Hiển thị các bài đăng có nhãn lý luận văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lý luận văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2011

Mỹ học trong sự biến chuyển của triết học ngày nay


Luôn suy ngẫm và chiêm nghiệm về tồn tại người cùng thế giới sống của nó để thấu hiểu “nhân cách đang đổi thay trong một thế giới đang thay đổi”, triết học đã có những bước ngoặt lớn qua thế kỷ XX và thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI.

Đó là bước ngoặt bản thể luận, nhân loại học, ngôn ngữ học trong thế kỷ XX và bước ngoặt thực tiễn trong thế kỷ XXI. Xuyên suốt những bước ngoặt ấy, mỹ học thể hiện ra như là nền tảng của tri thức triết học ngày nay. Tuy nhiên, với khả năng hiện có, việc tìm hiểu và nghiên cứu cách tiếp cận thẩm mỹ với tri thức triết học một cách toàn diện gặp không ít khó khăn. Trong bài viết này, chúng tôi dừng ở việc bước đầu xem xét một số quan điểm mới xuất hiện gần đây trong cách tiếp cận này và trên cơ sở đó, đưa ra một vài suy nghĩ của mình.
Trong chiều hướng kiếm tìm ấy, trước tiên cần phải nói đến công trình Cơ sở thẩm mỹ của bản thể luận triết học của Naiman Evghenhi Arturovich. Đây là luận án tiến sĩ khoa học triết học mà ông đã bảo vệ thành công từ năm 2004 tại trường Đại học Tổng hợp Tomxk. Theo E.A.Naiman, với bước ngoặt bản thể luận diễn ra từ giữa thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu đã hướng đến phân tích các hệ thống triết học như những bản thể luận chuyên biệt nhằm khám phá và mô tả bản chất người. Chính giờ đây mới xuất hiện một bản thể luận thực sự - bản thể luận triết học. Chúng ta biết rằng, bản thể luận triết học không quan tâm đến cái gì đang tồn tại mà chỉ quan tâm tới sự tồn tại là cái gì, trong đó có vấn đề phương thức tồn tại của con người. Trong tình huống ấy, thân thể của con người được xem như kinh nghiệm đầu tiên của tồn tại. Chính vì thế mà xúc cảm người, trước tiên là những trải nghiệm thẩm mỹ trở thành phương tiện và công cụ để phân tích và kiến tạo bản thể luận triết học. E.A.Naiman cho rằng, cho đến nay, cách tiếp cận thẩm mỹ với bản thể luận triết học vẫn chưa hiện hình một cách hệ thống trên cả bình diện lý luận lẫn bình diện phương pháp luận. Vì vậy, có thể nói, luận án tiến sĩ khoa học của ông là một trong những dự án mang tính tiên phong.(*)
Theo E.A.Naiman, mối quan hệ giữa mỹ học và triết học tồn tại trong suốt tiến trình phát triển của triết học châu Âu. Parmenide và Heraclit đều mong muốn triết học trở thành mỹ học; vì thế, không phải ngẫu nhiên mà thi ca có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong bản thể luận của các ông. Tuy nhiên, sau đó  Platon nhận thấy rằng với sự trợ giúp của luận chứng hóa (argumentation), triết học đã “trục xuất” mỹ học ra khỏi đối tượng của mình để tự giải thiêng       hoá (desacralisation) và thế tục hoá (secularisation) nhằm hạn chế uy quyền của thi ca. Arixtốt đã tiến hành khu vực hoá (regionalisation) mỹ học bên trong tri thức triết học: nhận thức mang tính thi ca trở thành đối tượng của triết học còn lý luận thi ca chuyển thành một bộ môn riêng biệt. 
Với việc tuyên bố hoà tan cái thẩm mỹ vào trong bản thể luận triết học, Hêghen là người đầu tiên tiến hành phê phán việc khu vực hoá mỹ học của Arixtốt. Trong hệ thống triết học của Hêghen, nghệ thuật đã được giải thoát khỏi khu vực hạn hẹp để nhập vào triết học. Trong thế kỷ XX, cả M.Heidegger lẫn H.G.Gadamer cùng ủng hộ mệnh đề về “cái chết của nghệ thuật” của Hêghen. Nếu M.Heidegger phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa chủ quan của mỹ học, thì H.G.Gadamer lại muốn nhập mỹ học vào chú giải học. Với H.G.Gadamer, vấn đề bản thể luận của việc hiểu đã trở thành vấn đề chung của cả mỹ học lẫn chú giải học. Các phạm trù mỹ học bắt đầu được lý giải như các phạm trù bản thể luận. Hơn nữa, nghệ thuật không được tư duy trong việc trình bày hay lý giải mà bản chất của nó được khám phá trong tình thế trình diện (presentation) - hiện diện (presence). H.G.Gadamer đã gắn kết nhận thức thẩm mỹ với nhận thức bản thể luận: chủ thể thẩm mỹ không phải gì khác hơn là chủ thể của khả năng phán đoán thẩm mỹ, đồng thời là chủ thể của quá trình chơi. E.A.Naiman cho rằng, quan điểm “biến cố thẩm mỹ” của M.Bakhtrin cũng rất gần gũi với quan điểm này. Như vậy, từ giữa thế kỷ XX, cái thẩm mỹ bắt đầu được xem xét trong hệ thống trình diện - hiện diện mà nhờ đó, mỹ học và bản thể luận được kết gắn và thâm nhập vào nhau.
Có một hiện tượng cần lưu ý, vào cuối thế kỷ XX các nhà triết học, như Pol de Man, Nancy, Foucault, Delezeur, Lyotard, Bourdieu, Derrida, v.v. đều hướng đến xem xét lại vai trò quyết định của sự phản tư thẩm mỹ của I.Kant trong việc khám phá những cội nguồn không diễn giải, không phân tích của tư duy. Theo quan điểm của các nhà triết học này, dường như I.Kant đã ở “bên ngoài” mỹ học. Đối với I.Kant, mỹ học với nguyên lý tiên nghiệm nằm trong cơ sở của nó không được rút ra từ những suy luận chung về hiện tượng nghệ thuật và sáng tạo nghệ thuật. Chính những vấn đề nhận thức lý luận đã trở thành cơ sở cho sự phản tư thẩm mỹ. I.Kant là người đầu tiên nhận thấy cách lý giải không thuần thẩm mỹ các phạm trù mỹ học, như “cái đẹp” và “cái cao cả”. Ngoài ra, ở I.Kant, mỹ học giữ vị trí trung tâm trong hệ thống triết học, nó được “cởi bỏ” để lớn dậy trong triết học và là những tiềm thế cho hoạt động triết học. Như vậy, I.Kant là người đầu tiên đã khước từ việc kiến tạo mỹ học với tư cách một lĩnh vực riêng biệt của tri thức triết học: những vấn đề thẩm mỹ được xem xét như những vấn đề triết học. Với bộ ba phê phán, I.Kant đã chứng minh rằng mỹ học tiên nghiệm chỉ có thể được hình thành và phát triển trong việc phê phán nhận thức lý luận.
Đi theo con đường lý giải bản thể luận các phạm trù mỹ học không phải chỉ có mỗi I.Kant với lý luận về “cái đẹp” và “cái cao cả” (đề tài nghiên cứu của J.Lyotard, J.Nancy, J.Derrida,    Pol de Man), mà còn có D.Diderot với việc hiểu “mimesic” (đề tài nghiên cứu của Ph.Laku Labart), Holderlin với lý luận về “cái bi” (đề tài nghiên cứu của Ph.Laku Labart, J.Nancy, P.Jirar) và Ph.Schlegel với lý luận “Witz” (đề tài nghiên cứu của J.Nancy, M.Phrank). “Nhờ những cách lý giải đó, các phạm trù mỹ học được suy ngẫm trong tình thái “hiện diện” đã bắt đầu trở thành phương tiện chủ yếu để phê phán các lý luận chủ thể siêu hình, chủ quan và duy tâm - tư biện. Mỹ học phương Tây đã mở đường và sáng tạo nên “mỹ học phê phán”, một mỹ học có khả năng suy ngẫm lại những phạm trù thẩm mỹ xuất phát từ những quan hệ mà trước đây thường bị liệt vào những lĩnh vực phi thẩm mỹ của tinh thần”(1).
