tỏi xắt chiên thịt bò áp chảo. Mỗi khi Quyên trả cái dĩa đựng khoai, tôi hay làm bộ vô ý khẽ chạm vào một ngón tay của Quyên, có chút xíu “gia vị” vậy thôi cũng đà quá đã. Quyên không để ý chuyện nhỏ đó, em cầm một củ khoai gọt gọt vỏ liệng vô cái sọt rồi nói tiếp:
- Anh đi coi chiếu bóng với em nha?
Gì chớ chiếu bóng là tui khoái hết biết, lại còn “đi coi với em nha?” thì sướng run người. Còn một chuyện, cái rạp Eden nầy có xa xôi gì, chỉ vài bước đi tắt qua tiệm bánh ngọt là tới cửa bếp nhà hàng nơi tôi chiên khoai đó thôi. Ngày nào tôi lại không tới thăm ông Chà Và gác cửa, vô coi cọp một suất. Tôi biết chiều mai rạp Eden sẽ chiếu phim ma. Coi phim ma thì các cô gái hay sợ kêu rú lên, lúc đó là dịp tôi sẽ nắm chặt tay nàng!
Chiều hôm sau tôi cũng… đi làm sớm. Ngượng nghịu với cái áo sơmi mới, tôi luẩn quẩn trong hành lang Eden mà tim đập mạnh, bụng dạ đánh lôtô. Hay là Quyên với mấy cô gái trong đoàn múa bày trò chọc tôi? Nhưng ai bước xuống xe xích lô bên kia đường kia kìa? Quyên chớ còn ai, chắc là Quyên hẹn với anh chàng nào đó đi coi chiếu bóng! Mấy cô trẻ hay quên mà thường thì không nói hết ý định của mình. Kỳ đời cho tới giờ phút ấy tôi vẫn “nghi” người mà Quyên vui miệng hẹn hôm qua không phải là tôi! Quyên cầm cái dù làm duyên đi qua đường, giữa đường Quyên làm duyên dừng lại chờ một chiếc xe hơi chạy qua… Diễn viên mà! Tới lề đường bên nầy Quyên chăm chú nhìn tôi có vẻ ngạc nhiên. Sao lại ngạc nhiên? Thôi đúng rồi, chắc không phải chỉ là tôi mà còn một người nữa! Tôi nghĩ Quyên nhìn xuôi ngược rồi sẽ hỏi “Anh chờ ai vậy?”, nhưng Quyên cười và nói khác hơn là tôi tưởng tượng:
- Anh chờ em lâu chưa?
Bỗng nhiên tôi nói ngọng:
- A…n…h có đem theo… túi khoai tây chiên.
- Cũng được, khỏi mua ở ngoài. Anh mua vé chưa anh?
Hai ba tiếng kêu anh liền một lúc. Quyên đi trước, cổ chân trái của Quyên có đeo chiếc vòng vàng tây với cái chuông nhỏ, mỗi bước đi nghe leng keng vui tai. Quyên vừa đi vừa múa qua các tiệm chép và bán tranh, bán sách, tới cửa vào trong rạp. Tôi lù khù không dám bước song song với Quyên, vì Quyên cao hơn tôi đẹp hơn tôi nhiều, ví lại hồi nào giờ nói thiệt bà con thương, tôi có đi chơi chung với con gái đâu mà. Tôi tới cửa tò vò mua hai vé. Người bán vé cúi thấp xuống, tôi thấy cặp mắt mở lớn hết pha của cô ta nhìn tôi ngạc nhiên, rồi cái ông Chà Và gác cửa xé vé cũng nhìn tôi không khác. Quyên cầm túi khoai tây chiên đi trước. Tôi đưa cho ông Chà Và hai vé. Ông ta kín đáo chỉ Quyên, tôi gật đầu thì ông ta cười, theo tôi nghĩ là ông ta… khen tôi có bồ đẹp.
Rạp Eden có cái màn dầy che ánh sáng khi khán giả bước vô, ai cũng phải chui qua mới tới vườn địa đàng lúc nào cũng tối hù trong kia. Một lúc sau tôi mới quen mắt, thấy Quyên đã ngồi xuống ghế chỗ bên cạnh tôi đang đứng. Mắt Quyên nhìn lên màn ảnh, còn miệng thì nhai khoai tây. Trên màn ảnh lúc đó có một chiếc xe ngựa chạy trong mưa tuyết, trên con đường rừng vắng hoe. Rồi chiếc xe dừng lại nơi cửa… nhà mồ. Bàn tay của Quyên đang thò trong cái túi giấy đựng khoai tây, bỗng nằm im trong đó luôn, còn miệng Quyên cũng dừng lại không nhai nữa. Hình như có tiếng gì kêu leng keng dưới chân Quyên. Quyên giật chân co lên ghế, vẫn còn tiếng kêu leng keng như lục lạc trên cổ hai con ngựa cạnh nhà mồ kia. Người xà ích vẫn ngồi trên xe giữ cương ngựa. Từ bên trong nhà mồ, một con dơi bay qua cổng sắt chui vô hòm xe, hiện ra một người đàn ông ốm nhách. Ông ta nhe chiếc nanh nhọn dài ứa máu, quay lại nhìn xuống… khán giả. Quyên rú lên làm rơi cả túi khoai tây chiên, nắm chặt tay tôi kéo tôi ngồi xuống cạnh Quyên. Quyên trốn con ma, úp mặt vào vai tôi, mùi thơm từ mái tóc của Quyên làm tôi ngây ngất. Tuy vậy tôi cũng không quên thời cơ quyết liệt nầy, được cầm bàn tay của nàng một cách chánh thức, khỏi phải trung gian qua dĩa khoai, ấy là cũng nhờ cái ông ma cà rồng trên màn ảnh kia. Phim ma hay thật, đúng là phim ma chánh hiệu. Quyên nhắm mắt không coi nữa, mà thời gian vô tình vẫn còn hiệu lực, vì hai đứa về nhà hàng lúc nầy cũng còn sớm, Quyên chưa tới giờ ra sân khấu còn tôi chưa chiên khoai. Tôi xúc động để yên cho Quyên ngủ vùi trên vai tôi mà không dám cục cựa, rủi Quyên thức thì uổng, cảm giác của tôi lúc đó như lên Thiên Thai, bây giờ già rồi nhớ lại cũng còn run. Tôi ngồi im re hít thở nhẹ cho tới khi đèn trên trần rạp bật sáng, nhìn lại chỉ có tôi với Quyên trong cái rạp vắng hoe. Tối hôm đó tôi vẫn… chiên khoai nhưng không dám đem dĩa khoai lên phòng hóa trang. Tôi nghĩ là các cô kia đã biết chuyện. “Tôi Với Quyên Yêu Nhau”, năm chữ nầy có thể làm tên cho một cuốn phim ăn khách lắm chứ. Tôi vừa hãnh diện vừa tội nghiệp cho Quyên vì tôi chỉ là anh chàng phụ bếp.
Có những cuộc tình giễu cợt như vậy làm cho người ta vui sống một lúc. Những con đường lá me bay bay dưới mưa, và rạp chiếu bóng của các cặp tình nhân với tôi đã quen thuộc. Riêng với rạp Eden thì còn khá nhiều chuyện để nhớ. Toàn bộ rạp chiếu bóng nầy nằm trong tòa nhà thương xá và những căn phòng cho thuê, kín bưng không hề có chút ánh sáng mặt trời. Dường như chỉ có mỗi tôi biết một nơi có chút ánh sáng ngoài đường phố lọt vào trong rạp. Lâu lâu chán cái cảnh gọt khoai rồi tập pha rượu, tôi hay chuồn ra ngả sau nhà hàng tới cười cười với ông Chà Và gác cửa rạp, rồi chui qua cái màn dầy vô coi phim, nhiều lúc ngủ quên luôn trong đó. Trong rạp tối hù, cái tủ bán kem thường ngày luôn có một người mà tôi không hề thấy rõ mặt ngồi cạnh. Nhưng vào một suất chiếu buổi trưa tôi không thấy người đó, vì vậy mới thấy sau chỗ cái ghế anh ta ngồi có chút ánh sáng lóe lên. Ánh sáng từ đâu chui qua kẽ hở, có lẽ là khi xây cất khu rạp những người thợ hồ quên không trét xi măng kỹ. Tôi tò mò đứng nhìn. Kẽ hở chỉ rộng chừng ngón tay, khi tôi áp mắt nhìn ra thì thấy thấp thoáng ngoài kia là đường phố tràn ngập ánh nắng, nhưng không thể định hướng được là nơi nào vì tầm mắt qua kẽ hở bị hạn chế khá nhiều. Tôi lấy que kem đút qua kẽ hở làm dấu, rồi hàng ngày tôi đi quanh ngoài khu phố thương xá tìm... que kem, tức là tìm nơi mà ánh sáng ngoài phố chui vào trong vườn địa đàng.
Từ buổi chiều đi coi chiếu bóng với Quyên cho tới buổi tối hôm đó và những ngày sau, tôi khó gặp Quyên. Tôi nghĩ là Quyên hối hận việc rủ anh chàng cù lần nhát gái là tôi đi coi phim ma. Tôi cũng còn một vài lần đem dĩa khoai chiên lên phòng hóa trang, nhưng Quyên không mặn mòi lắm, rồi sau đó chuyện dĩa khoai chiên và Quyên đi vào kỷ niệm.
Một ngày buồn hiu, tôi vô rạp Eden coi chiếu bóng một mình rồi tò mò tới gần cái tủ kem sát vách tường, nhìn qua kẽ hở. Bên trong nầy là rạp chiếu bóng còn ngoài kia là đường phố. Tôi nhắm một mắt nhìn một mắt ra đường bất chợt thấy một - cận ảnh - cổ chân một cô gái có sợi dây chuyền vàng tây và cái chuông nhỏ, rồi thì - toàn hẹp - bên cạnh là đôi giày tây láng bóng của một người con trai. Mắt tôi - lia lên - một chút theo khoảng dài của kẽ hở - như là với ống kính zoom. Tôi thấy bàn tay người con trai nắm chặt bàn tay người con gái…
Từ ngày đó cho tới khi tôi trôi dạt tứ phương tám hướng, sao tôi vẫn nhớ mãi những rạp chiếu bóng và những con đường nhộn nhịp của Sài Gòn hoa lệ. Nhiều lần tôi trở về vẫn có ý tìm que kem mà tôi làm dấu bên trong vườn địa đàng. Nói vậy cho đỡ nhớ chớ que kem nào mà còn, vì mấy chục năm đã qua, đi quanh quẩn trên đường phố, chung quanh rạp chiếu bóng, tìm hoài vẫn không thấy nơi nào có cái kẽ hở để nhìn vào trong rạp. Nhìn ra thì đã mà nhìn vô thì không thể. Tôi vốn nhiều tưởng tượng và hay tự làm khổ mình. Song tôi tin là ở trong rạp chiếu bóng mà Quyên rủ tôi đi coi phim ngày nào đó đã xa, còn một nơi có chút ánh sáng xuyên qua tường, dù cho là không có đi nữa tôi cũng không bao giờ quên. Làm sao mà quên được, dù kỷ niệm chỉ còn là cay đắng. Thôi thì tôi cũng không cách nào khác, để nhớ chút hương xưa trên mái tóc Quyên, là tìm về một buổi chiều em ngủ say giấc bên tôi. Đâu đó cho tới bây giờ vẫn còn phảng phất mùi khoai tây chiên…
oOo
Chuyện tới đây là hết, nhưng tôi nghĩ là nên đùa thêm một chút cho vui. Nếu như có đạo diễn nào muốn làm phim theo truyện ngắn nầy, tôi sẽ kể dài ra thêm. Quyên mà biết thì không chừng em còn ôm chặt tôi hơn. Trên trần nhà và phía sau tấm phông trắng màn ảnh của rạp Eden, sẽ có nhiều con ma khác, từ oan hồn của những tình nhân từng ngồi bên nhau trong rạp Eden về tìm lại chút kỷ niệm xưa… Còn rất nhiều chuyện hấp dẫn xảy ra trong Vườn Địa Đàng. Nhưng bây giờ thì xin dừng lại.
À, tôi còn quên một chuyện. Hình như người bán tủ kem lâu lâu lại biến mất. Có lúc tôi thấy anh ta đứng đâu đó, trong bất cứ phim nào. Diễn viên điện ảnh nầy xuất hiện nhiều nhất là mỗi lần rạp chiếu phim ma. Rồi từ trong phim, anh ta lại trở xuống ngồi trong bóng tối cạnh tủ kem…
___________________________________________
Thứ Năm, 16 tháng 12, 2010
Khói trời lộng lẫy
Truyện của Nguyễn Ngọc Tư
1
Nghe tiếng mưa khi mưa hãy còn xiêu xiêu ngoài sông, rồi mưa băng qua bờ lá có căn chòi hoang ở phía Nam cồn, ào vào bãi đất xơ rơ những thân lau sậy cháy, giờ thì mưa đã dội trên mái nhà, trượt theo những đuôi lá mục mưa thả mình vào đất. Khe vách rách rã chẻ mỏng những ngọn gió ướt, chém ngọt qua người, lạnh rởn lỗ chân lông.
Tôi lụi hụi ngồi dậy đắp mền cho thằng Phiên. Tấm mền ngắn ngủn, mong ấm cổ thì hở chân, che kín đôi chân thì phong phanh vai trần. Lại chạm tay vào nó như thường chạm khẽ trong đêm. Có lúc thằng nhỏ hơi mỉm cười, có lúc nó càu nhàu rồi lăn sát vách mùng, có khi nó quạu quọ gạt tay tôi ra. Nó phản ứng kiểu nào tôi cũng vui bởi ý nghĩ, nó còn ở bên tôi.
Nhưng khuya nay, khi tay tôi vờn trên cái mũi lấm tấm mụn của Phiên, khi cái đầu gối xương xẩu của nó co lại thúc vào sườn tôi đau nhói, vẫn cảm giác thằng nhỏ đang rời đi xa lắm rồi. Nó đi trên chiếc xáng cơm cùng những gã đàn ông lạ. Chiều qua, chiếc xáng đã nhổ neo rời khỏi cồn. Nhưng mưa mùa triền miên cùng với những cơn giông gió cũng không ngăn được nó quay lại, càn rướn vào rặng ô rô rách bươm.
Và không có gì ngăn gã đàn ông trên chiếc xáng kia tới tìm tôi, với vẻ nham nhở thường ngày, hỏi tôi suy nghĩ tới đâu rồi. Nham nhở như gã của ba ngày trước, khi chìa ra một vuông báo cũ ố vàng và khiêu khích hỏi tôi có gì để đổi không. Mảnh giấy nhỏ nhoi ngó chừng vô nghĩa nhưng gần như tôi không có gì đáng giá đánh đổi, ngoài chính tôi. Gã chỉ chờ đợi điều đó thôi, khẽ cười đắc thắng.
Nhưng tôi câm lặng không phải vì tuyệt vọng mà vì những bức ảnh trong bài báo phất phơ trên tay gã. Ba tôi, Anh, và tôi của ngày hai mươi ba tuổi. Tấm hình tôi dán trong bộ hồ sơ xin việc, mặt quang quẽ, tóc vén lên vành tai, nhìn thẳng, hơi mỉm cười nhưng mắt tối. Trên bài báo, ba cái ảnh nằm gần như cạnh nhau, nhưng hai người kia đang tuyệt vọng tìm tôi. Ngày trên trang báo dừng lại ở mười ba năm trước.
Ngày hai mươi ba tháng tám. Không biết bữa đó tôi với Phiên đang ở trên chuyến xe đò nào trong một lộ trình trốn chạy. Ngày hôm đó, có thể chúng tôi đang ôm nhau ngủ còng queo trong một toa xe lửa hôi sặc cứt gà, một phòng trọ mốc meo, có thể chúng tôi đang ngồi tàu đò, lúc đi qua cái cồn xanh mịt những rặng dừa nước, rặng bần có ai đó thở dài ứ hự, “cho tui nhiêu tiền cũng không lên cái cồn Bần này ở, buồn thấy mẹ…”, tôi liền kêu tàu ghé lại. Anh tài công xửng vửng, chắc hôn vậy, chắc chỗ này không, tôi gật đầu cười, bồng Phiên bước lên bờ, nói về tới nhà rồi, cưng ơi.
Chiếc tàu de khỏi bờ lá, Phiên vẫn đang ngái ngủ trên vai tôi, không biết rằng từ nay nó sẽ sống một cuộc đời khác, với cỏ cây, với sông nước, và vài ba nóc nhà thưa thớt của xóm cồn.
