(TT&VH) - Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân giới thiệu với bạn đọc một bài viết về thơ tình cách nay trên 80 năm của nhà phê bình văn học Phan Khôi. Đúng thế, ở bài này Phan Khôi hiện diện như một nhà phê bình; ông vạch ra bản sắc thực của những sáng tác dân gian sơ khởi của nhân loại là những bài thơ tình, về sau được tập hợp vào những bộ kinh điển của các tôn giáo, chúng bị giải thích khác đi, bị thần thánh hóa, bị gán những hàm nghĩa phù hợp các giáo điều; tuy thế, vẫn có thể chỉ ra được thuộc tính ban đầu của nó là những bài thơ tình.
Là người tiếp nhận Hán học từ nhỏ, Phan Khôi biết rõ Kinh Thi. Phan Khôi cũng từng dành nhiều năm để dịch Kinh Thánh của đạo Thiên Chúa. Bản chất “tình thi” ở một số tác phẩm được đưa vào kinh điển, dù của Nho giáo phương Đông hay Thiên Chúa giáo phương Tây, mà ông chỉ ra, đều có căn cứ chắc chắn, không phải những ấn tượng thoáng qua.
Xin giới thiệu với bạn đọc bài Thơ tình trong kinh điển của Phan Khôi đã đăng trên Hà Nội báo ngày 20/5/1936 (trang 2-4):
“Văn học của một thứ tiếng nào cũng vậy, bắt đầu phát sinh ra bằng vận văn, mà trong những bài vận văn ấy thường lấy ái tình làm tài liệu.
Ấy tức là thơ tình, cũng gọi là tình thi. Trong đám sơ dân, trai gái yêu nhau rồi đem sự yêu nhau ấy ra mà ca vịnh nên lời, hoặc để gửi sự nhớ nhung, hoặc để tỏ niềm khăng khít.
Vả, trai gái yêu nhau là bởi tính tự nhiên. Ái tình, theo đúng bản chất của nó mà nói, là một vật cao thượng và thanh khiết. Thế thì những tác phẩm lấy nó làm tài liệu, về mặt nghệ thuật, khéo vụng thế nào chưa nói, chứ về mặt đạo đức, chẳng có gì là đáng chê. Cho nên đời xưa, những dân tộc nào đã góp tác phẩm của mình lại làm ra sách kinh điển là thứ sách coi như khuôn phép cho đời này sang đời khác, cũng đều đem ít nhiều thơ tình mà để vào trong đó.
Kinh Thi của người Trung Hoa và Cựu Ước của dân Hê-bơ-rơ cũng đều vậy cả.
Trong Kinh Thi, nhất là về sách Quốc Phong, có rất nhiều thơ tình. Mà chẳng những thơ tình, rất đỗi có những bài như bài Tang Trung, người ta đã gọi ngay nó là thơ “dâm bôn” nữa kia.
Thơ tình cho đến thơ dâm bôn đã được để vào Kinh Thi, sự đó người đời xưa coi là sự đương nhiên, không có ái ngại gì cả.
Nhưng về sau cái quan niệm về đạo đức của người đời mỗi ngày một thay đổi, bởi bó mình trong lễ giáo thái quá nên người ta đã coi ái tình như là một sự phạm tội và tình thi như là một thứ tác phẩm bất chính. Vì đó, bọn hậu Nho mới tìm cách để giải thích cho những bài thơ tình trong Kinh Thithành ra không còn phải là thơ tình.
Kinh Thi mở đầu ra là sách Quốc Phong, sách Quốc Phong mở đầu ra là thiên Châu Nam, thiên Châu Nam mở đầu ra là bài Quan Thư, và bài Quan Thư là một bài tình thi. Thế là ông Thánh đời xưa dọn bộ Kinh Thi mà mở đầu ra đã cho chúng ta đọc một bài thơ tình, chẳng có khem cữ chút nào hết. Ấy vậy mà khi nó bị trải qua dưới cặp mắt có mang kính màu của hậu Nho, nó phải biến hình đi, thành ra một nghĩa khác.
Quan quan thư cưu
Tại hà chi châu
Yểu điệu thục nữ
Quân tử hảo cầu
(Quan quan chim thư cưu kêu/ Ở nơi doi sông hà/ Dịu dàng gái lành/ Xứng đôi cùng người quân tử).
Đó chẳng qua một người con trai một người con gái yêu nhau thì thốt ra như thế. Có tâng bốc nhau những là thục nữ, quân tử thì mới mạnh mẽ, mà hạ được cái ý dan díu nhau và gắn bó nhau.
Châu Nam là phần đất cai trị của vua Văn Vương nhà Châu. Hậu Nho tin vua Văn Vương là thánh, miền ngài cai trị phải có phong hóa tốt đẹp, chắc không có đâu sự trai gái ve nhau và do đó có những bài hát hoa tình. Thế nhưng bài thơ Quan Thư đã nghiễm nhiên đứng đầu Kinh Thi, không có thể nào xóa bỏ đi được, họ chỉ có một cách là giải thích nó ra nghĩa khác.
Quân tử đó là vua Văn Vương, thục nữ đó là bà hậu phi, vợ ngài; một đằng là thánh nhân, một đằng là trang khuê các, có đức “u nhàn trinh tĩnh”, hai đằng phối hợp cùng nhau, nhờ đó mà gây nên cái công hiệu tề gia trị quốc, nên thi nhân mới làm bài thơ này để khen. Đó là lời giải thích của các bậc hậu Nho, và lời giải thích thật là quanh co quá!