Tiếp tục con đường ít nhiều đã được khai phá, E.A.Naiman muốn xác định xem những nguyên lý của nhận thức mỹ học đã thâm nhập và tác động vào hoạt động triết học như thế nào, thông qua việc làm sáng tỏ những cơ sở thẩm mỹ của nhận thức bản thể luận cùng với việc sử dụng các khái niệm mỹ học như những công cụ phê phán có khả năng khám phá đặc thù của các quá trình siêu hình học. Ông tự đề ra cho mình nhiệm vụ tiếp tục hoàn thành việc kiến tạo lại bản thể luận dưới cách nhìn của mỹ học - một công việc ít nhiều đã được thực hiện trong triết học của I.Kant, triết học của chủ nghĩa lãng mạn, triết học tư biện của Hêghen, triết học hiện tượng học và hiện sinh. Theo ông, một ý đồ như vậy đòi hỏi trước hết phải chỉ ra mối liên hệ sinh thành của nhận thức bản thể luận và nhận thức mỹ học. Trên bình diện lịch sử, mối liên hệ sinh thành ấy đã được thể hiện trong các lý luận “giải phóng thẩm mỹ của cái hiện sinh” từ Schiller đến Foucault và Rorty. Trong các lý luận này, kinh nghiệm thẩm mỹ được xem xét như là nguyên lý cơ bản của sự tự nhận thức và cuộc sống thực tiễn hàng ngày, còn nhu cầu siêu hình học của con người lại có cội nguồn thẩm mỹ. Trên cơ sở đó, E.A.Naiman khẳng định: “Bản thể luận thể hiện cả chiều đo triết học cũng như chiều đo thẩm mỹ trong trường triết học”(2).
Xurina Tachiana Vladimirovna đã mở rộng chiều hướng nghiên cứu của Naiman khi khẳng định rằng, “thi ca như là cơ sở thẩm mỹ của bản thể luận văn hoá”(3). Trước hết, T.V.Xurina đã nhận thấy rằng hầu như toàn bộ những cách tiếp cận hiện thời về vấn đề tồn tại và những khả năng nhận thức nó đều ít nhiều có liên quan và gắn bó với mỹ học. Không có một trào lưu triết học nào hiện nay có thể thoát khỏi tầm ảnh hưởng của cơ sở thẩm mỹ. Ngày nay, việc xây dựng bức tranh bản thể luận thế giới được thực hiện không phải bằng tính duy lý, mà bằng cái đẹp mà không phủ nhận khả năng của Ratio. Tri thức triết học đang nhích dần tới một thái cực khác của văn hoá, một thái cực mà ở đó giá trị có hình thức cụ thể cảm tính hoàn thiện của mình - hình thức thi ca.  Siêu hình học đã nắm giữ văn hoá để nảy sinh Logos như Ratio và đã chế định những mối quan hệ trong môi trường văn hoá theo kiểu duy lý khoa học. Với sự xuất hiện của chủ nghĩa hậu hiện đại, siêu hình học đã bị giải kết cấu còn quyền lực của nó - quyền lực của Logos như Ratio cũng bị bãi bỏ. Chủ nghĩa hậu hiện đại đã giải kết cấu tính duy lý như cái khởi nguyên liên kết ban đầu nhưng không thể đưa ra một cái gì đó thay thế cho nó; vì thế, văn hoá đã mất cơ sở của mình, bị rã ra thành “những đoạn và những mẩu” như R.Rorthy đã từng nhận xét. Trong tình huống đó, T.V.Xurina cho rằng, “cần phải hướng tới những khả năng vốn có của thi ca, bởi lẽ cái đẹp như ý niệm nền tảng trong sự hình thành tồn tại đã nằm trong cơ sở của bản thể luận (chủ thể - tồn tại) cũng đồng thời là sự sáng tạo. Vì lẽ đó, triết học cũng có phẩm chất của mỹ học, còn mỹ học được thực hiện như thi ca, nghĩa là như cội nguồn của việc truy vấn đến tận cùng về thế giới, như phương thức “lôi cái tính khai mở ra” (M.Heidegger). Bởi, sự hình thành của chân lý cho phép hiện thể đang là, ở đó vẻ đẹp là dấu hiệu của sự thống nhất cao cả. Với việc xem xét bản thể luận từ góc độ của vẻ đẹp và cái đẹp, chúng ta nhận thức thế giới trong hành vi chiêm nghiệm mà nhờ đó, tư tưởng được nảy sinh từ “sự sang chấn tâm hồn” (M.K.Mamardashvili). Cái chủ thể trở thành cái khách thể còn cái đã được khách thể hoá lại mang tính bản thể luận, nghĩa là có đặc trưng tích hợp của thế giới thông qua sự tồn tại của các hình thái khác nhau của nó”(4).
T.V.Xurina đã cố diễn giải thêm rằng, luận án của bà hướng đến đề tài này do xuất phát từ tình huống văn hoá hiện thời - tình huống mất cội rễ hiện sinh của con người. Trong tình huống đó, hoạt động có suy ngẫm của con người cũng như toàn bộ toà nhà văn hoá dường như đã bị mất cái khởi nguyên liên kết ban đầu, dường như bị treo lửng lơ trong không trung. Do vậy, ngày nay, vấn đề tìm kiếm những cơ sở của văn hoá, nền tảng của văn hoá trở thành cấp bách một cách hiển nhiên. Dõi theo việc mất “cội rễ” trong nền văn hoá hiện thời, một nền văn hoá đang gắng vùng vẫy, tìm cách để thoát khỏi tình trạng “tái sản xuất”, khuôn mẫu, thoát khỏi một hệ hình xơ cứng, chúng ta có thể đi đến kết luận rằng, nhằm tránh lâm vào sự hỗn loạn (chaos) đòi hỏi phải tìm kiếm cơ sở, nền tảng cho sự sáng tạo cái mới. Xuất phát từ đó, T.V.Xurina đã “hướng tới thi ca (poiesis) như sự sáng tạo và cho rằng nếu xem xét trong toàn bộ ý nghĩa và việc hiểu của mình thì thi ca là nền tảng bản thể luận của văn hoá. Đề tài thi ca như nền tảng bản thể luận của văn hoá đã không được chuyển thành một đề mục trong lý luận và triết học văn hoá, dẫu rằng đã có không ít các nhà triết học và văn hoá học bằng cách này hay cách khác nhắc nhở phải chú ý nhiều hơn nữa tới đề tài này. Ngày nay, khi mà việc giải kết cấu siêu hình học đã được tiến hành và đã xuất hiện nhu cầu tìm kiếm những nền tảng, những cơ sở của tư duy và tồn tại, vấn đề những nền tảng của văn hoá, trong đó có vấn đề thi ca ngày càng trở nên cấp bách và đòi hỏi sự giải quyết của mình”(5).
Trong việc tìm lại cội rễ thực sự để làm sao cho cuộc sống của con người hiện đại hôm nay thoát khỏi “tha hoá”, nếu E.A.Naiman muốn chỉ ra bình diện thẩm mỹ trong bản thể luận triết học, T.V.Xurina cố gắng mở rộng hơn khi kiếm tìm cơ sở thẩm mỹ của bản thể luận văn hoá thì V.V.Bưchkov lại muốn mỹ học có một vai trò “phóng khoáng” hơn và bao quát hơn khi tuyên bố: “Mỹ học - đó là khoa học về sự hoà hợp của con người với Vũ trụ”.
Công trình của V.V.Bưchkov quả là đặc biệt, ở chỗ dù nó được đề là giáo trình cho các trường đại học ở Nga, nhưng người đọc vẫn thấy đây là một công trình nghiên cứu nghiêm túc, một cuốn bách khoa thư rút gọn về mỹ học hiện thời. Kế thừa tư tưởng của Viện sỹ V.X.Stropin về sự hình thành và phát triển của nền văn minh sinh thành từ công nghệ và tương ứng với sự tiến triển ấy là sự hình thành nối tiếp nhau các hệ hình của tư duy, của khoa học và triết học trong lịch sử: hệ hình cổ điển, hệ hình phi cổ điển và hệ hình hậu phi cổ điển. V.V.Bưchkov đã vận dụng sáng tạo những cơ sở phương pháp luận ấy trong công trình của mình. Ông phân chia lịch sử phát triển của mỹ học thành ba giai đoạn: mỹ học cổ điển, mỹ học phi cổ điển và mỹ học hậu phi cổ điển.
Theo V.V.Bưchkov, trong mỹ học của thế kỷ XX đã diễn ra không ít những biến chuyển lớn lao: đánh giá lại các giá trị truyền thống, cải tổ lại các hệ hình cảm xúc, nghệ thuật và tư duy. Tất cả những việc đó đã tạo điều kiện cho việc xuất hiện mỹ học phi cổ điển. Mỹ học phi cổ điển mong muốn biến đổi thực sự đối tượng của mỹ học cùng với việc gạt bỏ không ít những phạm trù truyền thống và đưa vào hàng loạt những khái niệm mới - những cận phạm trù (paracategories) mà phần lớn những khái niệm và cận phạm trù ấy đối với mỹ học cổ điển may lắm cũng chỉ được xếp ở bên lề, mà không được nhập vào trường thẩm mỹ. Mỹ học phi cổ điển đã khước từ những cơ sở siêu hình học của mỹ học và trên bình diện phương pháp luận, chuyển trọng tâm sang kinh nghiệm của các khoa học nhân văn cụ thể: ngôn ngữ học, tâm lý học, xã hội học, ký hiệu học, đã sử dụng những diễn ngôn cấu trúc và hậu hiện đại. Trong việc xác định lại đối tượng của mình, mỹ học phi cổ điển đã đan kết với ngữ văn học và nghệ thuật học, văn hoá học và chính trị học. Vì thế đã có một tình huống đầy nghịch lý: xuất hiện một khoa học nhờ liên kết các khoa học cụ thể mà không có đối tượng rõ ràng. Mỹ học phi cổ điển muốn dẫn dắt chúng ta bước vào “tinh thần của thời đại”, hoà nhập vào tình huống hiện thời của văn hoá - tình huống POST-CULTURE(6). 