2
Khoảng cách ngàn cây số cũng không ngăn được những chiêm bao. Có thể ban ngày tôi thường nhớ, khi ngó cỏ cây, nhìn những người xóm Cồn í ới giúp tôi lợp nhà, ven vách, nhìn Phiên lửng đửng đi từng bước trên đất… tất cả đều quen thuộc. Như những gì cất giữ ở Viện di sản thiên nhiên và con người.
Mỗi chiêm bao là một lát cắt, một cảnh phim dang dở về nơi đó. Có khi tôi thấy vía mình ngập ngừng đi vào một tòa nhà cũ chìm lút trong một khuôn viên um tùm cây cỏ. Qua mấy bậc tam cấp gãy nứt nối với khoảng hành lang hơi tối có vài căn phòng khép cửa. Cuối lối có mảnh sân rộng nằm giữa tòa nhà, nắng sáng rót lưng chừng. Nhiều tấm pano được treo trên bốn bức tường vây quanh, giăng giăng những khẩu hiệu, bên này là “giữ gìn cái đẹp của nhân loại như giữ nhịp đập trái tim mình”, “Cái đẹp thường mong manh và tàn nhẫn, chúng ta sẽ chạm vào điều kỳ diệu giữa cơn đau”, bên này là “cần có một tâm hồn lớn để cảm thụ những cái đẹp cuộc đời”. Chữ nào cũng chắc nụi, lớn lao.
Vía tôi bị chữ hù, cứ hí húi đong đếm coi tâm hồn mình bao lớn, rồi vía thấy một dòng chữ khác được đắp nổi lên tường, “Không có gì là mãi mãi, hãy cất giữ thế giới này”. Vía tò mò, hồi nhỏ tới giờ chỉ biết đất nước muôn năm, anh hùng muôn năm. Ở đây họ nói không có gì là mãi mãi.
Tò mò quá, vía đẩy cửa vào.
Và trong những chiêm bao hao khuyết tôi từng đêm, những cánh cửa của tòa nhà Viện di sản thiên nhiên và con người luôn mở ra rất chậm, sau tiếng kèn kẹt là vùng ánh sáng chói lòa, như thể phía tôi là bóng tối.
Khi đó thằng Phiên lăn sát vào tôi, hay chân nó đập xuống giường trong lúc trở mình làm tôi thức giấc, ký ức vẫn tiếp tục mở ra những cánh cửa, mở ra những rung động, bất ngờ. Một vài căn phòng giống như biển, ngay lập tức khiến tôi chìm sâu, ngộp thở, nhưng tôi hoàn toàn không muốn vùng vẫy, chạy trốn. Lý do đôi lúc chỉ vì trong đó có người đàn ông giống như một người nào đó tôi đã gặp trong đời, một người tôi đã mất dấu.
Nhưng người đàn ông phỏng vấn tôi hôm xin việc không tỏ ra chút nào quen biết, anh ta hờ hững và xa lạ, lơ đãng khép mở hồ sơ trên tay, lơ đãng hỏi một câu lơ đãng, em có kinh nghiệm gì?
Trời, kể hết chắc tới mai. Tôi đã từng rửa chén và phục vụ ở nhà hàng, sơn tường nhà, phát tờ rơi, chăn trẻ con, xé vé ở rạp chiếu phim… và tôi còn có khả năng tươi cười, bất kể hoàn cảnh nào. Nhưng chẳng hiểu sao khi anh gác chân còn lại lên bàn, tôi lại nói ra một kinh nghiệm kỳ lạ:
- Tôi lắng nghe người ta nói.
- À, vụ này hay nghen, vậy chớ em nghe làm sao?
Tôi nhìn mấy tờ giấy bay lắt xắt trên bàn, và nghĩ mình có quyền nói dóc là trực đường dây nóng cho sản phẩm dầu gội hay thuốc diệt muỗi abc nào đó. Nhưng tôi ngước lên, cố bắt chước vẻ giễu cợt của anh ta, làm bộ điều tôi nói ra đây không quan trọng, “cũng lâu lâu rồi, tôi có làm bồ mướn”.
À, người đàn ông không biến sắc, anh ta làm như mới nghe nói tới nghề này lần đầu, nói lạ quá, em kể thêm chút nữa đi. Tôi dùng hết vẻ thản nhiên mà tôi vơ vét được, thuật một câu chuyện mà tôi biết nó chán òm. Có lúc không tìm ra học phí, bạn bè nói làm bồ mướn cũng có tiền, rồi giới thiệu cho tôi một anh. Chúng tôi gặp nhau không đem quá khứ theo, không có cả tên, gọi anh ơi em ơi như mặc nhiên tên họ là Anh tên tôi là Em. Những cuối tuần, tôi nín thở chờ điện thoại run lên và Anh nói sẽ đón. Chúng tôi đi ăn, uống, đi tới những cái quán nước vắng người để ngồi chơi. Có khi anh nói, tôi nghe. Có khi Anh không nói gì thì tôi im lặng, im lặng cũng là cách lắng nghe. Cao trào của mối quan hệ này là một lần Anh bật khóc nên tôi cho mượn vai. Tóc Anh hơi rối làm cổ và má tôi nhột ran, cả người tê dại, nhưng tôi cố chịu, vì tôi là bồ mướn. Nên vai này coi như được trả tiền rồi.
- Chúng tôi… không đi xa.
- Đi xa là đi đâu? – Lại giễu cợt.
- Từ eo tôi trở xuống.
Tôi quyết định dừng câu chuyện ở đó, giữ đoạn cuối trong lòng. Sau bữa cho mướn vai, tôi bỗng nghĩ, thôi kệ, đi xa cũng được, nhưng Anh không bao giờ gọi nữa. Không có tăm tích nào trên đời, như một giấc mơ vậy. Tôi buồn xanh xương. Không bao giờ tôi hình dung mình gặp lại giấc mơ xưa trong căn phòng này, vẫn gương mặt phớt đời, vẫn cái nhìn ngạo nghễ, và vẻ lạnh lẽo xa xôi.
Tự dưng, tôi thèm muốn tìm được một công việc nào đó ở đây, quét lá cây trong vườn cũng được. Buổi phỏng vấn là một cơn nín thở, và òa vỡ khi người đàn ông xốc xấp giấy tờ lại, bắt tay tôi:
- Từ giờ cô sẽ lắng nghe thiên nhiên nói.
Cái kiểu bắt tay cũng hờ hững, đầy vẻ ban ơn. Tôi không thấy phiền chút nào hết. Tôi vui muốn chết.
3
Chuyện đời tôi được người xóm Cồn đồn đoán, thì thầm rằng, yêu một người bị gia đình phản đối, tôi bất chấp trốn nhà theo anh ta, sinh thằng Phiên, rồi bị anh ta bỏ, không biết đi đâu về đâu, tôi tạt qua xóm Cồn ở tạm, chờ ba má tha thứ tôi sẽ dẫn con về. Chưa bao giờ tôi kể, nhưng ánh mắt u tối của tôi, thằng nhỏ đang lẽo đẽo dưới chân tôi, kiểu cười tránh những câu hỏi khó, tất cả đã nói thay.
Rằng tôi tới đây chờ đợi một sự lãng quên, giống ông Sáu Câu từng chịu án giết người, giống chị Thắm lẩn tránh những đòn ghen của bà vợ lớn, giống chị Thiện bỏ lại ở quê chồng con và món nợ hụi hè … Những người mà họ nợ dù tình cảm hay tiền bạc, biết họ ở đây, nhưng không ai đuổi theo. Cái cồn nằm giữa dòng sông Mê mênh mông, tự nó như một chốn lưu đày.
Chân trời chỉ nước và cây, mặt trời mọc trên sông rồi lặn vào sông, bờ Bắc bờ Nam nhiều bụi rậm mọc hoang lẫn trong những chòm cây cối. Chiều nào bìm bịp kêu, nắng chìm lỉm theo. Tôi hay nhìn về đó, tự hỏi người ta còn tìm kiếm tôi không?
Một ông già vác cần câu đi qua, hỏi tôi, nhớ nhà hả cô?
(còn nữa)
_________________________________________________
1
Nghe tiếng mưa khi mưa hãy còn xiêu xiêu ngoài sông, rồi mưa băng qua bờ lá có căn chòi hoang ở phía Nam cồn, ào vào bãi đất xơ rơ những thân lau sậy cháy, giờ thì mưa đã dội trên mái nhà, trượt theo những đuôi lá mục mưa thả mình vào đất. Khe vách rách rã chẻ mỏng những ngọn gió ướt, chém ngọt qua người, lạnh rởn lỗ chân lông.
Tôi lụi hụi ngồi dậy đắp mền cho thằng Phiên. Tấm mền ngắn ngủn, mong ấm cổ thì hở chân, che kín đôi chân thì phong phanh vai trần. Lại chạm tay vào nó như thường chạm khẽ trong đêm. Có lúc thằng nhỏ hơi mỉm cười, có lúc nó càu nhàu rồi lăn sát vách mùng, có khi nó quạu quọ gạt tay tôi ra. Nó phản ứng kiểu nào tôi cũng vui bởi ý nghĩ, nó còn ở bên tôi.
Nhưng khuya nay, khi tay tôi vờn trên cái mũi lấm tấm mụn của Phiên, khi cái đầu gối xương xẩu của nó co lại thúc vào sườn tôi đau nhói, vẫn cảm giác thằng nhỏ đang rời đi xa lắm rồi. Nó đi trên chiếc xáng cơm cùng những gã đàn ông lạ. Chiều qua, chiếc xáng đã nhổ neo rời khỏi cồn. Nhưng mưa mùa triền miên cùng với những cơn giông gió cũng không ngăn được nó quay lại, càn rướn vào rặng ô rô rách bươm.
Và không có gì ngăn gã đàn ông trên chiếc xáng kia tới tìm tôi, với vẻ nham nhở thường ngày, hỏi tôi suy nghĩ tới đâu rồi. Nham nhở như gã của ba ngày trước, khi chìa ra một vuông báo cũ ố vàng và khiêu khích hỏi tôi có gì để đổi không. Mảnh giấy nhỏ nhoi ngó chừng vô nghĩa nhưng gần như tôi không có gì đáng giá đánh đổi, ngoài chính tôi. Gã chỉ chờ đợi điều đó thôi, khẽ cười đắc thắng.
Nhưng tôi câm lặng không phải vì tuyệt vọng mà vì những bức ảnh trong bài báo phất phơ trên tay gã. Ba tôi, Anh, và tôi của ngày hai mươi ba tuổi. Tấm hình tôi dán trong bộ hồ sơ xin việc, mặt quang quẽ, tóc vén lên vành tai, nhìn thẳng, hơi mỉm cười nhưng mắt tối. Trên bài báo, ba cái ảnh nằm gần như cạnh nhau, nhưng hai người kia đang tuyệt vọng tìm tôi. Ngày trên trang báo dừng lại ở mười ba năm trước.
Ngày hai mươi ba tháng tám. Không biết bữa đó tôi với Phiên đang ở trên chuyến xe đò nào trong một lộ trình trốn chạy. Ngày hôm đó, có thể chúng tôi đang ôm nhau ngủ còng queo trong một toa xe lửa hôi sặc cứt gà, một phòng trọ mốc meo, có thể chúng tôi đang ngồi tàu đò, lúc đi qua cái cồn xanh mịt những rặng dừa nước, rặng bần có ai đó thở dài ứ hự, “cho tui nhiêu tiền cũng không lên cái cồn Bần này ở, buồn thấy mẹ…”, tôi liền kêu tàu ghé lại. Anh tài công xửng vửng, chắc hôn vậy, chắc chỗ này không, tôi gật đầu cười, bồng Phiên bước lên bờ, nói về tới nhà rồi, cưng ơi.
Chiếc tàu de khỏi bờ lá, Phiên vẫn đang ngái ngủ trên vai tôi, không biết rằng từ nay nó sẽ sống một cuộc đời khác, với cỏ cây, với sông nước, và vài ba nóc nhà thưa thớt của xóm cồn.
2
Khoảng cách ngàn cây số cũng không ngăn được những chiêm bao. Có thể ban ngày tôi thường nhớ, khi ngó cỏ cây, nhìn những người xóm Cồn í ới giúp tôi lợp nhà, ven vách, nhìn Phiên lửng đửng đi từng bước trên đất… tất cả đều quen thuộc. Như những gì cất giữ ở Viện di sản thiên nhiên và con người.
Mỗi chiêm bao là một lát cắt, một cảnh phim dang dở về nơi đó. Có khi tôi thấy vía mình ngập ngừng đi vào một tòa nhà cũ chìm lút trong một khuôn viên um tùm cây cỏ. Qua mấy bậc tam cấp gãy nứt nối với khoảng hành lang hơi tối có vài căn phòng khép cửa. Cuối lối có mảnh sân rộng nằm giữa tòa nhà, nắng sáng rót lưng chừng. Nhiều tấm pano được treo trên bốn bức tường vây quanh, giăng giăng những khẩu hiệu, bên này là “giữ gìn cái đẹp của nhân loại như giữ nhịp đập trái tim mình”, “Cái đẹp thường mong manh và tàn nhẫn, chúng ta sẽ chạm vào điều kỳ diệu giữa cơn đau”, bên này là “cần có một tâm hồn lớn để cảm thụ những cái đẹp cuộc đời”. Chữ nào cũng chắc nụi, lớn lao.
Vía tôi bị chữ hù, cứ hí húi đong đếm coi tâm hồn mình bao lớn, rồi vía thấy một dòng chữ khác được đắp nổi lên tường, “Không có gì là mãi mãi, hãy cất giữ thế giới này”. Vía tò mò, hồi nhỏ tới giờ chỉ biết đất nước muôn năm, anh hùng muôn năm. Ở đây họ nói không có gì là mãi mãi.
Tò mò quá, vía đẩy cửa vào.
Và trong những chiêm bao hao khuyết tôi từng đêm, những cánh cửa của tòa nhà Viện di sản thiên nhiên và con người luôn mở ra rất chậm, sau tiếng kèn kẹt là vùng ánh sáng chói lòa, như thể phía tôi là bóng tối.
Khi đó thằng Phiên lăn sát vào tôi, hay chân nó đập xuống giường trong lúc trở mình làm tôi thức giấc, ký ức vẫn tiếp tục mở ra những cánh cửa, mở ra những rung động, bất ngờ. Một vài căn phòng giống như biển, ngay lập tức khiến tôi chìm sâu, ngộp thở, nhưng tôi hoàn toàn không muốn vùng vẫy, chạy trốn. Lý do đôi lúc chỉ vì trong đó có người đàn ông giống như một người nào đó tôi đã gặp trong đời, một người tôi đã mất dấu.
Nhưng người đàn ông phỏng vấn tôi hôm xin việc không tỏ ra chút nào quen biết, anh ta hờ hững và xa lạ, lơ đãng khép mở hồ sơ trên tay, lơ đãng hỏi một câu lơ đãng, em có kinh nghiệm gì?
Trời, kể hết chắc tới mai. Tôi đã từng rửa chén và phục vụ ở nhà hàng, sơn tường nhà, phát tờ rơi, chăn trẻ con, xé vé ở rạp chiếu phim… và tôi còn có khả năng tươi cười, bất kể hoàn cảnh nào. Nhưng chẳng hiểu sao khi anh gác chân còn lại lên bàn, tôi lại nói ra một kinh nghiệm kỳ lạ:
- Tôi lắng nghe người ta nói.
- À, vụ này hay nghen, vậy chớ em nghe làm sao?
Tôi nhìn mấy tờ giấy bay lắt xắt trên bàn, và nghĩ mình có quyền nói dóc là trực đường dây nóng cho sản phẩm dầu gội hay thuốc diệt muỗi abc nào đó. Nhưng tôi ngước lên, cố bắt chước vẻ giễu cợt của anh ta, làm bộ điều tôi nói ra đây không quan trọng, “cũng lâu lâu rồi, tôi có làm bồ mướn”.