Khi bước vào những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, V.V.Bưchkov khẳng định rằng chúng ta lại đang ở ngưỡng hình thành một giai đoạn mới trong sự phát triển của ý thức thẩm mỹ, của mỹ học như một khoa học: mỹ học hậu phi cổ điển. Sự hình thành mỹ học hậu phi cổ điển này tương ứng với quá trình phát triển mang tính toàn cầu của nền văn minh sinh thành từ công nghệ và cũng giống như những khuynh hướng đang xuất hiện trong tri thức khoa học tự nhiên (khoa học hậu phi cổ điển) và trong triết học (triết học hậu phi cổ điển). Đối với lĩnh vực thẩm mỹ của chúng ta, thực chất của quá trình này nằm ở sự phân tích hiện thời tri thức thẩm mỹ dựa trên nền tảng siêu hình học triết học của mỹ học cổ điển (cội rễ) và tiếp thu một cách chủ động những kinh nghiệm của mỹ học phi cổ điển (những cành, nhánh) và nhờ qua những sự rẽ nhánh đó quay trở lại xem xét một cách sáng tạo những luận điểm cơ bản của mỹ học cổ điển.
V.V.Bưchkov đã nhận xét một cách tinh tế rằng, ở đây chẳng có gì là mới mẻ trong quá trình này. Nó cũng tựa như những kịch bản đã được thực hiện trong lịch sử văn hoá chung của nhân loại. Thực tế cho thấy, khi chuyển hoá từ nền văn hoá cổ đại sang nền văn hoá Thiên chúa giáo, các nhà biện hộ Thiên chúa đầu tiên chẳng đã phủ định một cách nghiêm ngặt toàn bộ những thành quả của văn hoá cổ đại để sau đó vài thế kỷ, các giáo phụ lại tích cực thu thập, gìn giữ, nghiên cứu và nhập không ít những thành quả của văn hoá cổ đại vào nền văn hoá của mình. Vấn đề là ở sự triệt để và sâu sắc ít nhiều của những quá trình này. Trên cơ sở những cái lắng đọng lại sau hơn một thế kỷ hình thành và phát triển của mỹ học phi cổ điển, chúng ta có thể đưa ra một vài kết luận quan trọng.
Trước hết, chúng ta muốn khẳng định rằng, mỹ học cũng như đạo đức học hay triết học không biến mất và không thể biến mất. Trong bản chất của mình, đối tượng của mỹ học không hề thay đổi và biến đổi (trong trường hợp ngược lại sẽ là một khoa học khác nào đó). Điều chủ chốt mà chúng tôi muốn khẳng định qua những trang sách của công trình này: đối tượng của mỹ học thuộc về những cái phổ quát bản chất của tồn tại người và văn hoá, không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ ai có ý định coi thường, vứt bỏ hay tuyệt đối hoá nó”(7).
V.V.Bưchkov cho rằng, quá trình làm sáng tỏ nghĩa và định hình đối tượng của mỹ học đã trải dài suốt thế kỷ XX và được khởi đầu bởi công trình của B.Croch. Bắt đầu từ đó, mỹ học khước từ những định nghĩa cổ điển (mỹ học là triết học về cái đẹp và nghệ thuật) và phạm trù mới - cái thẩm mỹ như một phạm trù khái quát nhất, có nội dung thực sự trong việc xác định đối tượng của mỹ học đã nảy sinh và được phổ biến rộng rãi. Cũng không phải vô cớ mà một số nhà mỹ học phi cổ điển có ý tưởng coi mỹ học như triết học văn hoá. Như trên đã nói, mỹ học hậu phi cổ điển ở đầu thế kỷ XXI của chúng ta là sự tổng hợp của mỹ học cổ điển và phi cổ điển. Vì vậy, chẳng có gì ngạc nhiên khi cái ý nghĩa siêu hình học trong việc xác định đối tượng của mỹ học cổ điển vẫn gia nhập vào nội dung cái thẩm mỹ hiện nay. “Trong bình diện rộng nhất, ý nghĩa này có thể được thể hiện bằng các khái niệm “tiếp xúc” (contact) và “hài hoà” (harmonie). Khoái cảm thẩm mỹ chỉ nảy sinh trong trạng thái tiếp xúc của chủ thể thẩm mỹ với vũ trụ, với các cơ sở siêu việt của nó thông qua các khách thể thẩm mỹ… Nhờ sự tiếp xúc ấy mà sự hài hoà hữu cơ giữa chủ thể và vũ trụ đã xuất hiện, chủ thể trải nghiệm khoái cảm tinh thần cao cả. Trong ý nghĩa ấy, mỹ học có thể được xác định như khoa học về khoái cảm tinh thần, còn kiểu quan hệ chủ thể - khách thể đã được chỉ ra thể hiện bằng phạm trù cái thẩm mỹ và nó tạo thành đối tượng của mỹ học mà không phụ thuộc vào việc mỹ học đang ở giai đoạn nào trong sự tồn tại lịch sử của mình: cổ điển, phi cổ điển hay hậu phi cổ điển. Như vậy, mong muốn của chủ thể hướng tới sự hoà hợp với vũ trụ, tới sự phối hợp chặt chẽ và thống nhất với vũ trụ là mục đích bên trong của kinh nghiệm thẩm mỹ. Sự định hướng này là một trong những cái phổ quát bản chất của tồn tại người như một thực thể tinh thần… Tôi muốn làm nổi bật lên và nhấn mạnh về sự hài hoà như một nguyên lý siêu hình học nằm trong cơ sở của cái thẩm mỹ”(8).
Hiểu mỹ học như một khoa học nghiên cứu về sự hài hoà giữa con người và vũ trụ buộc chúng ta phải nhìn nhận lại vai trò và vị trí của mỹ học trong hệ thống các khoa học triết học ngày nay. Cũng không phải vô cớ mà từ đó nảy sinh những quan điểm xem mỹ học chính là triết học đầu tiên và cái thẩm mỹ trở thành nền tảng của tri thức triết học ngày nay.
Trong khuôn khổ của một bài báo, qua một số tài liệu bước đầu được lựa chọn nhằm phác thảo diện mạo của đường hướng tìm kiếm mới trong triết học nói chung và mỹ học nói riêng, chúng tôi có đôi điều suy nghĩ sau:
Thứ nhất, không thể phủ nhận chiều hướng tích cực của việc “mỹ học hoá” tri thức triết học: mong muốn triết học chuyển hoá từ thế giới của khoa học, của tư duy sang thế giới sống nhằm giúp con người và nhân loại vượt qua những tình huống hiểm nguy.
Thứ hai, cần phải công bằng thấy rằng, thực ra việc phê phán siêu hình học và hướng triết học đến thực tiễn, đến thế giới sống đã được C.Mác và Ph.Ăngghen tiến hành từ giữa thế kỷ XIX. Những tác phẩm nối tiếng của các ông trong tiến trình hình thành và phát triển quan niệm duy vật biện chứng về lịch sử, đặc biệt trong Luận cương về Foieurbach đã minh chứng điều này. Vì thế, có những nhà triết học đã xem triết học Mác là một trong những cội nguồn của chủ nghĩa hậu hiện đại.
Thứ ba, không ai phủ nhận vai trò của tri giác cảm tính trong đời sống của con người. Sống là trải nghiệm, là cảm xúc, là nghiệm sinh. Nhưng sống cũng còn là suy tư, đánh giá và lựa chọn. Sự tuyệt đối hoá cảm xúc, kinh nghiệm đã từng có ở chủ nghĩa duy cảm, chủ nghĩa lãng mạn. Hơn nữa, không ít ví dụ cho thấy thế giới của cảm nhận, kinh nghiệm chưa đảm bảo tính chân thực của sự việc. Khi đọc lại lời nói đầu của Ph.Ăngghen trong Biện chứng của tự nhiên, ta thấy tiếp cận bản thể luận với tư duy của ông cũng góp phần khẳng định rằng đoá hoa tư duy luôn dẫn dắt con người, dẫn dắt nhân loại hoà nhập với vũ trụ.(9)
Thứ tư, trong quan điểm của V.V.Bưchkov có không ít điều hợp lý, nhất là khi ông cho rằng giai đoạn hậu phi cổ điển là sự tổng hợp của giai đoạn cổ điển và giai đoạn phi cổ điển. Điều đó có nghĩa chủ nghĩa duy lý vẫn cần thiết và sẽ hồi sinh với một diện mạo mới trong tương  lai.
 