À, người đàn ông không biến sắc, anh ta làm như mới nghe nói tới nghề này lần đầu, nói lạ quá, em kể thêm chút nữa đi. Tôi dùng hết vẻ thản nhiên mà tôi vơ vét được, thuật một câu chuyện mà tôi biết nó chán òm. Có lúc không tìm ra học phí, bạn bè nói làm bồ mướn cũng có tiền, rồi giới thiệu cho tôi một anh. Chúng tôi gặp nhau không đem quá khứ theo, không có cả tên, gọi anh ơi em ơi như mặc nhiên tên họ là Anh tên tôi là Em. Những cuối tuần, tôi nín thở chờ điện thoại run lên và Anh nói sẽ đón. Chúng tôi đi ăn, uống, đi tới những cái quán nước vắng người để ngồi chơi. Có khi anh nói, tôi nghe. Có khi Anh không nói gì thì tôi im lặng, im lặng cũng là cách lắng nghe. Cao trào của mối quan hệ này là một lần Anh bật khóc nên tôi cho mượn vai. Tóc Anh hơi rối làm cổ và má tôi nhột ran, cả người tê dại, nhưng tôi cố chịu, vì tôi là bồ mướn. Nên vai này coi như được trả tiền rồi.
- Chúng tôi… không đi xa.
- Đi xa là đi đâu? – Lại giễu cợt.
- Từ eo tôi trở xuống.
Tôi quyết định dừng câu chuyện ở đó, giữ đoạn cuối trong lòng. Sau bữa cho mướn vai, tôi bỗng nghĩ, thôi kệ, đi xa cũng được, nhưng Anh không bao giờ gọi nữa. Không có tăm tích nào trên đời, như một giấc mơ vậy. Tôi buồn xanh xương. Không bao giờ tôi hình dung mình gặp lại giấc mơ xưa trong căn phòng này, vẫn gương mặt phớt đời, vẫn cái nhìn ngạo nghễ, và vẻ lạnh lẽo xa xôi.
Tự dưng, tôi thèm muốn tìm được một công việc nào đó ở đây, quét lá cây trong vườn cũng được. Buổi phỏng vấn là một cơn nín thở, và òa vỡ khi người đàn ông xốc xấp giấy tờ lại, bắt tay tôi:
- Từ giờ cô sẽ lắng nghe thiên nhiên nói.
Cái kiểu bắt tay cũng hờ hững, đầy vẻ ban ơn. Tôi không thấy phiền chút nào hết. Tôi vui muốn chết.
3
Chuyện đời tôi được người xóm Cồn đồn đoán, thì thầm rằng, yêu một người bị gia đình phản đối, tôi bất chấp trốn nhà theo anh ta, sinh thằng Phiên, rồi bị anh ta bỏ, không biết đi đâu về đâu, tôi tạt qua xóm Cồn ở tạm, chờ ba má tha thứ tôi sẽ dẫn con về. Chưa bao giờ tôi kể, nhưng ánh mắt u tối của tôi, thằng nhỏ đang lẽo đẽo dưới chân tôi, kiểu cười tránh những câu hỏi khó, tất cả đã nói thay.
Rằng tôi tới đây chờ đợi một sự lãng quên, giống ông Sáu Câu từng chịu án giết người, giống chị Thắm lẩn tránh những đòn ghen của bà vợ lớn, giống chị Thiện bỏ lại ở quê chồng con và món nợ hụi hè … Những người mà họ nợ dù tình cảm hay tiền bạc, biết họ ở đây, nhưng không ai đuổi theo. Cái cồn nằm giữa dòng sông Mê mênh mông, tự nó như một chốn lưu đày.
Chân trời chỉ nước và cây, mặt trời mọc trên sông rồi lặn vào sông, bờ Bắc bờ Nam nhiều bụi rậm mọc hoang lẫn trong những chòm cây cối. Chiều nào bìm bịp kêu, nắng chìm lỉm theo. Tôi hay nhìn về đó, tự hỏi người ta còn tìm kiếm tôi không?
Một ông già vác cần câu đi qua, hỏi tôi, nhớ nhà hả cô?
(còn nữa)
_________________________________________________
Thứ Hai, 8 tháng 11, 2010
Chiều vắng
Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Ngày dì Út Thu Lý tròn bốn mươi bảy tuổi, dì từ giã thêm một lượt ba cái răng. Buồn quá trời đất, dì lại chùa Phấn, than với sư Huệ bây giờ không biết làm sao giáp mặt anh Tư Nhớ, răng cỏ trống hơ trống hốc vầy… Bà sư già nghe xong niệm Phật mà không nén được cười. Dì Út mượn gương, soi mình vào đấy, thấy tóc bạc, mặt nhăn, kỳ lạ thay, dì thấy cả một nỗi buồn rất lạ thăm thẳm trong lòng mình. Dì đứng đó một chút, rồi dì te tái cắp nón đi, hỏi đi đâu, dì bảo ra vườn thuốc.
Nhà cậu Tư Nhớ cũng ở đó, xiêu xiêu giữa vườn thuốc Nam, quanh năm nồng nàn hương hoa cỏ. Nhưng cậu không có nhà, cậu đang dự đám tang trên Lung Dừa. Cậu ‘đuổi quỷ’ trong đội đạo tỳ của chữ thập đỏ xã. Gần mười lăm năm cầm đuốc múa quanh quan tài đến chai tay, lửa phà nám mặt, mấy lần ngậm dầu phun lửa bị sặc trối chết. Càng lớn tuổi cậu càng tưng tưng, ai cũng nói, ổng bị sặc dầu quá trời đất như vậy mà không mát dây cũng uổng. Cậu nghèo, nhưng đèo bòng nuôi một thằng nhỏ mồ côi cha mẹ. Bình thường thì thằng Lụm kêu bằng tía, nhưng có lúc, kêu vậy, cậu la thấu trời, "Mầy làm như tao già lắm vậy, kêu tao bằng anh đi, bằng thằng cũng được nữa". Một tháng ăn cơm nhà chừng ba bữa, còn hai mươi bảy bữa cậu dọn vườn, chặt thuốc cho chùa nên được đãi cơm chay, hết việc, cậu dắt thằng con lang thang làm mướn dài dài theo xóm, ăn cơm ở đó luôn, đội đạo tỳ có việc thì hai cha con dùng cỗ đám tang, lắm lúc cậu về nhà biểu thằng Lụm, "Đổ nước mắm vô kho quẹt ăn. Tao ngán thịt heo thấu trời rồi".
Chỉ nhà dì Út Thu Lý là cậu không bao giờ lui tới. Hồi bà Hai, má dì còn sống, ra đường chạm mặt, tránh không được, cậu mới mở miệng, giọng có một chút hằn học, một chút chua xót, một chút mỉa mai : "thưa má !", rồi cậu cun cút đi thẳng. Những chiều ngang qua nhà, thấy bà Hai bắc cái ghế ngồi ngoài hàng ba là cậu cởi quần dài, tụt xuống mé kinh, lội qua khỏi đoạn đó mới ngoi ngóp lên bờ. Đám trẻ trong nhà thấy cảnh đó cười ngắt nga ngắt ngẻo, chỉ dì Sáu Thu Lý là chua xót ngẩn ngơ, người coi tưng tưng vậy mà giận dai ghê hen. Rồi dì tự hỏi, nếu mình là anh ấy, thì mình có giận không ?
Giận. Bởi gió kia, mưa kia, những mái nhà chiều chiều khói tỏa kia, người phụ nữ đang na cái bụng bầu lặc lìa qua ngõ kia, và những đứa trẻ kia, cả thằng Lụm… hết thảy đều làm cho người đàn ông đó nhớ một mái ấm đã bị tước đoạt của mình.
Bởi nếu con cậu còn sống, bây giờ chắc nó cao hơn thằng Lụm. Những khi ngồi nhớ lại, cậu ứa nước mắt, ước gì mình được nhìn thấy nó một lần, một lần thôi, sau này có sặc dầu hay chết hụt dưới mương, cậu có lẫn lộn việc này việc khác, dứt khoát cậu sẽ không quên được hình bóng vợ con mình.
Nhưng cả mơ ước đó cũng bị má vợ cậu, bà Hai cướp đi mất. Khi dì Ba Thu Lê để lòng thương cậu Tư Nhớ, roi đòn mấy cũng không cản được, bà đã nghiến răng trèo trẹo khi nhắc tới cậu, "thằng ăn cướp". Sinh cả thảy sáu người con, chỉ có hai đứa con gái, dì Út Thu Lý vụng về, đểnh đoảng, như trẻ con, vui buồn ra mặt, bà Hai dồn hết tình thương cho con gái Thu Lê vén khéo, nhu mì. Hồi đó, dì Ba mới hai mươi tuổi, trong lòng người mẹ, dì còn non nớt, dại khờ. Ai mà ngờ một bữa dì bỏ bà đi… Nhà cậu Nhớ cách nhà bà một quãng đường xóm, những bữa đi ngang qua nhà, bà Hai nghe giận nhói ngực khi thấy con gái mình khép nép đi cạnh chồng, mắt ráo lơ, ngó vô nhà như thể nước lả người dưng. Cái nhìn van lơn và hối lỗi của cậu Tư Nhớ nhỏ nhoi trước biển lửa giận hờn trong trái tim người mẹ. Không bảo nhau nhưng cả hai người đều hy vọng, dù lâu lâu lắm nhưng sẽ có một ngày bà tha thứ.
Hồi đó, gia tài của hai người chỉ có căn nhà dựng trong vườn chùa với chiếc xuồng. Dì Ba hay cười, an ủi, "Anh buồn gì, xóm mình đâu chỉ nhà mình nghèo…". Dì làm bánh bò, sáng sớm hai vợ chồng chèo dài theo các xóm ven Đầm bán, buổi chiều họ xin rơm chở về gieo cải, trồng rau trên liếp nhỏ kế bên nhà. Dạo đó, người ta dồn về nơi nầy để theo những con rạch ngoắt ngoéo ra cửa sông Thầy Xúi vượt biển tìm đất hứa. Nhiều bữa thấy người ta lỡ đường, vơ vất ngoài bờ bụi, khổ sở với bầy muỗi lá, cậu Tư cho quá giang, cho ngủ lại, san sẻ ít chén cơm nguội. Cậu với dì không hỏi họ đi đâu, làm gì, hỏi họ cũng không nói thiệt, chỉ nghĩ trong bụng, xứ sở mình đây mà hỏng ở, đi làm chi cho cực thân vậy không biết. Cho tới một bữa, trên đường chở rơm về, cậu bị công an xã bắt vì tội đưa người vượt biên. Cậu Tư Nhớ có kêu oan, nhưng các anh công an cười, hỏi bà già vợ thưa mà còn oan ức gì ? Cậu nghẹn lời, vì ngỡ ngàng và vì đau xót.
Lúc đó là tháng Năm, đôi vợ chồng trẻ đang nôn nao đếm ngược từng ngày chờ đến sang Giêng sẽ đón trẻ con ra đời…
Bốn mươi ba ngày sau cậu Tư được minh oan. Lúc về thì cỏ đã mọc xanh lối vào. Giồng cải bên nhà trổ bông, ngồng cao tới ngực. Lúc về, chuột cắn rơm làm ổ trong cái cà ràng trên bếp. Lúc về, người cũ không còn ở chỗ cũ, nhà lạnh ngắt, buồn xo. Cậu Tư Nhớ uất quá vác cây mác vót chạy tới nhà bà Hai đòi người. Bà đứng chận ở cửa, mặt thản nhiên, lạnh tanh như đồng, bảo "Ở đây không có gì liên quan tới cậu. Con tôi nó ra chợ ở rồi, còn con cậu hả ? Ra bãi rác ngoài trạm xá xã mà kiếm". Cậu Tư nhớ hoài, nhớ đời đời kiếp kiếp cái vẻ mặt chai đá của bà Hai, cậu cười, sao con người đối với nhau có thể cạn ráo đến vậy.
Cho đến bây giờ dì Thu Lý vẫn còn nhớ giọng cười của cậu hôm ấy, nó lạt nhách, không dư âm, như thể đá cười. Cho đến bây giờ, gặp dì, cậu vẫn hay cười như thế, có lúc cậu còn làm ngơ không thèm nói chuyện. Nhưng dì không giận, vì nghĩ nhà mình nợ anh ấy rất nhiều, cho tới khi má dì nằm xuống, món nợ ấy vẫn còn nguyên.
Người ở xóm Rạch Ruộng ai cũng biết dì Út Thu Lý thương cậu Tư, họ dạy con nít ngạo chơi "Trồng tre trở gốc lên trời. Con chị qua đời rồi tới con em". Nghĩ cho nghiêm túc, hai người này cũng thật xứng đôi vừa lứa. Ngày nào dì Út cũng đi làm công quả ở chùa Phấn, hốt thuốc tiếp sư cô, lúc rảnh chạy qua nhà cậu Tư Nhớ quét cái nhà, lau bộ ván, cho chó, mèo ăn. Dì coi nhà cậu như nhà mình, nên quen cái lối đi hẹp te giữa bộ ván ngựa cũ kỷ và chiếc giường. Quen với căn bếp nằm chếch phía trái, đó là một góc tù mù khói, nhưng đó là một chỗ ấm áp nhất. Mấy đứa con nít khen dì giống cô Tấm trong truyện cổ tích quá trời.
Bây giờ gần hai mươi năm rồi, tóc đã trắng những sợi già, chuyện tình đó vẫn chưa đi tới đâu, chiều nay lại, thay vì lòn tay qua lổ vách mở cái móc khoá quen thuộc ra, dì Thu Lý tự nhiên giữ lễ, đứng chờ ngoài cửa. Thằng Lụm về trước, thấy dì, nó cười, hỏi "Ủa, sao Út không vô ?". Dì bảo, "Vô gì, nhà người ta mà". Thằng Lụm nhìn dì lom lom, nó thấy dì bữa nay lạ quá, không biết có phải tại rụng mấy cái răng không. Nhưng lúc đó đã nghe tiếng đá banh dội binh binh đằng xóm, nó rảnh đâu mà thắc mắc, vọt đi mất. Cậu Tư Nhớ qua khỏi lùm nhãn lồng, làm như không thấy dì Thu Lý, vạch cái cửa đi tuốt vô nhà. Cậu Tư Nhớ ra ngoài giàn ôm củi vô, rồi chổng mông thổi lửa nấu ấm nước, khuôn mặt cậu tỉnh rụi. Nước sôi, cậu đi rửa cái bình mẻ vòi, châm trà. Cậu chống rèm cửa sau lên, lau bộ ván ngựa đầy dấu chân gà, quét cái nhà vương vãi rác, rồi ngồi uống trà. Cái vạt áo màu bông cà của dì Thu Lý vẫn phơ phất bên ngoài cửa. Muỗi kêu o e xà quần bên lổ tai, ờ, giờ này muỗi bắt đầu bay khỏi đám lá đi kiếm hơi người. Ngoài sân, chắc muỗi cũng nhiều… Cậu Tư hơi trù trừ giây lát rồi đứng lên, ra cửa trước nói trổng không :
- Sao bữa nay mắc gì mà không vô nhà ? Ngoài này muỗi cắn chết.
Dì thở ra, cứ tưởng là thằng chả không mời. Dì cố nén cười, nghiêm mặt bước vào, đứng lừng khừng khách sáo như khách lạ. Cậu Tư coi bộ hơi bực :
- Sao không ngồi đi ? Coi chừng làm nhăn bộ ván tui nghen.
Nói rồi, cậu đi gom mớ vỏ dừa khô vô nhen mẻ ung. Cậu ngồi thổi hoài cho đến khi lửa bùng lên, cậu lại vùi cho tắt. Rồi hì hụi chỗ này, hì hụi chỗ kia, không làm gì cũng lăng xăng, sực nhớ ra, cậu lại đằng chái bếp lấy khúc ổi vừa được phơi dốt nắng, ngồi đẽo ngỏng cối, ngày mai, đằng nhà Tư Biểu có đám giỗ, thể nào cũng xài. Cậu sợ rảnh tay rồi phải mở lời nói với nhau. Mà, cậu thì không biết nói gì hết, không muốn nói gì hết.
Bởi mỗi khi gặp nhau, lòng người này chỉ toàn những oán giận, những nỗi đau, còn người kia tràn đầy niềm yêu thương vô vọng mà họ đã không còn ở tuổi hai, ba mươi để nói ra tâm trạng ấy bằng lời. Nên chiều nay lặng lẽ lạ thường, có thể nghe rõ ràng tiếng muỗi kêu, tiếng xì xì mọng nước của thanh củi ướt cháy trong mẻ, tiếng lưỡi mác vót khứa ngọt vào cây ổi, tiếng trái dừa chuột khoét rụng đùng xuống hào ranh… Dì Thu Lý lên tiếng :
- Anh Tư à… Bữa nay em mới nhổ ba cái răng.
- …
- Tính luôn hổm rày là bảy cái rồi đó. Thấy vậy mà già rồi…
Cậu Tư Nhớ vẫn nín thinh, hì hụi gọt đẻo, thấy mình cũng thật nhẫn tâm. Kinh kệ mỗi ngày từ chùa Phấn vọng sang cùng tấm lòng chân thật của dì Út vẫn không làm cậu nguôi đi oán hận. Cậu mà đáp tình dì chẳng phải là đã tha thứ cho nhà đó sao, ngu sao, đâu có dễ vậy.
Dì Thu Lý ngồi trên tấm ván đã cong vênh, nghe lòng trống không đã sạch sành sanh những niềm hy vọng cuối. Không biết làm sao cho hết bối rối, dì ngó quanh quất cho giống người xa lạ chơi. Dì nhìn chiếc quai nón bằng vải nhung đã phai màu treo ở đầu giường, cái áo bà ba màu bông cà bọc trong bọc nilong treo trên vách cùng với chiếc cặp đỏ bằng nỉ (Hôm chị Thu Lê theo chồng, nó chỉ vừa đủ để ba bộ đồ với cái khăn tắm, dì Út lén má xếp dùm). Dì nói bằng một tiếng nhói :
- Anh nhớ chị Ba em !?
Lần này cậu Tư Nhớ đổ quạo, vặt lại :
- Bộ tui trâu bò sao mà không biết nhớ ? Biết còn hỏi !
Ờ, thì biết. Hơn hai mươi năm rồi cậu Tư với dì Thu Lê đã không gặp lại nhau. Mỗi bận lễ Tết, hay đằng nhà bà Hai tổ chức giỗ ông Hai, cậu đứng xa xa dòm ngó, nghe nhộn nhạo từng khúc ruột. Hỏng biết cổ có về không ta ? Thằng Lụm hiểu lòng cậu, nó chạy đi coi, nó kể ở ngoài chợ người ta về nhóc. Người nào người nấy đẹp đẹp không hà, tía. Nhưng trong đám người đẹp đó không có người cậu thương, dì Ba thì không về, dì viết thơ gởi bà Hai (lá thơ đó nhòe nước mắt) thưa rằng dì chắc chẳng bao giờ về quê nữa, quay lại đó, rồi làm sao, mặt mũi nào để gặp một người. Dì viết rằng, má ơi, má đừng buồn, chừng nào nhắm mắt xuôi tay, con sẽ về để nằm trên đất nhà mình.
Câu chuyện đó dì Thu Lý kể cho cậu Tư Nhớ nghe vào một ngày mưa gió, cậu đội áo mưa lại chữ thập đỏ xã, xin được giữ một chân đạo tỳ trong đội mai táng. Ai cũng hỏi sao tự nhiên đi làm cái nghề u ám vầy, cậu cười không nói. Chỉ có một người biết, càng biết nhiều càng nghe lòng buồn nhiều.
Dì Ba Thu Lê bây giờ đã theo chồng sống ở nước ngoài, vò võ không con, dì cay đắng, "trời phạt vậy". Dì hay gởi thư, tiền và hình về nhà. Trong hình lúc nào cũng đeo nhiều đồ trang sức, mập mạp, đầy đặn, cười thật nhiều nhưng đôi mắt lại buồn thiu thỉu, luôn luôn ngó thẳng về phía trước mà ánh nhìn không có một chỗ vịn nào. Một người sống không quê hương, sống đầy mặc cảm, dằn vặt, sống mà đau đáu hoài chuyện cũ thì biết níu đâu bây giờ ?
Chiều nay ngồi trong nhà cậu Tư Nhớ, dì Út lại nhớ chị mình. Dì chợt nghe lòng quang quẻ lạ lùng, sao mình không giúp cho anh chị ấy gặp lại nhau một lần, bây giờ không làm, đợi tới chừng nào. Mình làm được mà, thí dụ như mình giả đò chết. Chị Ba Thu Lê nhất định sẽ về, sẽ gặp lại anh Tư Nhớ, dù bây giờ tóc xanh phai màu, gặp chơi vậy thôi chứ không thay đổi được gì hết. Nhưng thương nhớ nhau thì hội ngộ lúc còn đang sống, chứ đợi người âm kẻ dương làm chi… Đời vốn dĩ đâu có buồn dữ vậy.
Dì Sáu Thu Lý ngồi ở đó tới chạng vạng, không nói thêm gì nữa, chỉ đau đáu ngắm cậu Tư, lòng tràn đầy thương yêu. Lúc về, dì mới lại gần, dạn dĩ gở cây mác vót trong tay cậu ra, nắm ngay lấy bàn tay nóng rực ấy, định cười, nhưng nhớ mấy cái răng cửa vừa nhổ nên thôi. Rồi dì bảo, ‘Mai mốt chế Ba về, anh Tư à. Thiệt, mai mốt này...’
Khi qua cửa dì Út Thu Lý mới hay, con mắt rửa bằng khói đã nhoè nước.
Rồi những cơn gió tháng bảy đưa tin vui đến từng mái nhà trong xóm Rạch Chùa, người ta bần thần, vậy a ? xa xứ biết bao lâu rồi, trôi dạt tận nước ngoài, cuối cùng, người con gái đó cũng về thăm lại xóm Rạch. Cậu Tư cuống quýt hỏi thằng Lụm, có đúng cổ không, mậy ? Đúng hả, về rồi hả, về một mình hả ? Vậy a ? Trời ơi! Gió thổi bời bời vào căn chòi của cậu Tư Nhớ, thốc cuộn những tàn tro xát vào những vết cắt trong lòng .
Dì Thu Lý chỉ còn làm được một chút đó cho Tư Nhớ để trả cho cậu món nợ nhà dì đã vay, để cậu gặp lại người xưa nhưng cậu đã phụ lòng, khi dì Ba Thu Lê về, tận mặt nhau, cậu lắc đầu, cười, khẳng khái "Em Lê đâu có già, đâu có mập ú ù u như vầy". Cả ba người quay lưng lại với nhau, bưng mặt khóc, thương cho tuổi thanh xuân đã qua mất rồi.
________________________________________________________
Ngày dì Út Thu Lý tròn bốn mươi bảy tuổi, dì từ giã thêm một lượt ba cái răng. Buồn quá trời đất, dì lại chùa Phấn, than với sư Huệ bây giờ không biết làm sao giáp mặt anh Tư Nhớ, răng cỏ trống hơ trống hốc vầy… Bà sư già nghe xong niệm Phật mà không nén được cười. Dì Út mượn gương, soi mình vào đấy, thấy tóc bạc, mặt nhăn, kỳ lạ thay, dì thấy cả một nỗi buồn rất lạ thăm thẳm trong lòng mình. Dì đứng đó một chút, rồi dì te tái cắp nón đi, hỏi đi đâu, dì bảo ra vườn thuốc.
Nhà cậu Tư Nhớ cũng ở đó, xiêu xiêu giữa vườn thuốc Nam, quanh năm nồng nàn hương hoa cỏ. Nhưng cậu không có nhà, cậu đang dự đám tang trên Lung Dừa. Cậu ‘đuổi quỷ’ trong đội đạo tỳ của chữ thập đỏ xã. Gần mười lăm năm cầm đuốc múa quanh quan tài đến chai tay, lửa phà nám mặt, mấy lần ngậm dầu phun lửa bị sặc trối chết. Càng lớn tuổi cậu càng tưng tưng, ai cũng nói, ổng bị sặc dầu quá trời đất như vậy mà không mát dây cũng uổng. Cậu nghèo, nhưng đèo bòng nuôi một thằng nhỏ mồ côi cha mẹ. Bình thường thì thằng Lụm kêu bằng tía, nhưng có lúc, kêu vậy, cậu la thấu trời, "Mầy làm như tao già lắm vậy, kêu tao bằng anh đi, bằng thằng cũng được nữa". Một tháng ăn cơm nhà chừng ba bữa, còn hai mươi bảy bữa cậu dọn vườn, chặt thuốc cho chùa nên được đãi cơm chay, hết việc, cậu dắt thằng con lang thang làm mướn dài dài theo xóm, ăn cơm ở đó luôn, đội đạo tỳ có việc thì hai cha con dùng cỗ đám tang, lắm lúc cậu về nhà biểu thằng Lụm, "Đổ nước mắm vô kho quẹt ăn. Tao ngán thịt heo thấu trời rồi".
Chỉ nhà dì Út Thu Lý là cậu không bao giờ lui tới. Hồi bà Hai, má dì còn sống, ra đường chạm mặt, tránh không được, cậu mới mở miệng, giọng có một chút hằn học, một chút chua xót, một chút mỉa mai : "thưa má !", rồi cậu cun cút đi thẳng. Những chiều ngang qua nhà, thấy bà Hai bắc cái ghế ngồi ngoài hàng ba là cậu cởi quần dài, tụt xuống mé kinh, lội qua khỏi đoạn đó mới ngoi ngóp lên bờ. Đám trẻ trong nhà thấy cảnh đó cười ngắt nga ngắt ngẻo, chỉ dì Sáu Thu Lý là chua xót ngẩn ngơ, người coi tưng tưng vậy mà giận dai ghê hen. Rồi dì tự hỏi, nếu mình là anh ấy, thì mình có giận không ?
Giận. Bởi gió kia, mưa kia, những mái nhà chiều chiều khói tỏa kia, người phụ nữ đang na cái bụng bầu lặc lìa qua ngõ kia, và những đứa trẻ kia, cả thằng Lụm… hết thảy đều làm cho người đàn ông đó nhớ một mái ấm đã bị tước đoạt của mình.
Bởi nếu con cậu còn sống, bây giờ chắc nó cao hơn thằng Lụm. Những khi ngồi nhớ lại, cậu ứa nước mắt, ước gì mình được nhìn thấy nó một lần, một lần thôi, sau này có sặc dầu hay chết hụt dưới mương, cậu có lẫn lộn việc này việc khác, dứt khoát cậu sẽ không quên được hình bóng vợ con mình.
Nhưng cả mơ ước đó cũng bị má vợ cậu, bà Hai cướp đi mất. Khi dì Ba Thu Lê để lòng thương cậu Tư Nhớ, roi đòn mấy cũng không cản được, bà đã nghiến răng trèo trẹo khi nhắc tới cậu, "thằng ăn cướp". Sinh cả thảy sáu người con, chỉ có hai đứa con gái, dì Út Thu Lý vụng về, đểnh đoảng, như trẻ con, vui buồn ra mặt, bà Hai dồn hết tình thương cho con gái Thu Lê vén khéo, nhu mì. Hồi đó, dì Ba mới hai mươi tuổi, trong lòng người mẹ, dì còn non nớt, dại khờ. Ai mà ngờ một bữa dì bỏ bà đi… Nhà cậu Nhớ cách nhà bà một quãng đường xóm, những bữa đi ngang qua nhà, bà Hai nghe giận nhói ngực khi thấy con gái mình khép nép đi cạnh chồng, mắt ráo lơ, ngó vô nhà như thể nước lả người dưng. Cái nhìn van lơn và hối lỗi của cậu Tư Nhớ nhỏ nhoi trước biển lửa giận hờn trong trái tim người mẹ. Không bảo nhau nhưng cả hai người đều hy vọng, dù lâu lâu lắm nhưng sẽ có một ngày bà tha thứ.
Hồi đó, gia tài của hai người chỉ có căn nhà dựng trong vườn chùa với chiếc xuồng. Dì Ba hay cười, an ủi, "Anh buồn gì, xóm mình đâu chỉ nhà mình nghèo…". Dì làm bánh bò, sáng sớm hai vợ chồng chèo dài theo các xóm ven Đầm bán, buổi chiều họ xin rơm chở về gieo cải, trồng rau trên liếp nhỏ kế bên nhà. Dạo đó, người ta dồn về nơi nầy để theo những con rạch ngoắt ngoéo ra cửa sông Thầy Xúi vượt biển tìm đất hứa. Nhiều bữa thấy người ta lỡ đường, vơ vất ngoài bờ bụi, khổ sở với bầy muỗi lá, cậu Tư cho quá giang, cho ngủ lại, san sẻ ít chén cơm nguội. Cậu với dì không hỏi họ đi đâu, làm gì, hỏi họ cũng không nói thiệt, chỉ nghĩ trong bụng, xứ sở mình đây mà hỏng ở, đi làm chi cho cực thân vậy không biết. Cho tới một bữa, trên đường chở rơm về, cậu bị công an xã bắt vì tội đưa người vượt biên. Cậu Tư Nhớ có kêu oan, nhưng các anh công an cười, hỏi bà già vợ thưa mà còn oan ức gì ? Cậu nghẹn lời, vì ngỡ ngàng và vì đau xót.
Lúc đó là tháng Năm, đôi vợ chồng trẻ đang nôn nao đếm ngược từng ngày chờ đến sang Giêng sẽ đón trẻ con ra đời…
Bốn mươi ba ngày sau cậu Tư được minh oan. Lúc về thì cỏ đã mọc xanh lối vào. Giồng cải bên nhà trổ bông, ngồng cao tới ngực. Lúc về, chuột cắn rơm làm ổ trong cái cà ràng trên bếp. Lúc về, người cũ không còn ở chỗ cũ, nhà lạnh ngắt, buồn xo. Cậu Tư Nhớ uất quá vác cây mác vót chạy tới nhà bà Hai đòi người. Bà đứng chận ở cửa, mặt thản nhiên, lạnh tanh như đồng, bảo "Ở đây không có gì liên quan tới cậu. Con tôi nó ra chợ ở rồi, còn con cậu hả ? Ra bãi rác ngoài trạm xá xã mà kiếm". Cậu Tư nhớ hoài, nhớ đời đời kiếp kiếp cái vẻ mặt chai đá của bà Hai, cậu cười, sao con người đối với nhau có thể cạn ráo đến vậy.
Cho đến bây giờ dì Thu Lý vẫn còn nhớ giọng cười của cậu hôm ấy, nó lạt nhách, không dư âm, như thể đá cười. Cho đến bây giờ, gặp dì, cậu vẫn hay cười như thế, có lúc cậu còn làm ngơ không thèm nói chuyện. Nhưng dì không giận, vì nghĩ nhà mình nợ anh ấy rất nhiều, cho tới khi má dì nằm xuống, món nợ ấy vẫn còn nguyên.
Người ở xóm Rạch Ruộng ai cũng biết dì Út Thu Lý thương cậu Tư, họ dạy con nít ngạo chơi "Trồng tre trở gốc lên trời. Con chị qua đời rồi tới con em". Nghĩ cho nghiêm túc, hai người này cũng thật xứng đôi vừa lứa. Ngày nào dì Út cũng đi làm công quả ở chùa Phấn, hốt thuốc tiếp sư cô, lúc rảnh chạy qua nhà cậu Tư Nhớ quét cái nhà, lau bộ ván, cho chó, mèo ăn. Dì coi nhà cậu như nhà mình, nên quen cái lối đi hẹp te giữa bộ ván ngựa cũ kỷ và chiếc giường. Quen với căn bếp nằm chếch phía trái, đó là một góc tù mù khói, nhưng đó là một chỗ ấm áp nhất. Mấy đứa con nít khen dì giống cô Tấm trong truyện cổ tích quá trời.
Bây giờ gần hai mươi năm rồi, tóc đã trắng những sợi già, chuyện tình đó vẫn chưa đi tới đâu, chiều nay lại, thay vì lòn tay qua lổ vách mở cái móc khoá quen thuộc ra, dì Thu Lý tự nhiên giữ lễ, đứng chờ ngoài cửa. Thằng Lụm về trước, thấy dì, nó cười, hỏi "Ủa, sao Út không vô ?". Dì bảo, "Vô gì, nhà người ta mà". Thằng Lụm nhìn dì lom lom, nó thấy dì bữa nay lạ quá, không biết có phải tại rụng mấy cái răng không. Nhưng lúc đó đã nghe tiếng đá banh dội binh binh đằng xóm, nó rảnh đâu mà thắc mắc, vọt đi mất. Cậu Tư Nhớ qua khỏi lùm nhãn lồng, làm như không thấy dì Thu Lý, vạch cái cửa đi tuốt vô nhà. Cậu Tư Nhớ ra ngoài giàn ôm củi vô, rồi chổng mông thổi lửa nấu ấm nước, khuôn mặt cậu tỉnh rụi. Nước sôi, cậu đi rửa cái bình mẻ vòi, châm trà. Cậu chống rèm cửa sau lên, lau bộ ván ngựa đầy dấu chân gà, quét cái nhà vương vãi rác, rồi ngồi uống trà. Cái vạt áo màu bông cà của dì Thu Lý vẫn phơ phất bên ngoài cửa. Muỗi kêu o e xà quần bên lổ tai, ờ, giờ này muỗi bắt đầu bay khỏi đám lá đi kiếm hơi người. Ngoài sân, chắc muỗi cũng nhiều… Cậu Tư hơi trù trừ giây lát rồi đứng lên, ra cửa trước nói trổng không :
- Sao bữa nay mắc gì mà không vô nhà ? Ngoài này muỗi cắn chết.