***************
(1) E.A.Naiman. Cơ sở thẩm mỹ của bản thể luận triết học. Tômxcơ, 2004, tr.4 (tiếng Nga).
(2) E.A.Nainan. Sđd., tr.9.
(3) T.V.Xurina. Thi ca như cơ sở thẩm mỹ của bản thể luận văn hóa. Tômxcơ, 2005, tr.4 (tiếng Nga).
(4) T.V.Xurina. Sđd., tr.4.
(5)  T.V.Xurina. Sđd., tr.4.
(6) Trong chuyên luận của mình, giáo sư V.V.Bưchkov đã dành nhiều trang để nói về POST-CULTURE. Vì khuôn khổ bài báo có hạn, chúng tôi sẽ nói kỹ về khái niệm này trong những bài sau.
(7) V.V.Bưchkov. Mỹ học. Mátxcơva, 2004, tr.524 (tiếng Nga).
(8) V.V.Bưchkov. Sđd., tr.526
                                                
Theo Nguyễn Huy Hoàng – VHNA 

_______________________________________________________________

Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2011

Sản xuất văn chương để xuất khẩu?

Báo Văn nghệ, số 30 ra ngày 29-7-1995 đã đăng lại bài "Hội nhập với thế giới để tránh nguy cơ văn học tụt hậu trước đời sống". Nhờ vậy tôi mới được đọc bài viết của nhà lý luận phê bình Vương Trí Nhàn và trao đổi của nhà thơ Trần Mạnh Hảo.
Nhìn chung, về cơ bản tôi đồng tình với những ý kiến của ông Hảo. Vì thế ở đây tôi không nhắc lại những ý kiến mà ông Hảo đã bàn đến.

Điều trước tiên dễ nhận thấy là ngay khi viết "... nếu ví von một cách thô thiển, xem văn học cũng là một ngành sản xuất" thì ông Nhàn cũng đã tự bộc lộ sự gượng gạo, gò ép, bất cập trong cách nêu và giải quyết vấn đề do ông đặt ra. Lẽ dĩ nhiên cái đáng quý là ở chỗ ông Nhàn đặt vấn đề đó ra vì lợi ích chung, ông băn khoăn trăn trở với sự phát triển của nền văn học nước nhà trước tình hình đổi mới hiện nay. Xuất cảng các thứ hàng hóa như lúa gạo, quần áo... kể cả các quy trình sản xuất theo công nghệ mới của các hàng hóa đó cũng chỉ vẫn là những thứ hữu hình. Ta hoàn toàn có thể vì lợi ích kinh tế mà thỏa mãn tất cả các yêu cầu của khách hàng về quy cách và phẩm chất của các thứ hàng hóa đó. Song, đối với tác phẩm văn học thì hoàn toàn khác hẳn. Vật liệu xây dựng nên có cơ sở là vật chất nhưng cái "hồn" của sản phẩm lại là tinh thần. Khi một tác phẩm của ta có nội dung tốt, chất lượng cao, đề tài hấp dẫn, quy mô rộng lớn giới thiệu về con người và đất nước Việt Nam, đối tượng phục vụ trước hết là nhân dân ta. Các tác phẩm đó sẽ được những người nước ngoài có lương tri và muốn tìm hiểu nước ta sẽ rất hoan nghênh. Có nước, ở đấy người ta chán ghét chiến tranh đến mức khi nghe đến hai từ "chiến tranh" họ đã nổi khùng, ấy vậy mà có những tác phẩm viết về đề tài chiến tranh với cách đặt vấn đề, miêu tả và cách giải quyết các mâu thuẫn đạt đến mức Chân - Thiện - Mỹ cao đã được họ ưa thích và hoan nghênh. Chính vì vậy mà tôi rất ngạc nhiên khi thấy ông Nhàn viết: "Văn học ta vẫn quanh quẩn trong khu vực sản xuất nội địa chứ chưa toan tính làm những thứ hàng xuất khẩu". Xin phép được hỏi ông Nhàn, trừ những tác phẩm mang tính nghiên cứu, tư liệu hay nhằm mục đích chính trị một cách thô bạo hay nham hiểm, còn đối với những tác phẩm văn học tốt, lành mạnh của nước ngoài mà chúng ta đã dịch và xuất bản thì ông và ai đó đã có lần nào đặt câu hỏi: Các tác giả của các tác phẩm đó khi viết có nhằm mục đích "xuất khẩu" không"? Và nếu có thì họ đã làm gì, làm như thế nào?

Câu trả lời khẳng định là: Không! Họ viết cho nhân dân họ, trong đó có phần cho nhân loại, nhưng tuyệt đối không phải vì để "xuất khẩu". Còn nếu tác phẩm đó có giá trị cao và phù hợp với yêu cầu của nhân dân một nước khác thì họ sẽ dịch và phát hành.

Nhà văn trước hết phải làm tròn trách nhiệm với nhân dân nước mình trong bối cảnh lịch sử của dân tộc mình và của thế giới. Chính vì thế mà trong các tác phẩm văn học, tính dân tộc là yếu tố quan trọng không thể bỏ qua được. Hầu hết các "nguyên liệu" cơ bản về mặt tinh thần cũng như vật chất để xây dựng nên tác phẩm văn học đều là của dân tộc, lấy ra từ nhân dân. Sự nhận thức, đánh giá các sự kiện có thể biến đổi, thậm chí đảo ngược để càng ngày càng tiếp cận sát hơn với chân lý và xu hướng chung của nhân loại, song như thế không có nghĩa là từ bỏ tính dân tộc. Tình cảm mang tính dân tộc nó thấm sâu từ cây đa, cột đình làng, song không phải nó không cảm nhận được cái đẹp tráng lệ của những lâu đài nguy nga. Nó hiểu được sức mạnh của chiếc gậy tầm vông, song nó cũng lường trước được sức hủy diệt kinh khủng của bom nguyên tử. Điều quan trọng là viết như thế nào để tác phẩm vừa có tính dân tộc vừa có tính hiện đại, có lý có tình, làm rung động lòng người mà lương tri thì cao cả.

Ta có thể và cần phải học tập các phương pháp, sử dụng các phương tiện hiện đại của thế giới, nhưng không thể vì thế mà lại yêu cái cần phải ghét hay ngược lại ghét cái đáng yêu. Nói đến "xuất cảng văn học" cũng như "xuất cảng cách mạng", chủ yếu là ở nhân dân nước đó, ở tài năng của các nhà bản xứ. Sự giúp đỡ của bên ngoài chỉ tạo thêm điều kiện thuận lợi. Ông Nhàn viết: "Vậy với tư cách người sản xuất, các nhà văn của ta phải quan tâm mổ xẻ hiện tượng này, xem viết như thế nào thì họ sẽ dịch". Ở trên tôi đã phân tích, xin nói thêm, nếu có mổ xẻ bất quá cũng chỉ học tập được về mặt thiết kế tác phẩm, văn phong... mà những vấn đề này chỉ giúp nâng cao phần nào giá trị tác phẩm. Còn cái "hồn", cái "thần" của tác phẩm thì lại nằm ở nhận thức, quan điểm nhân sinh, tài năng, cảm xúc... của tác giả. Nó là những thứ thuộc phạm trù vô hình và mang nhiều màu sắc cá biệt, mấy ai giống ai. Nó hoàn toàn khác với một bác thợ may nghiên cứu, xem nên may cái áo măng-tô tám túi hay 10 túi thì sẽ bán chạy hàng hơn.

Trong bài viết của mình, ông Nhàn còn đề cập đến "quy trình sản xuất văn chương". E sự hiểu biết của mình còn thiếu sót, tôi phải tra từ điển để tìm hiểu hai tiếng "quy trình". Theo cụ Đào Duy Anh và Tứ giác từ điển (ký hiệu 5601) thì "quy trình" cũng như "quy tắc": Chương trình và phạm vi làm việc. Quyển "Từ hải" thì không thấy đề cập đến. Còn ở quyển "Từ nguyên" và từ điển của cụ Nguyễn Lân có nói rõ hơn một chút. Vậy phải chăng "quy trình sản xuất văn chương" ở đây là các bước, các công đoạn tiến hành để "sản xuất văn chương"? Ta tạm hình dung như thu thập, ghi chép tư liệu, lập đề cương, dàn bài, viết bản thảo lần 1, lần 2... mà nếu chỉ có thế thôi thì "mổ xẻ" tác phẩm của họ thì làm sao mà thấy được "quy trình"?

Ông Nhàn còn viết: "Nhưng tôi tưởng điều đầu tiên cần nói với nhau là phải công nhận có cái quy trình đó". Đành rằng ông Nhàn cũng đã nhận ra rằng "bản thân còn biết rất ít" về quy trình đó, thì ông cũng nên có đôi dòng giới thiệu, gợi ý những điều ông biết. Được như vậy thì người đọc mới có hướng để cùng ông trao đổi và bàn bạc. Ngoài những điều trên còn phải kể đến các trường phái, văn phong, mô típ... cái riêng của từng nhà văn và cái "gu" của thiên hạ. Phải chăng còn các "quy trình tiếp nhận hay phát sinh cảm xúc"? Cẩn thận nếu không sẽ có "quy trình tình ái" và các "công thức tình cảm"!! Ta hãy nhớ rằng, không phải mọi thứ trong xã hội, trong đời sống của con người đều có thể công nghệ hóa được, đặc biệt trong phạm vi tinh thần. Ta chỉ nên băn khoăn là hiện nay chúng ta chưa có được những tác phẩm có tầm cỡ quốc tế. Muốn có những tác phẩm có tầm cỡ lớn như thế thì phải có sự cố gắng rất lớn của bản thân các nhà văn, sự giúp đỡ của xã hội, của các cơ quan có trách nhiệm. Tôi nghĩ rằng không dám lạm bàn thêm vì Hội Nhà văn đã nắm vững và biết quá nhiều hơn tôi là cần phải làm gì?

Một tác phẩm có tính dân tộc, tính Chân - Thiện - Mỹ cao, đề tài có quy mô rộng lớn cả về không gian lẫn thời gian, bút pháp sắc sảo, văn phong hấp dẫn... chắc chắn không chỉ được nhân dân trong nước mà cả người nước ngoài cũng ưa thích và hoan nghênh.

Có lẽ chưa có nước nào đặt hàng để nhập áo dài mà phụ nữ Việt Nam thường mặc. Nhưng chắc chắn rằng họ cũng phải công nhận là đẹp và rất đẹp với sự thướt tha, mềm mại, duyên dáng đậm đà màu sắc dân tộc của nó. Tuy nó không được xuất khẩu (?) nhưng nó cũng không hề bị tụt hậu so với thời trang của thế giới hiện nay.

Xin chớ vì tham vọng xuất khẩu mà sửa nó thành cái áo choàng!

theo TRẦN BÌNH
(Trao đổi với nhà lý luận Vương Trí Nhàn)

(đầu đề do chúng tôi đặt)
________________________________________________

Thứ Tư, 8 tháng 12, 2010

Chân trời từ nhiều phía (*)

Trịnh Bá Đĩnh

Từ năm 1954 trở về trước, trong hệ thống văn nghệ của nước ta, lý luận văn học trên thực tế (và phần lớn cả trong ý thức) chưa phải là một bộ phận độc lập. Có sáng tác như một bộ phận độc lập, có phê bình như một bộ phận độc lập, có công chúng đọc văn học viết như một bộ phận độc lập, song lý luận văn học như một bộ phận độc lập thì chưa có. Trên báo Nam Phong có một số bài viết của Phạm Quỳnh về các thể loại văn học: "Bàn về tiểu thuyết", "Khảo về diễn kịch", "Thơ là gì?"... Hải Triều nhà phê bình văn nghệ, nhà tuyên truyền cách mạng, trong một số bài viết của mình vào cuối những năm 30 đôi lúc có giới thiệu một số luận điểm mácxit về văn nghệ, năm 1944 xuất hiện cuốn sách "Văn học khái luận" của Đặng Thai Mai giới thiệu sơ giản một số phạm trù lý luận văn học, đó là những tiền đề đầu tiên cho việc hình thành bộ môn lý luận văn học sau này. Còn giờ đây, lý luận văn học đã thành một bộ môn được giảng dạy ở đại học, một chuyên ngành trong số các chuyên ngành của khoa học xã hội - nhân văn, đã có một loại ấn phẩm báo chí, sách vở chuyên về lý luận, có cả một Hội đồng lý luận Trung ương. Điều đó đủ thấy cả trong ý thức lẫn trên thực tế, lý luận văn học không chỉ đã thành một bộ phận độc lập mà còn được xã hội và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Đây là kết quả của sự phát triển trong suốt nửa thế kỉ, qua mấy chặng khác nhau với nỗ lực của nhiều học giả và dịch giả. Hệ thống lý luận văn học của ta được hình thành từ ba nguồn: đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng và Nhà nước, những đúc rút từ các sáng tác văn học của các nhà văn trong nước cũng như nước ngoài và rất quan trọng, thậm trí quan trọng nhất là từ sự tiếp thu các thành tựu mĩ học và lý luận văn học từ bên ngoài trong đó việc dịch thuật, giới thiệu các công trình lý luận nghiên cứu của các học giả nước ngoài có ý nghĩa trực tiếp. Bài viết này của chúng tôi chủ yếu xem xét mạch nguồn thứ ba này tức là sự giới thiệu và tiếp nhận các tư tưởng lý luận văn học nước ngoài ở Việt Nam trong nửa thế kỷ qua.

Từ chân trời một phía (giai đoạn 1955 đến cuối thập kỷ 80)