Dì thở ra, cứ tưởng là thằng chả không mời. Dì cố nén cười, nghiêm mặt bước vào, đứng lừng khừng khách sáo như khách lạ. Cậu Tư coi bộ hơi bực :
- Sao không ngồi đi ? Coi chừng làm nhăn bộ ván tui nghen.
Nói rồi, cậu đi gom mớ vỏ dừa khô vô nhen mẻ ung. Cậu ngồi thổi hoài cho đến khi lửa bùng lên, cậu lại vùi cho tắt. Rồi hì hụi chỗ này, hì hụi chỗ kia, không làm gì cũng lăng xăng, sực nhớ ra, cậu lại đằng chái bếp lấy khúc ổi vừa được phơi dốt nắng, ngồi đẽo ngỏng cối, ngày mai, đằng nhà Tư Biểu có đám giỗ, thể nào cũng xài. Cậu sợ rảnh tay rồi phải mở lời nói với nhau. Mà, cậu thì không biết nói gì hết, không muốn nói gì hết.
Bởi mỗi khi gặp nhau, lòng người này chỉ toàn những oán giận, những nỗi đau, còn người kia tràn đầy niềm yêu thương vô vọng mà họ đã không còn ở tuổi hai, ba mươi để nói ra tâm trạng ấy bằng lời. Nên chiều nay lặng lẽ lạ thường, có thể nghe rõ ràng tiếng muỗi kêu, tiếng xì xì mọng nước của thanh củi ướt cháy trong mẻ, tiếng lưỡi mác vót khứa ngọt vào cây ổi, tiếng trái dừa chuột khoét rụng đùng xuống hào ranh… Dì Thu Lý lên tiếng :
- Anh Tư à… Bữa nay em mới nhổ ba cái răng.
- …
- Tính luôn hổm rày là bảy cái rồi đó. Thấy vậy mà già rồi…
Cậu Tư Nhớ vẫn nín thinh, hì hụi gọt đẻo, thấy mình cũng thật nhẫn tâm. Kinh kệ mỗi ngày từ chùa Phấn vọng sang cùng tấm lòng chân thật của dì Út vẫn không làm cậu nguôi đi oán hận. Cậu mà đáp tình dì chẳng phải là đã tha thứ cho nhà đó sao, ngu sao, đâu có dễ vậy.
Dì Thu Lý ngồi trên tấm ván đã cong vênh, nghe lòng trống không đã sạch sành sanh những niềm hy vọng cuối. Không biết làm sao cho hết bối rối, dì ngó quanh quất cho giống người xa lạ chơi. Dì nhìn chiếc quai nón bằng vải nhung đã phai màu treo ở đầu giường, cái áo bà ba màu bông cà bọc trong bọc nilong treo trên vách cùng với chiếc cặp đỏ bằng nỉ (Hôm chị Thu Lê theo chồng, nó chỉ vừa đủ để ba bộ đồ với cái khăn tắm, dì Út lén má xếp dùm). Dì nói bằng một tiếng nhói :
- Anh nhớ chị Ba em !?
Lần này cậu Tư Nhớ đổ quạo, vặt lại :
- Bộ tui trâu bò sao mà không biết nhớ ? Biết còn hỏi !
Ờ, thì biết. Hơn hai mươi năm rồi cậu Tư với dì Thu Lê đã không gặp lại nhau. Mỗi bận lễ Tết, hay đằng nhà bà Hai tổ chức giỗ ông Hai, cậu đứng xa xa dòm ngó, nghe nhộn nhạo từng khúc ruột. Hỏng biết cổ có về không ta ? Thằng Lụm hiểu lòng cậu, nó chạy đi coi, nó kể ở ngoài chợ người ta về nhóc. Người nào người nấy đẹp đẹp không hà, tía. Nhưng trong đám người đẹp đó không có người cậu thương, dì Ba thì không về, dì viết thơ gởi bà Hai (lá thơ đó nhòe nước mắt) thưa rằng dì chắc chẳng bao giờ về quê nữa, quay lại đó, rồi làm sao, mặt mũi nào để gặp một người. Dì viết rằng, má ơi, má đừng buồn, chừng nào nhắm mắt xuôi tay, con sẽ về để nằm trên đất nhà mình.
Câu chuyện đó dì Thu Lý kể cho cậu Tư Nhớ nghe vào một ngày mưa gió, cậu đội áo mưa lại chữ thập đỏ xã, xin được giữ một chân đạo tỳ trong đội mai táng. Ai cũng hỏi sao tự nhiên đi làm cái nghề u ám vầy, cậu cười không nói. Chỉ có một người biết, càng biết nhiều càng nghe lòng buồn nhiều.
Dì Ba Thu Lê bây giờ đã theo chồng sống ở nước ngoài, vò võ không con, dì cay đắng, "trời phạt vậy". Dì hay gởi thư, tiền và hình về nhà. Trong hình lúc nào cũng đeo nhiều đồ trang sức, mập mạp, đầy đặn, cười thật nhiều nhưng đôi mắt lại buồn thiu thỉu, luôn luôn ngó thẳng về phía trước mà ánh nhìn không có một chỗ vịn nào. Một người sống không quê hương, sống đầy mặc cảm, dằn vặt, sống mà đau đáu hoài chuyện cũ thì biết níu đâu bây giờ ?
Chiều nay ngồi trong nhà cậu Tư Nhớ, dì Út lại nhớ chị mình. Dì chợt nghe lòng quang quẻ lạ lùng, sao mình không giúp cho anh chị ấy gặp lại nhau một lần, bây giờ không làm, đợi tới chừng nào. Mình làm được mà, thí dụ như mình giả đò chết. Chị Ba Thu Lê nhất định sẽ về, sẽ gặp lại anh Tư Nhớ, dù bây giờ tóc xanh phai màu, gặp chơi vậy thôi chứ không thay đổi được gì hết. Nhưng thương nhớ nhau thì hội ngộ lúc còn đang sống, chứ đợi người âm kẻ dương làm chi… Đời vốn dĩ đâu có buồn dữ vậy.
Dì Sáu Thu Lý ngồi ở đó tới chạng vạng, không nói thêm gì nữa, chỉ đau đáu ngắm cậu Tư, lòng tràn đầy thương yêu. Lúc về, dì mới lại gần, dạn dĩ gở cây mác vót trong tay cậu ra, nắm ngay lấy bàn tay nóng rực ấy, định cười, nhưng nhớ mấy cái răng cửa vừa nhổ nên thôi. Rồi dì bảo, ‘Mai mốt chế Ba về, anh Tư à. Thiệt, mai mốt này...’
Khi qua cửa dì Út Thu Lý mới hay, con mắt rửa bằng khói đã nhoè nước.
Rồi những cơn gió tháng bảy đưa tin vui đến từng mái nhà trong xóm Rạch Chùa, người ta bần thần, vậy a ? xa xứ biết bao lâu rồi, trôi dạt tận nước ngoài, cuối cùng, người con gái đó cũng về thăm lại xóm Rạch. Cậu Tư cuống quýt hỏi thằng Lụm, có đúng cổ không, mậy ? Đúng hả, về rồi hả, về một mình hả ? Vậy a ? Trời ơi! Gió thổi bời bời vào căn chòi của cậu Tư Nhớ, thốc cuộn những tàn tro xát vào những vết cắt trong lòng .
Dì Thu Lý chỉ còn làm được một chút đó cho Tư Nhớ để trả cho cậu món nợ nhà dì đã vay, để cậu gặp lại người xưa nhưng cậu đã phụ lòng, khi dì Ba Thu Lê về, tận mặt nhau, cậu lắc đầu, cười, khẳng khái "Em Lê đâu có già, đâu có mập ú ù u như vầy". Cả ba người quay lưng lại với nhau, bưng mặt khóc, thương cho tuổi thanh xuân đã qua mất rồi.
________________________________________________________
Thứ Hai, 25 tháng 10, 2010
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
Nguyễn Trọng Bình
Xuất hiện trên văn đàn lần đầu tiên vào năm 2000 (với truyện ngắn Ngọn đèn không tắt – giải nhất cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 lần II) đến nay Nguyễn Ngọc Tư là một trong số ít nhà văn trẻ được độc giả nhắc đến nhiều nhất. Với sở trường là những truyện ngắn viết về con người và vùng đất nơi miền cực Nam của Tổ quốc, Nguyễn Ngọc Tư đã dần chinh phục được tình cảm của đông đảo bạn đọc không chỉ trong nước mà còn ở nước ngoài. Có thể nói, một trong những điều đọng lại trong lòng độc giả khi đọc Nguyễn Ngọc Tư chính là nhờ chị biết thổi vào tác phẩm của mình những giá trị văn hóa của cha ông, cụ thể là những đặc trưng văn hóa vùng đồng bằng sông Cửu Long! Qua những sáng tác của chị, độc giả không những được thưởng thức câu chuyện thắm đượm tinh thần nhân văn mà còn được cung cấp thêm những cứ liệu văn hóa về vùng quê sông nước đồng bằng sông Cửu Long rất bổ ích.
1. Văn hóa và làng quê Nam bộ - tiền đề hình thành quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo ở Cà Mau – vùng đất phương Nam cuối cùng của tổ quốc; vì thế, một trong những tiền đề quan trọng góp phần hình thành nên quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư có nguồn gốc và cơ sở sâu xa là những yếu tố văn hóa mang đặc trưng riêng của vùng đất và con người nơi đây.
So với Trung bộ và Bắc bộ thì Nam bộ là vùng đất còn rất “trẻ” cả về vị trí địa lí lẫn lịch sử văn hoá (ở đây chúng tôi nhìn nhận ở góc độ tương quan giữa ba miền trên toàn vẹn lãnh thổ từ khi bắt đầu có cư dân người Việt sinh sống). Tuy nhiên, với khoảng trên 300 năm hình thành và phát triển, Nam bộ đã dần tạo nên một hình ảnh đẹp cả về đời sống xã hội lẫn đời sống văn hoá.
Trước hết, nói về tính cách cũng như cách đối nhân xử thế của con người, có thể thấy điểm nổi trội nhất của người Nam bộ là cách suy nghĩ bộc trực, phóng khoáng; lối sống “xả láng sáng về sớm” và luôn “chơi hết mình” vì người khác. (Thật ra về những những nét tính cách này của người Nam bộ, không phải người Việt Nam sống trên các vùng, miền khác không có. Tuy nhiên, ở đây chúng tôi muốn nhấn mạnh đến những nét nổi trội và ưu thế nhất góp phần làm nên cá tính riêng của con người ở mỗi vùng, miền…trên lãnh thổ ta mà thôi). Bên cạnh đó, người Nam bộ trong suy nghĩ và lời nói cũng thể hiện một cái gì đó rất bộc trực và thẳng thắng. Nói như nhà văn Sơn Nam đó là“tinh thần phóng khoáng thực tế, ghét những lí luận quanh co. Cứ nói thẳng để xem chuyện đó ra sao. Muốn gì thì nói phứt nó ra. Họ ghét những cuộc tranh luận về lí thuyết chính trị hoặc lí thuyết siêu hình, và có thành kiến cho rằng kẻ dùng quá nhiều lí luận là “lẻo mép”, gian xảo. Họ thích nói chuyện vui, chuyện có đầu có đuôi, những giai thoại khôi hài. Nói “lí luận” là “buồn ngủ”. Nói chuyện quanh co là kém thành thật” [4]. Người Nam bộ, vì thế, trong giao tiếp ứng xử có người cho rằng họ nói chuyện có khi “bụm miệng không kịp” vì chuyện gì cũng “huỵt tẹt” cũng “bốp chát”, “rổn rảng”, “có sao nói vậy”… điều này đã góp phần hình thành nên một thứ ngôn ngữ rất đặc trưng trong giao tiếp, nói năng của người Nam bộ. Ngôn ngữ ca dao dân ca Nam bộ thể hiện rất rõ điều này:
- Gió đưa bụi chuối tùm lum
Má dữ như hùm ai dám làm dâu.
- Dao phai kề cổ, máu đổ tui không màng
Chết tui, tui chịu chứ buông nàng tui hổng buông!
- Anh về em nắm vạt áo la làng
Anh phải bỏ chữ thương, chữ nhớ giữa đàng cho em!
- Má ơi con má hư rồi
Má lo trang điểm phấn dồi nó cũng hư.
- Nước ròng trong ngọn chảy ra
Nghe chồng em chết anh bôn ba qua liền!
Ngoài ra, đọc truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu chúng ta sẽ thấy những nét đẹp và đặc trưng của người Nam bộ cũng được nhà thơ miêu tả rất sâu sắc qua hàng loạt nhân vật đầy dũng khí và đầy nghĩa tình như: Lục Vân Tiên, Hớn Minh, Vương Tử Trực… Có thể thấy, người Nam bộ trong sinh hoạt còn có chút “quê mùa”, “thô kệch” tuy nhiên họ cũng rất biết thế nào là “kiến nghĩa bất vi vô dõng dã, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng.” Phải chăng vì thế, mỗi khi nhắc đến người dân Nam bộ, có một điều rất thú vị là không biết tự lúc nào người ta lại ưu ái và trìu mến gọi đó là người“rất Nam bộ” hay “Nam bộ rặt” rất ngộ nghĩnh và đáng yêu.
Về mặt tự nhiên, Nam bộ là vùng đất với những sông ngòi chằng chịt, những ao hồ và ruộng đồng mênh mông… Do cấu tạo tự nhiên có tính đặc thù như thế nên có thể thấy trong sinh hoạt đi lại của người dân người Nam bộ, nhất là ở những vùng quê nông thôn chủ yếu là ghe, xuồng, vỏ lãi, tắc ráng… Những yếu tố này đã tác động trực tiếp đến cách xây dựng và miêu tả hiện thực và con người trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư. Người đọc dễ dàng bắt gặp trong cách thể hiện của chị mọi sinh hoạt và đời sống của con người đều mang dấu ấn của vùng đất phù sa sông nước như: ruộng đồng, kinh rạch, dòng sông, con đò, ghe xuồng, chợ nổi…
Một vấn đề nữa, nói đến Nam bộ cũng là nói đến cái nôi của bộ môn nghệ thuật cải lương. Người Nam bộ vốn rất mê cải lương, rất hay hát những bài vọng cổ cũng như rất quý trọng những người nghệ sĩ ở những đoàn, gánh hát đã đem lời ca tiếng hát của mình để phục vụ bà con sau một ngày lao động vất vả. Cuộc sống sinh hoạt của họ thường gắn liền với những cuộc hát hò vui chơi mà họ gọi là “đờn ca tài tử” thắm đượm tình làng nghĩa xóm… Có thể nói, tất cả những yếu tố trên là kho cứ liệu văn hóa dồi dào, là nguồn cảm hứng mãnh liệt giúp Nguyễn Ngọc Tư xây dựng và khắc họa hình tượng con người Nam bộ mang đậm chất văn hóa Nam bộ: mê đờn ca tài tử, thích hát vọng cổ và đặc biệt là rất thích trở thành nghệ sĩ cải lương…
Cuối cùng, hiện nay, khi đất nước đã thật sự bước vào quỹ đạo chung của xu thế hội nhập và toàn cầu hóa; nhắc đến vùng đất Nam bộ đặc biệt là các tỉnh thuộc miền Tây Nam bộ (trong đó có Cà Mau) có một sự thật làm mọi người phải xót xa, đó là: tuy vùng đất này là vựa lúa, vựa lương thực lớn nhất nước nhưng về mặt bằng dân trí và trình độ học vấn của người dân thì lại thấp nhất nước. Theo đánh giá của các cơ quan quản lý về giáo dục và văn hóa thì đồng bằng sông Cửu Long là “vùng trũng” về giáo dục của cả nước. Đây có thể nói là một thực trạng đau lòng. Chính thực trạng đau lòng này làm nảy sinh nhiều vấn nạn, gây ra nhiều bi kịch của con người nơi đây. Và đó cũng là một trong những đặc điểm quan trọng góp phần tạo nên cách nhìn và thể hiện con người với những ước mơ và khát vọng đời thường, nhỏ nhoi trong hàng loạt truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư. Những con người vì thất học nên cái nghèo, cái đói nghèo cứ mãi đeo đuổi. Để sinh tồn họ phải lăn lộn, phải bươn chải quanh năm trên ruộng đồng, sông nước thậm chí phải đánh đổi cả thân xác…
Như vậy, có thể nói do được sống và lớn lên trên mảnh đất Nam bộ, những nét tính cách trong văn hóa ứng xử cũng như ngôn ngữ của cha ông đã ăn sâu vào tiềm thức của Nguyễn Ngọc Tư. Vì thế, khi sáng tác, những nét văn hóa “rặt Nam Bộ” ấy đã đi vào trang viết của chị một cách tự nhiên như một điều tất yếu không thể nào khác được.
2. Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư – ý thức trân trọng, giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc
Bao trùm các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư là hiện thực cuộc sống con người trên mảnh đất Nam bộ với cánh đồng lúa mênh mông, những con sông uốn lượn hay những bờ kinh, con mương và vô số những đầm, đìa, rạch, xẻo...; những chợ nổi với ghe xuồng, sóng nước tấp nập…; những câu hò, điệu hát lên xuống theo từng con nước lớn, ròng; hay những bài vọng cổ buồn được cất lên từ những đoàn ca múa cải lương đang len lỏi mưu sinh tận trong những chợ quê nghèo… Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư bao giờ cũng được triển khai trên cái nền của “bức tranh” sinh hoạt văn hóa ở làng quê Nam bộ độc đáo ấy, nói như nhà văn Nguyên Ngọc đó chính là “không gian… của Nguyễn Ngọc Tư”. Ở phương diện nào đó, đây là những lời quãng bá và “tiếp thị” bằng văn chương rất độc đáo Nguyễn Ngọc Tư về những nét đẹp của văn hóa làng quê đồng bằng sông Cửu Long. Điều này đã lí giải vì sao những ai đọc văn Nguyễn Ngọc Tư cảm thấy rất thích thú, yêu mến và xúc động khi đọc đến những dòng, những câu chị miêu tả về cảnh sinh hoạt “đời thường” của người dân quê ở xứ sở ruộng đồng, sông nước miền Tây Nam bộ. Đọc truyện của chị, như tác giả Huỳnh Công Tín đã nhận xét thì: “người đọc sẽ cảm nhận được chất Nam Bộ thể hiện khái quát ở nhiều phương diện của tác phẩm… Trong tác phẩm của chị có một không gian Nam Bộ với những loại cây, tên gọi nghe quen, dân dã: “mắm, đước, sú, vẹt, bần, tra, tràm, choại, quao, ô rô, dừa nước...”, với những vàm, kinh, rạch, xẻo, tắt chằng chịt, mà tên gọi cũng gợi trí tò mò, tìm hiểu ở người đọc: “vàm Cỏ Xước, Vàm Mắm, kinh Cỏ Chác, kinh Mười Hai, kinh Thợ Rèn, Rạch Mũi, Rạch Ráng, Rạch Ruộng, Xẻo Mê, Xẻo Rô, Lung Lớn, Gò Cây Quao...”, hay những tên ấp, tên làng, tên chợ nhiều chất Nam Bộ: “xóm Xẻo, xóm Rạch, xóm Kinh Cụt, xóm Miễu, chợ Ba Bảy Chín, Cái Nước, Trảng Cò, Đất Cháy, Mút Cà Tha …” [6].
Vì vậy có thể nói, ý thức trân trọng, giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư trước hết được thể hiện ở sự khẳng định và niềm tự hào của nhà văn về những phẩm chất và giá trị văn hóa vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đọc truyện Nguyễn Ngọc Tư vì thế người đọc không những được thưởng thức những câu chuyện thắm đượm tình người mà còn được cung cấp cấp thêm nhiều cứ liệu văn hóa rất bổ ích về vùng đất cực Nam của Tổ quốc. Ví như người đọc sẽ hiểu thêm về chợ nổi ở Nam bộ; hay hiểu thêm về những gia đình, những con người cả đời phải bươn chảy, mưu sinh trên những chiếc ghe theo từng con nước lớn, ròng được chị tái hiện rất chân thật, sinh động nhưng cũng không kém phần mượt mà và duyên dáng.
“Giang nói không có con kinh con rạch nào mà ghe chưa đi qua, không có đường ngang ngõ tắt nào mà ông Chín không biết. Xuôi dòng, ngược dòng, con nước kém, con nước rong… Lúc đó con Thủy còn mềm xèo nhỏ xíu như con mèo mướp. Hệt như Giang, nó lớn lên trên ghe. Lúc buôn bán, lúc nấu cơm, ông Chín không bồng được, Giang buộc sợi dây dù vô chân nó, đầu kia Giang buộc vô mui ghe. Con Thủy bò chán bò chê rồi nằm ngửa ra, ngó những trái cà, trái khóm, trái bí, bầu ông Chín treo lúc lỉu trên nhánh chà đằng mui ghe.” (Nhớ sông)
Hay đọc Nguyễn Ngọc Tư người đọc phần nào sẽ hiểu thêm về nghề “nuôi vịt chạy đồng” trên những cánh đồng mênh mông, bạt ngàn, “cò bay thẳng cánh” rất đặc trưng ở vùng sông nước Nam bộ:
“Mùa gặt năm nào anh cũng xuôi ghe chở bầy vịt chạy đồng về xóm gạch giồng này. Rồi cất cái chòi bằng lá chuối, quây lưới cầm vịt trên khúc đê trồng so đũa. Từ chỗ này, mỗi ngày anh lang thang lùa vịt đi ăn khắp cả vạt đồng, qua tới vườn xóm lung. Tới khi người ta bừa đất chuẩn bị sạ vụ mới, Sáng lại ra đi…” (Một dòng xuôi mải miết)
Người đọc cũng sẽ bắt gặp trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư những cứ liệu văn hóa về vùng đất Nam Bộ với “cái nôi” của môn nghệ thuật cải lương; hay về những người dân quê Nam bộ vì mê hát cải lương, mê ca vọng cổ đã không ngần ngại bỏ cửa, bỏ nhà, bỏ giàu sang vinh hiển để đi theo những đoàn gánh hát cho thỏa niềm đam mê ca hát:
“Hôm sau khi gánh hát Kim Tiêu trở lại Sài Gòn, có công tử bỏ nhà bỏ phú quí đi theo”.(Cuối mùa nhan sắc)
Ngoài ra, Nam bộ trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư đôi khi chỉ hiện lên một cách giản dị, dân dã qua một món ăn “canh chua bông súng và cá sặc kho khô” rất quen thuộc trong mâm cơm của người dân quê nghèo khó, lam lũ. Món ăn tuy dân dã, bình dị nhưng chứa đựng cả một giá trị lịch sử và văn hóa khẩn hoang của cha ông thời trước được dân gian lưu truyền qua câu ca dao quen thuộc:
Muốn ăn bông súng cá (mắm ) kho
Thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm
(Ca dao Nam bộ)
Ý thức trân trọng và giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư còn thể hiện ở điểm nhìn tiếp cận hiện thực đời sống với thái độ ngợi ca và trân trọng những giá trị văn hóa đã ăn sâu vào tiềm thức qua bao thế hệ của người dân thôn quê. Điều này nếu so với các nhà văn cùng thời và cùng trang lứa hiện nay như Nguyễn Đình Tú, Phong Điệp, Đỗ Hoàng Diệu,… thì đây chính là cái nhìn thể hiện cá tính sáng tạo rất độc đáo của Nguyễn Ngọc Tư. Có thể thấy, hiện thực trong tác phẩm của các nhà văn vừa kể trên chủ yếu được nhìn từ điểm nhìn và chỗ đứng của những con người thành thị đang cố chống chọi với cuộc sống công nghiệp hóa, hiện đại hóa rất sôi động và nóng bỏng. Đây là cái nhìn của Phong Điệp trong truyện ngắn “Thế là vừa hết một đêm”:
“Hai thằng héo hon tính đã đến hơn chục năm để bon chen chốn thị thành. Cuối cùng một thằng khá hơn, cũng mua được căn nhà xa tít tắp, ở cạnh sông, nước quanh năm đen quánh như mực. Trời hơi dậy nắng là mùi thum thủm từ sông dội lên. Rồi giống như tên kẻ trộm tinh ranh và lành nghề, cái mùi thum thủm ấy, thoắt cái đã chui tọt vào nhà rồi trốn vào một ngóc ngách nào đó mà gia chủ không hề hay biết. Chỉ đến khi nó ăn cắp hết bầu không khí trong lành ở khắp các gian phòng thì chủ nhà mới té ngửa. Nhưng chả làm sao khác được. Coi như cùng chung sống, có chăng cẩn thận hơn bằng việc ra vào khép cửa. Nước lau nhà Sunday hương nắng mới gì gì đó cũng chịu chết, chả tẩy uế được cái mùi thum thủm, nhức cả đầu ấy. “Tên kẻ trộm” đã quyết tâm bám riết lấy “nơi trú ngụ” mới”.
Còn với Đỗ Hoàng Diệu, hiện thực trong tác phẩm của chị thậm chí có lúc còn được nhìn với một thái độ phủ nhận, báng bổ rất quyết liệt những vấn đề liên quan đến làng quê, thôn xóm. Bóng đè là tác phẩm tiêu biểu cho cách nhìn này của Đỗ Hoàng Diệu khi chị nhìn về làng quê và những nếp sinh hoạt của người dân quê (Bắc bộ). Đó là một thái độ lạnh nhạt, được nhìn với ánh mắt “đẩy đưa” của một “tiểu thư” thành thị cảm thấy rất khổ sở mỗi khi phải theo chồng về thăm quê:
“Quê Thụ cách thành phố khoảng ba giờ tàu hỏa. Tôi không ngờ đồng quê khác biệt đến thế… Lần về trước bận bịu khách tôi đã chẳng có thời gian đẩy đưa con mắt.”
Hay: “Tưởng tượng ra viễn cảnh mỗi năm phải còng lưng làm cơm cúng mười bảy đám giỗ cho đến ngày Thụ qua đời, tôi không khỏi ngao ngán”.
Hay: “Vợ tôi thoát nạn nhà quê rồi, tiểu thư thôi không nằm phản mồ hôi nhễ nhại như đêm qua! Sướng nhé!”
Không giống như những nhà văn trên, hiện thực trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư chủ yếu được nhìn từ chỗ đứng thể hiện niềm tự hào của những người dân quê. Tự hào vì trong “bức tranh” hiện thực ấy là những giá trị văn hóa bao đời của cha ông. Với Nguyễn Ngọc Tư làng quê nông thôn tuy nghèo khó nhưng rất thân tình và ấm áp. Trong lời đề từ cho truyện ngắn Nhớ sông, Nguyễn Ngọc Tư tái hiện cảnh sinh hoạt của chợ nổi - một nét văn hóa rất đặc trưng của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, rất hay như sau:
“Tôi thường đứng trên cầu Gành Hào, nhìn về chợ nổi, ở đó có thể trông thấy một dãy ghe rập rờn xao động cả mặt sóng, những cái chân vịt gác chỏng lên loang loáng dưới mặt trời. Mỗi chiếc ghe là một ngôi nhà nhỏ, ngang hai mét, dài năm bảy mét. Nhỏ bé, chật hẹp. Nhưng có một cái gì đó thật khác thường, thế giới đó hẹp đến nỗi chỉ vừa xoay lưng, để nằm co, để cúi người…mà cũng dài cũng rộng vô phương bởi cuộc sống rày đây mai đó, lênh đênh cuối bãi đầu ghềnh. Những chiều tà chợ nổi đìu hiu bập bềnh đâu hết một vạt áo nắng vàng hoe hoe, đỏ hoe hoe. Những người đàn bà cúi đầu chăm chăm xới nồi cơm dào dạt khói, những người đàn ông xếp bằng trên mui ghe vấn những điếu thuốc to đùng bằng đầu ngón chân cái, phì phà nhả khói lên trời. Những đứa trẻ con ngồi tênh hênh trên mũi ghe câu cá chốt, cá mè. Những cô gái sau một ngày bán hàng mệt mỏi soi mình xuống sông, chải tóc.”
Còn đây là nét sinh hoạt chuẩn bị cho một đám cưới quê cũng rất đặc trưng ở vùng sông nước Cửu Long:
“Vẫn còn tiếng lụp cụp rộn ràng của mấy cây dao chặt vào mặt thớt mù u. Vẫn tiếng nói cười xao động từng chòm nhóm của các chị các dì trong nhà bếp. Tiếng máy đèn chạy tạch rè. Đằng trước rạp, nhóm ca cải lương dạo đàn lửng ta lửng tửng rồi ai đó vô câu vọng cổ ngọt xớt. Không biết vô tình hay cố ý, anh chàng nọ kê micrô gần miệng mà uống rượu nghe đánh cái chóc giòn thiệt giòn rồi khà ra tuồng như cay đắng lắm, chua xót lắm, bắt thèm. (Huệ lấy chồng)
Hay trong truyện ngắn Nhà cổ, Nguyễn Ngọc Tư nói rất chân thành và xúc động về nguyên nhân hai anh em nhân vật Tứ Hải không chịu bán căn nhà cổ xiêu quẹo, mục nát:
“Nhân Phủ” của anh cách nhà tôi một hàng rào cặm bằng cây bình bát, đó là ngôi nhà cũ kỹ, già nua nhất làng cổ Phương Điền. Nghe kể, ông tổ nhà anh Tứ Hải đã đứng dưới cây dông nem trước nhà, bảo tốp thợ ông muốn làm một ngôi nhà đẹp nhất, rộng nhất xứ này, một ngôi nhà thật lớn cho tất cả con cháu ông khi sinh ra đều có chỗ cho mình. Ròng rã hơn ba mươi năm, những người thợ xứ Quãng đã làm nên một kiệt tác nhà rường Nam bộ nghiêm cẩn, công phu chạm trổ từng chi tiết nhỏ, từ cây cột cái tới ngạch cửa, từ cánh cửa tới mấy cái bậc tam cấp lối vào… Nghe kể, khi làm “Nhân Phủ”, người ta đã cúng đủ mười lễ, nên nó điềm nhiên đi qua hai cuộc chiến tranh mà không có một vết tích nào”.
Tương tự vậy, trong truyện Một mối tình, người đọc cũng bắt gặp một không gian kỉ niệm mang đậm chất văn hóa truyền thống của cha ông. Nhân vật Trọng trong truyện - một thanh niên còn trẻ nhưng rất có ý thức trong việc nâng niu, gìn giữ nếp văn hóa bao đời của gia đình mình qua bao thế hệ:
“Nhà Trọng có một cái lạ nữa là trên bàn thờ lúc nào cũng chong đèn, ngày tháng này qua ngày tháng khác, năm này qua năm khác, ngọn đèn truyền từ đời cố Trọng, nội rồi tới Trọng, không bao giờ được phép tắt. Chiều nào chị em tôi đi ngang qua cũng thấy Trọng lọ mọ ngồi lau cái bóng đèn hột vịt ám khói, châm dầu bằng cái vẻ thành kính, nâng niu.”
Những vấn đề trên một lần nữa cho thấy tác giả là một người am tường và gắn bó sâu đậm với những giá trị văn hóa của cha ông. Trong thời buổi công nghiệp hóa, hiện đại hóa, một nhà văn với tuổi đời còn khá trẻ như Nguyễn Ngọc Tư nhưng biết, hiểu và quan tâm đến “cái bóng đèn hột vịt ám khói” – có thể nói là một kỷ niệm, một kỷ vật chứng nhân cho một thời, một giai đoạn phát triển của lịch sử dân tộc - là rất đáng trân trọng. Phải là người gắn bó sâu nặng và có ý thức giữ gìnnhững giá trị truyền thống của cha ông mới có thể viết hay và thiết tha như vậy.
Tóm lại, có thể nói, từ những sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư cho thấy ở chị một điểm nhìn, một cái nhìn, một cách tiếp cận hiện thực đời sống thể hiện sự hiểu biết khá sâu sắc về văn hóa và con người Nam bộ. Tất cả những vấn đề trên cho thấy ở Nguyễn Ngọc Tư cái tâm thế luôn tìm về với những giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống của cha ông. Đây phải chăng cũng là quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư – quan niệm: khẳng định vẻ đẹp và ý nghĩa của cuộc sống con người không thể tách rời tâm thức và cội nguồn văn hóa dân tộc; là cách Nguyễn Ngọc Tư tiếp cận hiện thực đời sống xã hội - một sự kế thừa và tiếp nối về một khuynh hướng tiếp cận hiện thực từ góc nhìn văn hóa trong sáng tạo văn chương nghệ thuật từ các thế hệ cha ông?