Năm 1955 xuất hiện một cuốn sách quan trọng trong lịch sử truyền bá lý luận văn nghệ mácxit ở nước ta, đó là cuốn "Bàn về văn học nghệ thuật"1 của Mao Trạch Đông, Nxb Văn nghệ ấn hành. Nó được coi là quan trọng vì những tư tưởng trong đó có ảnh hưởng lớn đến việc chỉ đạo đường lối văn nghệ và xây dựng lý luận văn học nghệ thuật ở nước ta. Cuốn sách tập hợp hai bài diễn văn của Mao Trạch Đông đọc tại Hội nghị văn nghệ Diên An tháng 5 năm 1942: Bài Khai mạc và Bài Bế mạc hội nghị. Thực ra thì ngay từ năm 1949 hai bài này đã được giới thiệu song chắc là chỉ lưu hành trong một phạm vi hẹp do hoàn cảnh cách mạng lúc đó. Trong hai bài đó, bài diễn văn bế mạc quan trọng hơn bởi vì ở đây nêu lên một loạt vấn đề cơ bản của văn nghệ được quy chuẩn theo tinh thần của một nền văn học và nghệ thuật mới, văn học và nghệ thuật mácxit: chức năng của văn nghệ, vấn đề chức phận của nhà văn (Chẳng hạn "quan hệ giữa công tác và sáng tác"), vấn đề văn nghệ và chính trị (Đó là: "thống nhất giữa chính trị cách mạng và nghệ thuật thật cao... nhưng hiện nay vấn đề quan trọng hơn vẫn là về mặt chính trị"), nội dung và hình thức, vấn đề "cải tạo tư tưởng" (tiểu tư sản)... Cuốn sách có vị trí quan trọng còn vì nó mở đầu cho loại "sách kinh điển" của chủ nghĩa Mác - Lênin về văn học nghệ thuật ở nước ta. Từ sau năm 1960, loại "sách kinh điển" này thường xuyên được dịch và biên soạn lại từ các bộ trước tác của Mác, Ăngghen, Lênin, chẳng hạn như: "Marx, Engels, Lénine và văn học nghệ thuật" của J.Fréville, một tác giả người Pháp (1962), "C.Mác, Ph.Ăng-ghen, V.Lê-nin: Về văn học và nghệ thuật" (1977)... Trong số những tư tưởng của các nhà triết học mácxit này thì luận điểm và sự diễn giải về tính giai cấp và tính Đảng của văn học nghệ thuật (Bài "Tổ chức của Đảng và văn học Đảng" - V.Lênin), về tính hiện thực của văn học (Bài "Thư gửi Hác-cơ-nét-xơ" của Ph.Ăngghen, nhận xét của V.Lênin về L.Tolstoi...) có ảnh hưởng lớn hơn cả đến giới lý luận phê bình văn học.
Cần nói rõ ở đây rằng từ quãng năm 1955 đến cuối những năm 80 của thế kỉ 20, việc giới thiệu, dịch thuật những công trình lý luận văn học và nghệ thuật theo quan điểm mácxit được tiến hành thường xuyên ở Miền Bắc. Số lượng những công trình (các chuyên luận và tiểu luận) thuộc loại như vậy mặc dù không phải đã thật đồ sộ song rõ ràng chiếm vị thế áp đảo hoàn toàn. Cũng có những công trình lý luận văn nghệ theo thế giới quan khác được giới thiệu và dịch song chủ yếu để phê phán, hoặc chỉ "lưu hành nội bộ" dưới dạng bản đánh máy, chẳng hạn như công trình "Mĩ học" của F.Hegel do Phan Ngọc dịch thường xuyên được chuyền tay nhau đọc trong giới đại học hay các nhà nghiên cứu ở các Viện. Mấy cuốn lý luận "phi mácxit" được dịch trọn vẹn và gây được dư luận như "Thi học" của Arixtôt, "Tâm lý học nghệ thuật của L.Vygotski, thì cuốn đầu thuộc về thời cổ đại xa xưa, cuốn sau đã được thừa nhận và đánh giá cao ở Liên Xô và tác giả của nó cũng đã mất. Không phải mọi xu hướng lý luận văn nghệ mácxit trên thế giới đều được giới thiệu. Trào lưu lý luận văn nghệ mácxit vốn có nhiều chi lưu, nhiều phương án khác nhau ở các nước khác nhau. Việc giới thiệu dịch thuật thực ra chủ yếu chỉ gồm các công trình đã được kiểm định qua giới học thuật chính thống của Liên Xô và phần nào của Trung Quốc. Các tác phẩm lý luận theo thế giới quan mácxit của G.Lukács (Hunggari), L.Goldmann (Bỉ), W.Benjamin (Đức), O.Cromwell (Anh), các nhà nghiên cứu văn học của ta hầu như còn ít nghe nói đến (trừ sự phê phán đối với G.Lukács) chứ nói chi đến việc dịch thuật. Lý do cũng dễ hiểu: đó là những tác phẩm "xét lại" cần bị phê phán chứ không phải cần được quảng bá. Có thể nói rằng, việc giới thiệu lý luận văn nghệ mácxit của thế giới khá phiến diện và đã làm tổn hại đến một trào lưu lý thuyết về văn học nghệ thuật chứa đựng nhiều chân lý và sáng tạo.
Vậy đó là loại sách lý luận về văn học nghệ thuật thứ nhất được giới thiệu ở nước ta, chính xác hơn là ở miền Bắc giai đoạn này: sách của các nhà "kinh điển" của chủ nghĩa Mác và lãnh tụ Cách mạng.
Loại thứ hai là sách bàn về kinh nghiệm sáng tác của các nhà văn nước ngoài, chủ yếu là của các nước xã hội chủ nghĩa. Thực ra thì đây không phải là sách lý luận văn nghệ, tuy nhiên bởi vì các nhà văn khi bàn về việc viết lách thường đồng thời trình bày quan điểm của mình về thể loại, về đối tượng và phương pháp sáng tác, do vậy các nhà nghiên cứu lý luận của ta trong buổi đầu xây dựng nền lý luận văn nghệ dân tộc cũng thường dựa vào đó để định hướng và lấy dữ liệu cho việc xác lập hệ thống của mình. Trong thực tế đã có một ý nghĩa nhất định. ở thập kỷ 60 thấy khá nhiều cuốn sách loại này. Có thể kể một vài cuốn trong số đó như: "Nói về viết tiểu thuyết" của ba tác giả Trung Quốc: Ngô Cường, Nguỵ Kim Chi và Mao Thuẫn (1960), "Kinh nghiệm viết kịch" cũng của các tác giả Trung Quốc là Đỗ ấn, Tôn Vu, Lão Xá (1960), "Viết ký sự" của B.Polevoi, (1961), "Công việc của nhà văn" của I.Erenbua (1966)2. Những cuốn kinh nghiệm viết văn đó có lẽ trước hết nhắm đến các nhà văn, ở đầu thập kỷ 60 này đang chuẩn bị hành trang cho những chuyến đi thực tế xuống cơ sở với mong muốn sáng tạo nên nền văn học mới theo tinh thần: phản ánh hiện thực xã hội chủ nghĩa đang được xây dựng trên Miền Bắc lúc đó. Nói về việc viết văn cũng phải kể đến hai tập sách "Kinh nghiệm viết văn" của A.Xâytlin do Hoài Lam và Hoài Li dịch được ra mắt vào các năm 1967, 1968. Có ảnh hưởng nhất đến các nhà lý luận của ta trong loại sách này phải kể đến tập sách của nhà văn Xô Viết M.Gorki "Bàn về văn học", bản dịch được xuất bản lần đầu năm 1965, sau đó Nhà xuất bản Văn học cho tái bản (bổ sung thành hai tập) năm 1970. Các luận điểm về lập trường giai cấp của nhà văn ( như "Nhà văn là tiếng nói, là tai mắt của giai cấp"), về chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn (chủ nghĩa lãng mạn tiêu cực và chủ nghĩa lãng mạn tích cực), về điển hình hoá của văn học hiện thực chủ nghĩa, về vai trò của vốn sống và tưởng tượng của nhà văn trong sáng tạo được trình bày trong các tiểu luận "Tôi đã học viết như thế nào", "Bàn về hiện thực", "Các ông đứng về phía ai, hỡi các bậc thầy văn hoá?", "Văn học Xô Viết"3 luôn là những điểm tựa cho các nhà lý luận của ta khi luận giải về văn học nghệ thuật, nhất là "văn học nghệ thuật xã hội chủ nghĩa". Các tư tưởng về nghệ thuật của M.Gorki được các nhà lý luận phê bình của ta coi trọng gần ngang bằng với tư tưởng về nghệ thuật của Mác, Ăngghen, Lênin. Không có một nhà văn thứ hai nào có được vị trí như vậy.
Loại sách thứ ba là các giáo trình lý luận văn học được soạn để giảng dạy tại các trường Đại học ở Liên Xô. Chúng được dịch để cho các giảng viên đại học và sinh viên của ta tham khảo. Đồng thời đây cũng là những mô hình mà các nhà lý luận Việt Nam đã dựa vào để xây dựng hệ thống lý luận văn học cơ sở của mình. Loại sách này rất quan trọng, bởi vì ở nước ta việc phổ biến tri thức qua con đường trường ốc thường rất hữu hiệu do truyền thống tiếp thu thụ động, học để thi cử, hơn nữa lúc này không có nhiều thông tin để mà đối sánh. Phần lớn sinh viên văn khoa của ta những năm 60, 70 về lý thuyết văn học chỉ với hành trang gồm bộ lý luận văn học của Nguyễn Lương Ngọc và bộ sách lý luận được dịch của L.Timophiep là ra giảng dạy văn học, sáng tác văn học, chỉ đạo đường lối văn nghệ với những trọng trách không nhỏ, mà sau này cũng không có điều kiện học thêm. Những công trình thuộc loại này ở thập kỷ 60 có "Nguyên lý lý luận văn học" của L.Timophiep, hai tập, do Cao Xuân Hạo, Lê Đình Kị và một số người nữa dịch, bộ "Nguyên lý mĩ học Mác - Lênin" của Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô do Hoàng Xuân Nhị dịch, "Những phạm trù mĩ học cơ bản" cũng do Hoàng Xuân Nhị dịch, Nxb. Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội ấn hành. Như phần mở đầu các cuốn sách đã nói rõ, đây là loại sách giáo khoa: Cuốn lý luận văn học của L.Timophiep "được Bộ giáo dục Cao đẳng và Chuyên nghiệp trung cấp nước Cộng hoà liên bang Nga dùng làm sách giáo khoa cho khoa văn các trường đại học tổng hợp và đại học sư phạm ở Liên Xô"4; còn cuốn mĩ học của Viện Hàn lâm khoa học dùng cho việc "học tập những vấn đề mĩ học trong hệ thống các trường Đảng, cho những sinh viên nghệ thuật và những nghệ sĩ trẻ tuổi đang bước vào con đường phục vụ nhân dân", nói chung là cho các Đảng viên và những người có thể gọi ước lệ là "cảm tình Đảng"5. Hệ thống nguyên lí trong những cuốn giáo khoa ấy biểu hiện các quan điểm lý luận văn nghệ chính thống. Đáng chú ý là những cuốn lý luận văn học của chúng ta được biên soạn ở các trường đại học dường như là sự kết hợp hai bộ sách này lại. Kết cấu của chúng thường gồm hai phần: Phần một, các vấn đề nguyên lý chung (tính đảng, tính nhân dân, tính giai cấp, bản chất và chức năng của văn học và nghệ thuật...) là sự vay mượn từ cuốn "Nguyên lý mĩ học Mác - Lênin". Phần hai đi sâu vào đặc tính của văn học (Văn học và hiện thực, hình tượng văn học, nội dung và hình thức, kết cấu và ngôn ngữ...) là sự "tham khảo" rõ ràng cuốn "Nguyên lý lý luận văn học". Cho đến hiện nay mô hình giáo trình lý luận văn học này vẫn chưa có sự thay đổi căn bản.
Đầu thập kỷ 80, một số cuốn sách giáo khoa lý luận văn học nữa, với mức độ khoa học chuyên sâu hơn tiếp tục được dịch nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy ngữ văn ở đại học như "Lý luận văn học” của A.N.Gulaep do Lê Ngọc Tân dịch (1982), "Dẫn luận nghiên cứu văn học", hai tập, do nhóm các nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Lê Ngọc Trà dịch (1985). Nói chung có thể quan sát thấy sự đồng hành giữa việc xuất hiện bản dịch những bộ giáo trình lý luận văn học của nước ngoài với việc biên soạn những bộ giáo trình lý luận văn học dùng cho các trường đại học của ta. Một sự so sánh không cần công phu lắm cũng sẽ thấy ngay đâu là sự vay mượn, đâu là sự "sáng tạo" của các nhà lý luận văn học chúng ta. Tất nhiên sự kế thừa ở đây có sự hợp lý nhất định bởi vì lý luận văn học cũng là một chuyên ngành khoa học, nó có những nguyên lý chung, phổ biến cho mọi nền văn hoá.
Loại thứ tư là những công trình nghiên cứu, lý luận có tính chất hàn lâm về văn học và nghệ thuật theo quan điểm mácxit. Số lượng những ấn phẩm thuộc loại này tuy không nhiều, song ý nghĩa của chúng đối với giới nghiên cứu lý luận văn học của ta khá quan trọng vì dù sao đó cũng là những tác phẩm khoa học mà chất lượng đã được kiểm định trong môi trường học thuật của những nước có trình độ khoa học cao như Liên Xô, và một số nước xã hội chủ nghĩa khác. Trong số đó có những cuốn nổi bật như "Số phận lịch sử của chủ nghĩa hiện thực", hai tập của Viện sĩ Thông tấn VHLKHLX B.Xuskop (1980, 1982) do Hoàng Ngọc Hiến, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Hải Hà dịch. Đây là một chuyên luận bề thế về chủ nghĩa hiện thực, "thuộc vào loại những thành tựu ưu tú nhất của khoa nghiên cứu văn học Xô Viết". Nó đã được dịch ra các thứ tiếng : Anh, Pháp, Đức... Ngoài ra còn phải kể đến bản dịch những công trình như "Tâm lý sáng tạo" của A.Naudop, một tác giả Bungari, "Điển hình hoá trong nghệ thuật" của A.Drenop... Chiếm vị trí nổi bật trong số các ấn phẩm khoa học loại này chắc chắn là những công trình lý luận văn học của Viện sĩ M.B.Khraptrenko: "Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học" (1978)6, "Sáng tạo nghệ thuật, hiện thực, con người" (1985), hai tập7. Cả hai công trình này đều được giải thưởng của Nhà nước Liên Xô. Chất lượng khoa học của chúng, tư thế của người viết, sự uyên bác và sắc sảo trong tranh luận, cả sự truyền đạt sáng rõ của bản dịch đã khiến cho các nhà nghiên cứu, lý luận văn học của ta, kể cả những người khó tính lúc đó "tâm phục khẩu phục".
Những cuốn sách ấy đã thành sự kiện trong đời sống học thuật và đã xuất hiện một phong trào trích dẫn Khraptrenko khá sôi nổi. Các nhà lý luận của ta đã tìm được ở đây "lời giải" cho một loạt vấn đề: cá tính văn học và phong cách nghệ thuật, phân tích văn học theo phương pháp hệ thống và theo phương pháp loại hình, thái độ "đúng đắn" (tức là theo quan điểm mácxit) đối với các lý thuyết văn học "hiện đại" như cấu trúc luận, ký hiệu học... Cùng với thời gian, dần dần người ta cũng đã nhận ra những điều bất cập trong đó chẳng hạn ở các tiểu luận phê phán việc sử dụng phương pháp ký hiệu học trong nghiên cứu văn học, nghệ thuật. Dù sao thì đấy cũng là những công trình mĩ học và lý luận văn học theo khuynh hướng mácxit diển hình, có trình độ khoa học cao.
Việc giới thiệu và tiếp thu các tư tưởng mĩ học và lý luận văn học nước ngoài ở ta cho đến cuối thập kỷ 80 là như vậy.