3. Thay lời kết
Có thể nói, việc tái hiện đồng thời khẳng định những giá trị văn hóa của cha ông vào trong tác phẩm là một việc làm có chủ ý của Nguyễn Ngọc Tư trong quá trình phản ánh hiện thực cuộc sống. Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư đã chuyển tải được những giá trị văn hóa độc đáo của cha ông đến với người đọc bằng một sự cảm nhận rất “đời thường”. Đây có thể xem là khuynh hướng thẩm mỹ trong sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư - khuynh hướng thổi vào tác phẩm những phẩm chất và giá trị văn hóa của dân tộc, của quê hương (cụ thể ở đây là những nét đẹp văn hóa nơi vùng đất cực Nam của tổ quốc). Điều này cũng góp phần lý giải vì sao sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư nói chung luôn được đông đảo bạn đọc ủng hộ; được các nghệ sĩ, sân khấu và điện ảnh tìm đến với một sự đồng cảm sâu sắc với mong muốn được chuyển tải lại bằng ngôn ngữ nghệ thuật của riêng họ (các tác phẩm Cánh đồng bất tận, Dòng nhớ, Chiều vắng… của Nguyễn Ngọc Tư được các nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh mua bản quyền chuyển thành kịch bản sân khấu và kịch bản điện ảnh). Thành công của Nguyễn Ngọc Tư một lần nữa cho thấy bản lĩnh của Nguyễn Ngọc Tư khi đã dũng cảm chọn cho mình một hướng đi riêng đó là: không “chạy theo đám đông”, không chạy theo xu hướng “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” cả trong cách nghĩ và cách sống (nhiều khi rất tầm thường và “lệch chuẩn”) mà khá nhiều nhà văn trẻ hiện nay đang xem là “mốt” thời thượng khi sáng tác. Tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư vì thế, thoạt nhìn bề ngoài có gì đó rất “xù xì”, “thô mộc” nhưng khi ngắm kĩ, nhìn kĩ lại thì lại sẽ thấy rất thùy mỵ, rất dịu dàng và “nết na” phản ánh đúng cái chất truyền thống - cái tâm hồn Việt Nam nghìn đời. Đọc Nguyễn Ngọc Tư vì vậy, nếu là người đang sống trên mảnh đất này sẽ cảm thấy rất tự hào vì quê hương Nam bộ khi đi vào trang viết của Nguyễn Ngọc Tư sao mà đáng yêu, đáng quý đến thế. Nếu là người có một thời sống ở mảnh đất này nhưng vì cuộc sống phải tha hương cầu thực thì những trang viết của Nguyễn Ngọc Tư không chỉ cho họ thêm niềm tự hào mà còn gợi lên trong lòng một cảm giác cồn cào nhớ quê đến quay quắt cháy bỏng, thầm mong một ngày nào đó được trở về. Còn nếu là người chưa một lần đặt chân đến đây, những trang viết của Nguyễn Ngọc Tư chính là lời giới thiệu giúp họ hiểu thêm về con người và vùng đất mang đậm dấu ấn văn hóa sông nước rất đáng yêu và đáng tự hào của tổ quốc.
_________________________________________
MỘT SỐ TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
1. Nguyễn Văn Hạnh - Văn hóa như là nguồn lạch sáng tạo và khám phá văn chương. Tạp chí văn học, số 1, năm 2007
2. Hoàng Ngọc Hiến - Văn học gần và xa. Nhà xuất bản Giáo dục, 2006
3. Nguyễn Đăng Mạnh - Nhà văn tư tưởng và phong cách. Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 2001
4. Sơn Nam - Đồng bằng sông Cửu Long nét sinh hoạt xưa và văn minh miệt vườn. Nhà xuất bản Trẻ, 2004
5. Lê Ngọc Trà - Lý luận và văn học. Nhà xuất bản Trẻ, 2005
6. Website http://www.viet-studies.info/NNTu/ (chuyên trang về Nguyễn Ngọc Tư do Trần Hữu Dũng thiết kế và quản lý).
_________________________________________________
Xuất hiện trên văn đàn lần đầu tiên vào năm 2000 (với truyện ngắn Ngọn đèn không tắt – giải nhất cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 lần II) đến nay Nguyễn Ngọc Tư là một trong số ít nhà văn trẻ được độc giả nhắc đến nhiều nhất. Với sở trường là những truyện ngắn viết về con người và vùng đất nơi miền cực Nam của Tổ quốc, Nguyễn Ngọc Tư đã dần chinh phục được tình cảm của đông đảo bạn đọc không chỉ trong nước mà còn ở nước ngoài. Có thể nói, một trong những điều đọng lại trong lòng độc giả khi đọc Nguyễn Ngọc Tư chính là nhờ chị biết thổi vào tác phẩm của mình những giá trị văn hóa của cha ông, cụ thể là những đặc trưng văn hóa vùng đồng bằng sông Cửu Long! Qua những sáng tác của chị, độc giả không những được thưởng thức câu chuyện thắm đượm tinh thần nhân văn mà còn được cung cấp thêm những cứ liệu văn hóa về vùng quê sông nước đồng bằng sông Cửu Long rất bổ ích.
1. Văn hóa và làng quê Nam bộ - tiền đề hình thành quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo ở Cà Mau – vùng đất phương Nam cuối cùng của tổ quốc; vì thế, một trong những tiền đề quan trọng góp phần hình thành nên quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư có nguồn gốc và cơ sở sâu xa là những yếu tố văn hóa mang đặc trưng riêng của vùng đất và con người nơi đây.
So với Trung bộ và Bắc bộ thì Nam bộ là vùng đất còn rất “trẻ” cả về vị trí địa lí lẫn lịch sử văn hoá (ở đây chúng tôi nhìn nhận ở góc độ tương quan giữa ba miền trên toàn vẹn lãnh thổ từ khi bắt đầu có cư dân người Việt sinh sống). Tuy nhiên, với khoảng trên 300 năm hình thành và phát triển, Nam bộ đã dần tạo nên một hình ảnh đẹp cả về đời sống xã hội lẫn đời sống văn hoá.
Trước hết, nói về tính cách cũng như cách đối nhân xử thế của con người, có thể thấy điểm nổi trội nhất của người Nam bộ là cách suy nghĩ bộc trực, phóng khoáng; lối sống “xả láng sáng về sớm” và luôn “chơi hết mình” vì người khác. (Thật ra về những những nét tính cách này của người Nam bộ, không phải người Việt Nam sống trên các vùng, miền khác không có. Tuy nhiên, ở đây chúng tôi muốn nhấn mạnh đến những nét nổi trội và ưu thế nhất góp phần làm nên cá tính riêng của con người ở mỗi vùng, miền…trên lãnh thổ ta mà thôi). Bên cạnh đó, người Nam bộ trong suy nghĩ và lời nói cũng thể hiện một cái gì đó rất bộc trực và thẳng thắng. Nói như nhà văn Sơn Nam đó là“tinh thần phóng khoáng thực tế, ghét những lí luận quanh co. Cứ nói thẳng để xem chuyện đó ra sao. Muốn gì thì nói phứt nó ra. Họ ghét những cuộc tranh luận về lí thuyết chính trị hoặc lí thuyết siêu hình, và có thành kiến cho rằng kẻ dùng quá nhiều lí luận là “lẻo mép”, gian xảo. Họ thích nói chuyện vui, chuyện có đầu có đuôi, những giai thoại khôi hài. Nói “lí luận” là “buồn ngủ”. Nói chuyện quanh co là kém thành thật” [4]. Người Nam bộ, vì thế, trong giao tiếp ứng xử có người cho rằng họ nói chuyện có khi “bụm miệng không kịp” vì chuyện gì cũng “huỵt tẹt” cũng “bốp chát”, “rổn rảng”, “có sao nói vậy”… điều này đã góp phần hình thành nên một thứ ngôn ngữ rất đặc trưng trong giao tiếp, nói năng của người Nam bộ. Ngôn ngữ ca dao dân ca Nam bộ thể hiện rất rõ điều này:
- Gió đưa bụi chuối tùm lum
Má dữ như hùm ai dám làm dâu.
- Dao phai kề cổ, máu đổ tui không màng
Chết tui, tui chịu chứ buông nàng tui hổng buông!
- Anh về em nắm vạt áo la làng
Anh phải bỏ chữ thương, chữ nhớ giữa đàng cho em!
- Má ơi con má hư rồi
Má lo trang điểm phấn dồi nó cũng hư.
- Nước ròng trong ngọn chảy ra
Nghe chồng em chết anh bôn ba qua liền!
Ngoài ra, đọc truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu chúng ta sẽ thấy những nét đẹp và đặc trưng của người Nam bộ cũng được nhà thơ miêu tả rất sâu sắc qua hàng loạt nhân vật đầy dũng khí và đầy nghĩa tình như: Lục Vân Tiên, Hớn Minh, Vương Tử Trực… Có thể thấy, người Nam bộ trong sinh hoạt còn có chút “quê mùa”, “thô kệch” tuy nhiên họ cũng rất biết thế nào là “kiến nghĩa bất vi vô dõng dã, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng.” Phải chăng vì thế, mỗi khi nhắc đến người dân Nam bộ, có một điều rất thú vị là không biết tự lúc nào người ta lại ưu ái và trìu mến gọi đó là người“rất Nam bộ” hay “Nam bộ rặt” rất ngộ nghĩnh và đáng yêu.
Về mặt tự nhiên, Nam bộ là vùng đất với những sông ngòi chằng chịt, những ao hồ và ruộng đồng mênh mông… Do cấu tạo tự nhiên có tính đặc thù như thế nên có thể thấy trong sinh hoạt đi lại của người dân người Nam bộ, nhất là ở những vùng quê nông thôn chủ yếu là ghe, xuồng, vỏ lãi, tắc ráng… Những yếu tố này đã tác động trực tiếp đến cách xây dựng và miêu tả hiện thực và con người trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư. Người đọc dễ dàng bắt gặp trong cách thể hiện của chị mọi sinh hoạt và đời sống của con người đều mang dấu ấn của vùng đất phù sa sông nước như: ruộng đồng, kinh rạch, dòng sông, con đò, ghe xuồng, chợ nổi…
Một vấn đề nữa, nói đến Nam bộ cũng là nói đến cái nôi của bộ môn nghệ thuật cải lương. Người Nam bộ vốn rất mê cải lương, rất hay hát những bài vọng cổ cũng như rất quý trọng những người nghệ sĩ ở những đoàn, gánh hát đã đem lời ca tiếng hát của mình để phục vụ bà con sau một ngày lao động vất vả. Cuộc sống sinh hoạt của họ thường gắn liền với những cuộc hát hò vui chơi mà họ gọi là “đờn ca tài tử” thắm đượm tình làng nghĩa xóm… Có thể nói, tất cả những yếu tố trên là kho cứ liệu văn hóa dồi dào, là nguồn cảm hứng mãnh liệt giúp Nguyễn Ngọc Tư xây dựng và khắc họa hình tượng con người Nam bộ mang đậm chất văn hóa Nam bộ: mê đờn ca tài tử, thích hát vọng cổ và đặc biệt là rất thích trở thành nghệ sĩ cải lương…
Cuối cùng, hiện nay, khi đất nước đã thật sự bước vào quỹ đạo chung của xu thế hội nhập và toàn cầu hóa; nhắc đến vùng đất Nam bộ đặc biệt là các tỉnh thuộc miền Tây Nam bộ (trong đó có Cà Mau) có một sự thật làm mọi người phải xót xa, đó là: tuy vùng đất này là vựa lúa, vựa lương thực lớn nhất nước nhưng về mặt bằng dân trí và trình độ học vấn của người dân thì lại thấp nhất nước. Theo đánh giá của các cơ quan quản lý về giáo dục và văn hóa thì đồng bằng sông Cửu Long là “vùng trũng” về giáo dục của cả nước. Đây có thể nói là một thực trạng đau lòng. Chính thực trạng đau lòng này làm nảy sinh nhiều vấn nạn, gây ra nhiều bi kịch của con người nơi đây. Và đó cũng là một trong những đặc điểm quan trọng góp phần tạo nên cách nhìn và thể hiện con người với những ước mơ và khát vọng đời thường, nhỏ nhoi trong hàng loạt truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư. Những con người vì thất học nên cái nghèo, cái đói nghèo cứ mãi đeo đuổi. Để sinh tồn họ phải lăn lộn, phải bươn chải quanh năm trên ruộng đồng, sông nước thậm chí phải đánh đổi cả thân xác…
Như vậy, có thể nói do được sống và lớn lên trên mảnh đất Nam bộ, những nét tính cách trong văn hóa ứng xử cũng như ngôn ngữ của cha ông đã ăn sâu vào tiềm thức của Nguyễn Ngọc Tư. Vì thế, khi sáng tác, những nét văn hóa “rặt Nam Bộ” ấy đã đi vào trang viết của chị một cách tự nhiên như một điều tất yếu không thể nào khác được.
2. Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư – ý thức trân trọng, giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc
Bao trùm các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư là hiện thực cuộc sống con người trên mảnh đất Nam bộ với cánh đồng lúa mênh mông, những con sông uốn lượn hay những bờ kinh, con mương và vô số những đầm, đìa, rạch, xẻo...; những chợ nổi với ghe xuồng, sóng nước tấp nập…; những câu hò, điệu hát lên xuống theo từng con nước lớn, ròng; hay những bài vọng cổ buồn được cất lên từ những đoàn ca múa cải lương đang len lỏi mưu sinh tận trong những chợ quê nghèo… Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư bao giờ cũng được triển khai trên cái nền của “bức tranh” sinh hoạt văn hóa ở làng quê Nam bộ độc đáo ấy, nói như nhà văn Nguyên Ngọc đó chính là “không gian… của Nguyễn Ngọc Tư”. Ở phương diện nào đó, đây là những lời quãng bá và “tiếp thị” bằng văn chương rất độc đáo Nguyễn Ngọc Tư về những nét đẹp của văn hóa làng quê đồng bằng sông Cửu Long. Điều này đã lí giải vì sao những ai đọc văn Nguyễn Ngọc Tư cảm thấy rất thích thú, yêu mến và xúc động khi đọc đến những dòng, những câu chị miêu tả về cảnh sinh hoạt “đời thường” của người dân quê ở xứ sở ruộng đồng, sông nước miền Tây Nam bộ. Đọc truyện của chị, như tác giả Huỳnh Công Tín đã nhận xét thì: “người đọc sẽ cảm nhận được chất Nam Bộ thể hiện khái quát ở nhiều phương diện của tác phẩm… Trong tác phẩm của chị có một không gian Nam Bộ với những loại cây, tên gọi nghe quen, dân dã: “mắm, đước, sú, vẹt, bần, tra, tràm, choại, quao, ô rô, dừa nước...”, với những vàm, kinh, rạch, xẻo, tắt chằng chịt, mà tên gọi cũng gợi trí tò mò, tìm hiểu ở người đọc: “vàm Cỏ Xước, Vàm Mắm, kinh Cỏ Chác, kinh Mười Hai, kinh Thợ Rèn, Rạch Mũi, Rạch Ráng, Rạch Ruộng, Xẻo Mê, Xẻo Rô, Lung Lớn, Gò Cây Quao...”, hay những tên ấp, tên làng, tên chợ nhiều chất Nam Bộ: “xóm Xẻo, xóm Rạch, xóm Kinh Cụt, xóm Miễu, chợ Ba Bảy Chín, Cái Nước, Trảng Cò, Đất Cháy, Mút Cà Tha …” [6].
Vì vậy có thể nói, ý thức trân trọng, giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư trước hết được thể hiện ở sự khẳng định và niềm tự hào của nhà văn về những phẩm chất và giá trị văn hóa vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đọc truyện Nguyễn Ngọc Tư vì thế người đọc không những được thưởng thức những câu chuyện thắm đượm tình người mà còn được cung cấp cấp thêm nhiều cứ liệu văn hóa rất bổ ích về vùng đất cực Nam của Tổ quốc. Ví như người đọc sẽ hiểu thêm về chợ nổi ở Nam bộ; hay hiểu thêm về những gia đình, những con người cả đời phải bươn chảy, mưu sinh trên những chiếc ghe theo từng con nước lớn, ròng được chị tái hiện rất chân thật, sinh động nhưng cũng không kém phần mượt mà và duyên dáng.
“Giang nói không có con kinh con rạch nào mà ghe chưa đi qua, không có đường ngang ngõ tắt nào mà ông Chín không biết. Xuôi dòng, ngược dòng, con nước kém, con nước rong… Lúc đó con Thủy còn mềm xèo nhỏ xíu như con mèo mướp. Hệt như Giang, nó lớn lên trên ghe. Lúc buôn bán, lúc nấu cơm, ông Chín không bồng được, Giang buộc sợi dây dù vô chân nó, đầu kia Giang buộc vô mui ghe. Con Thủy bò chán bò chê rồi nằm ngửa ra, ngó những trái cà, trái khóm, trái bí, bầu ông Chín treo lúc lỉu trên nhánh chà đằng mui ghe.” (Nhớ sông)
Hay đọc Nguyễn Ngọc Tư người đọc phần nào sẽ hiểu thêm về nghề “nuôi vịt chạy đồng” trên những cánh đồng mênh mông, bạt ngàn, “cò bay thẳng cánh” rất đặc trưng ở vùng sông nước Nam bộ:
“Mùa gặt năm nào anh cũng xuôi ghe chở bầy vịt chạy đồng về xóm gạch giồng này. Rồi cất cái chòi bằng lá chuối, quây lưới cầm vịt trên khúc đê trồng so đũa. Từ chỗ này, mỗi ngày anh lang thang lùa vịt đi ăn khắp cả vạt đồng, qua tới vườn xóm lung. Tới khi người ta bừa đất chuẩn bị sạ vụ mới, Sáng lại ra đi…” (Một dòng xuôi mải miết)
Người đọc cũng sẽ bắt gặp trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư những cứ liệu văn hóa về vùng đất Nam Bộ với “cái nôi” của môn nghệ thuật cải lương; hay về những người dân quê Nam bộ vì mê hát cải lương, mê ca vọng cổ đã không ngần ngại bỏ cửa, bỏ nhà, bỏ giàu sang vinh hiển để đi theo những đoàn gánh hát cho thỏa niềm đam mê ca hát:
“Hôm sau khi gánh hát Kim Tiêu trở lại Sài Gòn, có công tử bỏ nhà bỏ phú quí đi theo”.(Cuối mùa nhan sắc)
Ngoài ra, Nam bộ trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư đôi khi chỉ hiện lên một cách giản dị, dân dã qua một món ăn “canh chua bông súng và cá sặc kho khô” rất quen thuộc trong mâm cơm của người dân quê nghèo khó, lam lũ. Món ăn tuy dân dã, bình dị nhưng chứa đựng cả một giá trị lịch sử và văn hóa khẩn hoang của cha ông thời trước được dân gian lưu truyền qua câu ca dao quen thuộc:
Muốn ăn bông súng cá (mắm ) kho
Thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm
(Ca dao Nam bộ)
Ý thức trân trọng và giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư còn thể hiện ở điểm nhìn tiếp cận hiện thực đời sống với thái độ ngợi ca và trân trọng những giá trị văn hóa đã ăn sâu vào tiềm thức qua bao thế hệ của người dân thôn quê. Điều này nếu so với các nhà văn cùng thời và cùng trang lứa hiện nay như Nguyễn Đình Tú, Phong Điệp, Đỗ Hoàng Diệu,… thì đây chính là cái nhìn thể hiện cá tính sáng tạo rất độc đáo của Nguyễn Ngọc Tư. Có thể thấy, hiện thực trong tác phẩm của các nhà văn vừa kể trên chủ yếu được nhìn từ điểm nhìn và chỗ đứng của những con người thành thị đang cố chống chọi với cuộc sống công nghiệp hóa, hiện đại hóa rất sôi động và nóng bỏng. Đây là cái nhìn của Phong Điệp trong truyện ngắn “Thế là vừa hết một đêm”:
“Hai thằng héo hon tính đã đến hơn chục năm để bon chen chốn thị thành. Cuối cùng một thằng khá hơn, cũng mua được căn nhà xa tít tắp, ở cạnh sông, nước quanh năm đen quánh như mực. Trời hơi dậy nắng là mùi thum thủm từ sông dội lên. Rồi giống như tên kẻ trộm tinh ranh và lành nghề, cái mùi thum thủm ấy, thoắt cái đã chui tọt vào nhà rồi trốn vào một ngóc ngách nào đó mà gia chủ không hề hay biết. Chỉ đến khi nó ăn cắp hết bầu không khí trong lành ở khắp các gian phòng thì chủ nhà mới té ngửa. Nhưng chả làm sao khác được. Coi như cùng chung sống, có chăng cẩn thận hơn bằng việc ra vào khép cửa. Nước lau nhà Sunday hương nắng mới gì gì đó cũng chịu chết, chả tẩy uế được cái mùi thum thủm, nhức cả đầu ấy. “Tên kẻ trộm” đã quyết tâm bám riết lấy “nơi trú ngụ” mới”.
Còn với Đỗ Hoàng Diệu, hiện thực trong tác phẩm của chị thậm chí có lúc còn được nhìn với một thái độ phủ nhận, báng bổ rất quyết liệt những vấn đề liên quan đến làng quê, thôn xóm. Bóng đè là tác phẩm tiêu biểu cho cách nhìn này của Đỗ Hoàng Diệu khi chị nhìn về làng quê và những nếp sinh hoạt của người dân quê (Bắc bộ). Đó là một thái độ lạnh nhạt, được nhìn với ánh mắt “đẩy đưa” của một “tiểu thư” thành thị cảm thấy rất khổ sở mỗi khi phải theo chồng về thăm quê:
“Quê Thụ cách thành phố khoảng ba giờ tàu hỏa. Tôi không ngờ đồng quê khác biệt đến thế… Lần về trước bận bịu khách tôi đã chẳng có thời gian đẩy đưa con mắt.”
Hay: “Tưởng tượng ra viễn cảnh mỗi năm phải còng lưng làm cơm cúng mười bảy đám giỗ cho đến ngày Thụ qua đời, tôi không khỏi ngao ngán”.
Hay: “Vợ tôi thoát nạn nhà quê rồi, tiểu thư thôi không nằm phản mồ hôi nhễ nhại như đêm qua! Sướng nhé!”
Không giống như những nhà văn trên, hiện thực trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư chủ yếu được nhìn từ chỗ đứng thể hiện niềm tự hào của những người dân quê. Tự hào vì trong “bức tranh” hiện thực ấy là những giá trị văn hóa bao đời của cha ông. Với Nguyễn Ngọc Tư làng quê nông thôn tuy nghèo khó nhưng rất thân tình và ấm áp. Trong lời đề từ cho truyện ngắn Nhớ sông, Nguyễn Ngọc Tư tái hiện cảnh sinh hoạt của chợ nổi - một nét văn hóa rất đặc trưng của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, rất hay như sau:
“Tôi thường đứng trên cầu Gành Hào, nhìn về chợ nổi, ở đó có thể trông thấy một dãy ghe rập rờn xao động cả mặt sóng, những cái chân vịt gác chỏng lên loang loáng dưới mặt trời. Mỗi chiếc ghe là một ngôi nhà nhỏ, ngang hai mét, dài năm bảy mét. Nhỏ bé, chật hẹp. Nhưng có một cái gì đó thật khác thường, thế giới đó hẹp đến nỗi chỉ vừa xoay lưng, để nằm co, để cúi người…mà cũng dài cũng rộng vô phương bởi cuộc sống rày đây mai đó, lênh đênh cuối bãi đầu ghềnh. Những chiều tà chợ nổi đìu hiu bập bềnh đâu hết một vạt áo nắng vàng hoe hoe, đỏ hoe hoe. Những người đàn bà cúi đầu chăm chăm xới nồi cơm dào dạt khói, những người đàn ông xếp bằng trên mui ghe vấn những điếu thuốc to đùng bằng đầu ngón chân cái, phì phà nhả khói lên trời. Những đứa trẻ con ngồi tênh hênh trên mũi ghe câu cá chốt, cá mè. Những cô gái sau một ngày bán hàng mệt mỏi soi mình xuống sông, chải tóc.”
Còn đây là nét sinh hoạt chuẩn bị cho một đám cưới quê cũng rất đặc trưng ở vùng sông nước Cửu Long:
“Vẫn còn tiếng lụp cụp rộn ràng của mấy cây dao chặt vào mặt thớt mù u. Vẫn tiếng nói cười xao động từng chòm nhóm của các chị các dì trong nhà bếp. Tiếng máy đèn chạy tạch rè. Đằng trước rạp, nhóm ca cải lương dạo đàn lửng ta lửng tửng rồi ai đó vô câu vọng cổ ngọt xớt. Không biết vô tình hay cố ý, anh chàng nọ kê micrô gần miệng mà uống rượu nghe đánh cái chóc giòn thiệt giòn rồi khà ra tuồng như cay đắng lắm, chua xót lắm, bắt thèm. (Huệ lấy chồng)
Hay trong truyện ngắn Nhà cổ, Nguyễn Ngọc Tư nói rất chân thành và xúc động về nguyên nhân hai anh em nhân vật Tứ Hải không chịu bán căn nhà cổ xiêu quẹo, mục nát:
“Nhân Phủ” của anh cách nhà tôi một hàng rào cặm bằng cây bình bát, đó là ngôi nhà cũ kỹ, già nua nhất làng cổ Phương Điền. Nghe kể, ông tổ nhà anh Tứ Hải đã đứng dưới cây dông nem trước nhà, bảo tốp thợ ông muốn làm một ngôi nhà đẹp nhất, rộng nhất xứ này, một ngôi nhà thật lớn cho tất cả con cháu ông khi sinh ra đều có chỗ cho mình. Ròng rã hơn ba mươi năm, những người thợ xứ Quãng đã làm nên một kiệt tác nhà rường Nam bộ nghiêm cẩn, công phu chạm trổ từng chi tiết nhỏ, từ cây cột cái tới ngạch cửa, từ cánh cửa tới mấy cái bậc tam cấp lối vào… Nghe kể, khi làm “Nhân Phủ”, người ta đã cúng đủ mười lễ, nên nó điềm nhiên đi qua hai cuộc chiến tranh mà không có một vết tích nào”.
Tương tự vậy, trong truyện Một mối tình, người đọc cũng bắt gặp một không gian kỉ niệm mang đậm chất văn hóa truyền thống của cha ông. Nhân vật Trọng trong truyện - một thanh niên còn trẻ nhưng rất có ý thức trong việc nâng niu, gìn giữ nếp văn hóa bao đời của gia đình mình qua bao thế hệ:
“Nhà Trọng có một cái lạ nữa là trên bàn thờ lúc nào cũng chong đèn, ngày tháng này qua ngày tháng khác, năm này qua năm khác, ngọn đèn truyền từ đời cố Trọng, nội rồi tới Trọng, không bao giờ được phép tắt. Chiều nào chị em tôi đi ngang qua cũng thấy Trọng lọ mọ ngồi lau cái bóng đèn hột vịt ám khói, châm dầu bằng cái vẻ thành kính, nâng niu.”
Những vấn đề trên một lần nữa cho thấy tác giả là một người am tường và gắn bó sâu đậm với những giá trị văn hóa của cha ông. Trong thời buổi công nghiệp hóa, hiện đại hóa, một nhà văn với tuổi đời còn khá trẻ như Nguyễn Ngọc Tư nhưng biết, hiểu và quan tâm đến “cái bóng đèn hột vịt ám khói” – có thể nói là một kỷ niệm, một kỷ vật chứng nhân cho một thời, một giai đoạn phát triển của lịch sử dân tộc - là rất đáng trân trọng. Phải là người gắn bó sâu nặng và có ý thức giữ gìnnhững giá trị truyền thống của cha ông mới có thể viết hay và thiết tha như vậy.
Tóm lại, có thể nói, từ những sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư cho thấy ở chị một điểm nhìn, một cái nhìn, một cách tiếp cận hiện thực đời sống thể hiện sự hiểu biết khá sâu sắc về văn hóa và con người Nam bộ. Tất cả những vấn đề trên cho thấy ở Nguyễn Ngọc Tư cái tâm thế luôn tìm về với những giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống của cha ông. Đây phải chăng cũng là quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư – quan niệm: khẳng định vẻ đẹp và ý nghĩa của cuộc sống con người không thể tách rời tâm thức và cội nguồn văn hóa dân tộc; là cách Nguyễn Ngọc Tư tiếp cận hiện thực đời sống xã hội - một sự kế thừa và tiếp nối về một khuynh hướng tiếp cận hiện thực từ góc nhìn văn hóa trong sáng tạo văn chương nghệ thuật từ các thế hệ cha ông?
3. Thay lời kết
Có thể nói, việc tái hiện đồng thời khẳng định những giá trị văn hóa của cha ông vào trong tác phẩm là một việc làm có chủ ý của Nguyễn Ngọc Tư trong quá trình phản ánh hiện thực cuộc sống. Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư đã chuyển tải được những giá trị văn hóa độc đáo của cha ông đến với người đọc bằng một sự cảm nhận rất “đời thường”. Đây có thể xem là khuynh hướng thẩm mỹ trong sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư - khuynh hướng thổi vào tác phẩm những phẩm chất và giá trị văn hóa của dân tộc, của quê hương (cụ thể ở đây là những nét đẹp văn hóa nơi vùng đất cực Nam của tổ quốc). Điều này cũng góp phần lý giải vì sao sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư nói chung luôn được đông đảo bạn đọc ủng hộ; được các nghệ sĩ, sân khấu và điện ảnh tìm đến với một sự đồng cảm sâu sắc với mong muốn được chuyển tải lại bằng ngôn ngữ nghệ thuật của riêng họ (các tác phẩm Cánh đồng bất tận, Dòng nhớ, Chiều vắng… của Nguyễn Ngọc Tư được các nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh mua bản quyền chuyển thành kịch bản sân khấu và kịch bản điện ảnh). Thành công của Nguyễn Ngọc Tư một lần nữa cho thấy bản lĩnh của Nguyễn Ngọc Tư khi đã dũng cảm chọn cho mình một hướng đi riêng đó là: không “chạy theo đám đông”, không chạy theo xu hướng “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” cả trong cách nghĩ và cách sống (nhiều khi rất tầm thường và “lệch chuẩn”) mà khá nhiều nhà văn trẻ hiện nay đang xem là “mốt” thời thượng khi sáng tác. Tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư vì thế, thoạt nhìn bề ngoài có gì đó rất “xù xì”, “thô mộc” nhưng khi ngắm kĩ, nhìn kĩ lại thì lại sẽ thấy rất thùy mỵ, rất dịu dàng và “nết na” phản ánh đúng cái chất truyền thống - cái tâm hồn Việt Nam nghìn đời. Đọc Nguyễn Ngọc Tư vì vậy, nếu là người đang sống trên mảnh đất này sẽ cảm thấy rất tự hào vì quê hương Nam bộ khi đi vào trang viết của Nguyễn Ngọc Tư sao mà đáng yêu, đáng quý đến thế. Nếu là người có một thời sống ở mảnh đất này nhưng vì cuộc sống phải tha hương cầu thực thì những trang viết của Nguyễn Ngọc Tư không chỉ cho họ thêm niềm tự hào mà còn gợi lên trong lòng một cảm giác cồn cào nhớ quê đến quay quắt cháy bỏng, thầm mong một ngày nào đó được trở về. Còn nếu là người chưa một lần đặt chân đến đây, những trang viết của Nguyễn Ngọc Tư chính là lời giới thiệu giúp họ hiểu thêm về con người và vùng đất mang đậm dấu ấn văn hóa sông nước rất đáng yêu và đáng tự hào của tổ quốc.
_________________________________________
MỘT SỐ TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
1. Nguyễn Văn Hạnh - Văn hóa như là nguồn lạch sáng tạo và khám phá văn chương. Tạp chí văn học, số 1, năm 2007
2. Hoàng Ngọc Hiến - Văn học gần và xa. Nhà xuất bản Giáo dục, 2006
3. Nguyễn Đăng Mạnh - Nhà văn tư tưởng và phong cách. Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 2001
4. Sơn Nam - Đồng bằng sông Cửu Long nét sinh hoạt xưa và văn minh miệt vườn. Nhà xuất bản Trẻ, 2004
5. Lê Ngọc Trà - Lý luận và văn học. Nhà xuất bản Trẻ, 2005
6. Website http://www.viet-studies.info/NNTu/ (chuyên trang về Nguyễn Ngọc Tư do Trần Hữu Dũng thiết kế và quản lý).
_________________________________________________
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)