Đến chân trời nhiều phía (giai đoạn 1990 đến nay)

Trước năm 1990 ngoài các ấn phẩm lý luận văn nghệ được xuất bản chính thức như vừa kể trên, còn có loại sách "lưu hành nội bộ" trong giới nghiên cứu lý luận phê bình ở khoa Ngữ văn các trường đại học hoặc ở Viện nghiên cứu. Hội Nhà văn cũng có tạp chí Văn học nước ngoài dành cho các nhà văn với số lượng hạn chế, kỹ thuật in ấn kém chất lượng. Loại ấn phẩm để "tham khảo" thường in rôneo hoặc chỉ ở dạng đánh máy và chất lượng bản dịch cũng không đảm bảo này thường giới thiệu những công trình lý luận của các tác giả có quan điểm ngoài chủ nghĩa Mác. Bản dịch "Về một chủ nghĩa hiện thực không bờ bến" của Garôdi, "Mĩ học" của F.Hegel, một số bài viết của R.Jakovson, M.Bakhtin là thuộc loại như vậy. Tác động của chúng không lớn lúc đó, song lại là tiền đề quan trọng cho thời kỳ sau, cô lọ lem sẽ thành nàng công chúa sau năm 1990. Cũng phải nói thêm rằng, trước năm 1975, một số lý thuyết văn học phương Tây đã được giới thiệu ở Miền Nam trong giới văn nghệ thành thị như chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hiện sinh. Những tên tuổi như R.Barthes, C.Lévi - Strauss, J.Sartre cũng được nhiều người làm khoa học xã hội biết đến. Tuy nhiên việc giới thiệu và tiếp nhận phần nhiều do sở thích cá nhân, không có tính hệ thống và một cơ chế giúp cho việc truyền bá sâu rộng, lại bị phủ định triệt để sau 1975 nên ít có ảnh hưởng.
Đầu thập kỷ 90 xuất hiện bản dịch tiếng Việt hai công trình quan trọng của M.Bakhtin: "Lý luận về thi pháp tiểu thuyết" (1992) và "Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki" (1993). Đây là những tín hiệu mới thực sự, bởi vì như ta biết những công trình này đều được tác giả viết trước năm 1940 và không theo tinh thần mác xit, do vậy mà đến giữa thập kỷ 60 mới được in lại, ngay sau thời điểm "cải tổ" (ta gọi là "xét lại") của N.Khrutsốp. Tác giả của chúng không được giới mĩ học và lý luận văn học chính thống ở Liên Xô khi đó chấp nhận: hoặc là bị phê phán hoặc là bị lờ đi không được nhắc đến. Dĩ nhiên trong giới khoa học, đơn lẻ vẫn có những người đề cao. Quả thật chỉ có cuộc đổi mới những công trình khoa học này mới được dịch ra tiếng Việt hơn nữa lại được các dịch giả đặc biệt tôn vinh mà không cần một sự e dè rào đón nào ("M.Bakhtin - nhà lý luận văn học lớn nhất văn học thế kỷ XX", "một bậc Đại trí Đại dũng"... - Đó là vài nhận xét trong các Lời giới thiệu). Số phận khác thường của tác giả, tư tưởng khoa học mới mẻ trong các công trình, cả những lời tôn vinh của người giới thiệu đã tác động mạnh đến giới lý luận văn học của chúng ta lúc này đang mong muốn đổi mới. Một loạt luận điểm của M.Bakhtin đã được hưởng ứng. Từ quan điểm của M.Bakhtin coi thể loại như nhân vật chính của lịch sử văn học mà nhiều nhà nghiên cứu văn học của ta đề nghị viết lịch sử văn học theo thể loại: lịch sử văn học là lịch sử của những chuyển đổi hệ thống thể loại. Một số nhà nghiên cứu đã có những thành công nhất định khi vận dụng cách nhìn của M.Bakhtin về vai trò của lễ hội Carnaval trong chuyên khảo của ông về Ph.Rabơle để nghiên cứu Hồ Xuân Hương9. Nhiều người nói đến "tính đa thanh" của tiểu thuyết, dựa theo nghiên cứu của tác giả về Dostoievski. Hành trình chinh phục và vận dụng những tư tưởng mĩ học và lý luận văn học của M.Bakhtin cho đến nay vẫn đang được tiếp tục.
Trong khoảng vài năm trở lại đây, việc giới thiệu các trường phái lý luận nước ngoài được tiến hành ráo riết dưới nhiều hình thức: dịch thuật, lược thuật, miêu thuật. Đặc biệt từ khi tờ tạp chí "Văn học nước ngoài" của Hội Nhà văn Việt Nam được nâng cấp thì việc giới thiệu càng thường xuyên, có kế hoạch hơn và không có định kiến với bất kì trường phái nào, nghĩa là tính khách quan, cầu thị đã tăng lên. Mặc dù số lượng sách dịch còn chưa phải nhiều song một số trường phái lớn đã được giới thiệu: Cấu trúc và ký hiệu học, Chủ nghĩa hình thức Nga, Mĩ học tiếp nhận và hiện tượng học, Chủ nghĩa hậu hiện đại...
Về cấu trúc và ký hiệu học (Structuralism - semiotics): Trong số các trường phái phi mácxit thì cho đến nay, cấu trúc luận và kí hiệu học được giới thiệu chu đáo hơn cả. Chủ nghĩa cấu trúc, như ta biết là trào lưu khoa học lớn của thế kỷ 20, nó bao trùm hầu hết các lĩnh vực khoa học, sự hình thành và phát triển của nó kéo dài gần hết thế kỷ . Trong lĩnh vực các khoa học nhân văn, thế kỷ 20 trong một chừng mực nào đấy có thể coi là thế kỷ của cấu trúc luận. Các đại diện tiêu biểu có thể kể: R.Jakobson (ngôn ngữ học), J.Mukarovski (mĩ học), C.Lévi - Strauss (nhân chủng học), J.Lacan (tâm lý học), M.Foucault (triết học), R.Barthes, Iu.Lotman, Tz.Todorov (phê bình văn học)... Các tác phẩm của họ được truyền bá ở hầu hết các nước trên thế giới.
Tại Việt Nam, cấu trúc luận được đề cập đến từ trước năm 1975 ở Miền Nam. Những người nhiệt tình quảng bá cho nó là Nguyễn Văn Trung, Trần Thiện Đạo, Trần Thái Đỉnh. Tuy nhiên hầu như chưa có một công trình tiêu biểu nào được trực dịch. Còn ở Miền Bắc, cho đến cuối thập kỷ 80 chủ nghĩa cấu trúc nói chung là bị phê phán. Điều này phù hợp với thời tiết tư tưởng học thuật ở Liên Xô, nơi mà mặc dù có những nhà cấu trúc luận nổi tiếng được thế giới thừa nhận, song lập trường chính thống vẫn giữ thái độ phê phán. Cuốn "Chủ nghĩa cấu trúc đồng tình và phản đối10 ra mắt vào giữa thập kỷ 70 ở Moskva đã phản ánh sự trái chiều nhau trong giới học thuật Xô Viết về trường phái lý luận này.
Năm 2002, tác giả Trần Thiện Đạo cho in lại những bài viết trước 1975 của mình về chủ nghĩa cấu trúc tại Nxb Văn học. Cũng tại năm đó và ở chính Nhà xuất bản này đã ra mắt công trình khá bề thế của Trịnh Bá Đĩnh: "Chủ nghĩa cấu trúc và văn học". Ngoài phần giới thiệu về những nguyên lý của chủ nghĩa cấu trúc, lịch sử của nó, từ điển các thuật ngữ cơ bản, phần chính của cuốn sách là bản dịch những công trình tiêu biểu của các nhà cấu trúc luận: "Ngôn ngữ học và thi pháp học", "Những con mèo của Charles Baudelaire" (R.Jakobson), "Cơ sở của kí hiệu học" (R.Barthes), "Cấu trúc thần thoại" (C.Lévi - Strauss), "Thi pháp học" (Tz.Todorov)11... Cũng như chủ nghĩa cấu trúc, trước thập kỷ 90, ký hiệu học được giới thiệu chủ yếu để phê phán. Có thể thấy rõ điều này trong hai cuốn sách: "Về tư tưởng và văn học phương Tây hiện đại" của Phạm Văn Sĩ (1986) và "Ký hiệu, nghĩa và phê bình văn học" của Hoàng Trinh (1980). Tác giả của cuốn sách thứ hai mặc dù đã có công giới thiệu sơ bộ về chủ nghĩa cấu trúc và ký hiêụ học, song cảm hứng phê phán chúng cũng rất mạnh mẽ (xem bài: "Chủ nghĩa cấu trúc một biến dạng của triết học duy tâm hiện đại" trong cuốn sách trên)12. Mấy năm gần đây, hai lý thuyết này được giới thiệu có hệ thống, khách quan hơn. Chẳng hạn với việc dịch các công trình nổi tiếng: "Độ không của lối viết" của R.Barthes, "Cấu trúc văn bản nghệ thuật" của Iu.Lotman, "Thi pháp huyền thoại" của E.Meletinski.
Ngoài lý thuyết cấu trúc - ký hiệu học ra, các trường phái lý luận văn học khác cũng đang được tiếp tục giới thiệu nhờ sự năng nổ của một số nhà lý luận và phê bình văn học có chuyên môn và ngoại ngữ. ở các nền khoa học phát triển giới những người làm "dịch vụ khoa học" cũng có trình độ chuyên môn rất cao, họ đủ sức dịch các công trình khoa học chuyên ngành. Những nhà lý luận ít khi phải đảm nhiệm cả việc dịch thuật văn bản. ở ta thì kiểu nhà khoa học kép này luôn thấy ở mọi thời kỳ.
Cũng như cấu trúc luận, chủ nghĩa hình thức (formalism) trước đây luôn bị chỉ trích và những người làm nghiên cứu của ta luôn sợ bị quy cho là "đã sa vào chủ nghĩa hình thức". Các bài viết, các công trình nghiên cứu văn học chỉ dành một phần rất khiêm tốn ở cuối để nói về "mấy vấn đề nghệ thuật", còn phần chủ yếu là đề cập đến nội dung. Năm 2001, Nxb Hội Nhà văn cho ra mắt cuốn "Nghệ thuật như là thủ pháp" do Đỗ Lai Thuý biên soạn. Chủ nghĩa hình thức Nga được giới thiệu một cách trân trọng cùng với việc công bố bản dịch một số công trình tiêu biểu của các nhà hình thức Nga: V.Shklovski, B.Eikhenbaum, Iu.Tynianov, B.Tomasevski... Mặc dù giới hạn của chủ nghĩa hình thức là rõ ràng và mọi người chắc sẽ thống nhất ý kiến về điều này, song chắc rằng từ đây ý nghĩa của hình thức trong nghệ thuật sẽ được coi trọng hơn và việc nghiên cứu theo cách tách rời nội dung và hình thức cũng cho thấy là đã lỗi thời. Cùng với việc chú ý đến cấu trúc văn bản, sự quan tâm đến vai trò của người đọc cũng tăng lên nhờ sự giới thiệu Lý thuyết tiếp nhận (Reception theory). Lý thuyết này cho rằng tác phẩm nảy sinh được thực hiện chỉ trong qúa trình tiếp xúc của văn bản với độc giả và đến lượt mình, độc giả lại tác động đến tác phẩm; độc giả quyết định đến sự tồn tại của tác phẩm. Theo hướng này ở ta đã giới thiệu một số nghiên cứu lý thuyết của Hans Robert Jauss (chẳng hạn "Lịch sử văn học như là sự khiêu khích đối với khoa học văn học")12. Ngoài ra còn có một số bài viết của Trương Đăng Dung, được tập hợp trong cuốn "Tác phẩm văn học như là qúa trình" (2004). Việc giới thiệu các trường phái mĩ học và lý luận văn học thế giới đang được triển khai sâu vào trong nhà trường, trước hết là tại khoa Ngữ văn các trường Đại học, đồng thời được phổ cập hoá dần với việc dịch và biên soạn các sách chỉ dẫn. Tiêu biểu cho loại sau này là cuốn sách: "Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ 20" của hai nhà nghiên cứu Nga: I.P.Ilin và E.A.Tzurganova. Quá trình phổ cập hoá này đang tiến triển, những chân trời mĩ học và lý luận văn nghệ đang mở ra về nhiều phía./.

_____________________
Chú thích:
(*) Nửa thế kỉ giới thiệu và tiếp nhận các tư tưởng lý luận văn học nước ngoài: 1955-2005
1. Mao Trạch Đông: Bàn về văn học nghệ thuật. Nxb Văn nghệ, 1955. Nam Mộc dịch
2. Một số cuốn sách của các tác giả Xô Viết lúc này được dịch qua bản Trung văn hoặc Pháp văn do chưa có đội ngũ dịch giả từ Liên Xô về như sau này
3. M.Gorki: Bàn về văn học. Nxb Văn học, 1965. Cao Xuân Hạo và Hoàng Minh dịch
4. L.Timophiép: Nguyên lý lý luận văn học. Nxb Văn hoá, 1962. Cao Xuân Hạo, Lê Đình Kị... dịch (2 tập)
5. VHLKHLX: Nguyên lý mĩ học Mác - Lênin. Nxb Sự thật, 1962. Hoàng Xuân Nhị dịch (2 tập)
6. M.B.Khraptrenko: Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học. Nxb Tác phẩm mới, 1978
7. M.B.Khraptrenko: Sáng tạo nghệ thuật, hiện thực, con người. Nxb Khoa học xã hội, 1984-1985. Nguyễn Hải Hà, Lại Nguyên Ân, Duy Lập dịch
8. M.Bakhtin: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết. Trường Viết văn Nguyễn Du xuất bản, 1992. Phạm Vĩnh Cư dịch
9. Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki. Nxb Giáo dục, 1993. Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch
10. Đỗ Đức Hiểu: Thi pháp học. Nxb Hội Nhà văn, 2000
11. Strukturalizma: "za" i "protiv". Moskva, 1975
12. Trịnh Bá Đĩnh: Chủ nghĩa cấu trúc và văn học. Nxb Văn học, 2002
13. Hoàng Trinh: Ký hiệu, nghĩa và phê bình văn học. Nxb Văn học, 1979
14. Trương Đăng Dung: Văn học như là qúa trình. Nxb Khoa học xã hội, 2004
15. Đề nghị xem: Phương Lựu: Mười trường phái lý luận phê bình văn học phương Tây đương đại. Nxb Giáo dục, 1999


____________________________________________________________________