Nhưng cái bản sắc của bài Quan Thư là một bài thơ tình thì không vì lời giải thích ấy mà mất đi được. Vì cuối bài ấy có những câu (dịch ra là): So le rau hạnh/ Tả hữu thuận dòng theo đó/ Dịu dàng gái lành/ Thức ngủ tìm đó/ Tìm đó chẳng đặng/ Thức ngủ nhớ nhung/ Thảm thay! Thảm thay/ Trằn trọc tráo trở!
Những câu thơ tỏ ra cái tình ái luyến rất nồng nàn và nói ra một cách rất giản dị ấy không có thể hợp với cái thuyết đạo đức đứng đắn của hậu Nho được; nó đã là thơ tình thì bao giờ nó cũng vẫn là thơ tình.
Cũng như sách Nhã Ca trong Kinh Thánh Cựu Ước vốn cũng là những bài thơ tình, tả tình lại còn suồng sã xốc nổi hơn Quốc Phong nữa, thế mà cũng đã bị người ta thay đổi mặt mày của nó.
Nhã Ca mở đầu có những câu:
“Nguyện người hôn tôi bằng cái hôn của miệng người,
Vì ái tình chàng ngon hơn rượu” (*)
Như thế còn ai chối được rằng thơ ấy không phải bởi sự trai gái âu yếm nhau mà ra?
Suồng sã xốc nổi như những câu:
“Hãy lấy bánh nho uống đỡ lòng tôi,
Dùng trái bình bát bổ sức tôi lại,
Vì tôi có bịnh bởi ái tình,
Tay tả người kê dưới đầu tôi,
Còn tay hữu người ôm lấy tôi...”
Trong Kinh Thi có bài tả cái đẹp của các chi thể người đàn bà như cái đầu, cái cổ, chân mày, con mắt... thì Nhã Ca lại còn tả đủ hơn nữa, như đoạn này:
“Chơn nàng mang giày, xinh đẹp biết bao,
Vế nàng béo mướt, khác nào như ngọc,
Rốn nàng giống như cái ly tròn,
Bụng nàng dường một đống lúa mạch,
Hai vú nàng như hai con sanh đôi của hoàng dương,
Cổ nàng như một cái tháp ngà,
Mắt nàng khác nào cái ao tại Hết-bôn,
Mũi nàng như ngọn tháp Li-ban ngó về hướng Đa-mách,
Đầu trên mình nàng khác nào núi Cạt-mên,
Và tóc nàng như sắc tía...”
Tả sắc đẹp của đàn bà mà tả đến những cái vú, cái rốn, cái đùi (vế) thì thật là bạo quá. Không ai ngờ được rằng trong kinh điển của một tông giáo lại có được thứ văn chương như vậy. Thấy nói đương hồi thế kỷ thứ nhất có nhiều dòng đạo nghiêm chính không chịu nhìn những sách Nhã Ca làKinh Thánh. Nhưng về sau, ai ai cũng nhìn nó cả, là vì nhờ cách giải thích của các học giả bên đạo, nó trở nên có một nghĩa rất cao và rất hay.
Người ta nói những bài thơ trong sách Nhã Ca đó là mượn sự yêu nhau giữa trai gái để ngợi khen sự quan hệ giữa Đức Chúa Trời với dân ngài. Theo văn học, đó là một nghĩa về tượng trưng chứ không phải là tả thực.
Sự giải thích quanh co ấy cũng giống như hậu Nho đối với Kinh Thi mà trên đây đã nói. Thực ra thìNhã Ca có thể là một thứ sách về văn học của quốc dân Hê-bơ-rơ đời Thượng cổ, trong đó chỉ nói về sự trai gái yêu nhau cũng được, chứ không dính dấp gì với việc Đức Chúa Trời.
Ngày nay nhờ khoa học xương minh, trong xã hội nào cũng thấy bớt sự đè ép nặng nề của tông giáo và đạo đức cổ; nên những thơ tình trong kinh điển mới được phục lại cái bản sắc của nó. Ngày nay các nhà học giả tân tiến bên Trung Quốc và các nhà tông giáo khai thông ở khắp cả thế giới đều chịu coi thơ Quan Thư và thơ Nhã Ca là những bài thơ tình”.
(*) Những câu thơ ở Nhã Ca trên đây theo bản dịch Kinh Thánh của Hội Tin Lành và theo cả bản chữ Nho nữa (nguyên chú của P.K)
Lại Nguyên Ân (giới thiệu)
______________________________________________
Hiển thị các bài đăng có nhãn những bài thơ tình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn những bài thơ tình. Hiển thị tất cả bài đăng
Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2011
Thứ Sáu, 5 tháng 11, 2010
Nhà thơ Thanh Tùng: Ở cuối con đường mùa hoa vẫn đỏ
ĐINH KHÔI VIỆT
Ở tuổi thất thập cổ lai hi, gia tài của Thanh Tùng vẫn chỉ có những bài thơ tình say đắm. Thơ đã đem lại danh tiếng cho ông đồng thời vì nó ông đã phải chịu một cuộc đời nghèo túng, nhiều bất hạnh. Kỳ lạ thay, con người ấy vẫn nguyện sống trung thực với thơ.
Người thơ phong vận như thơ vậy. Hình như điều ấy không đúng lắm với trường hợp của Thanh Tùng. Thơ tình Thanh Tùng hào hoa, say đắm là thế mà cuộc đời ông thì lắm trắc trở, truân chuyên. Nhưng có một điều ai cũng nhận thấy: thời gian không thể làm nguội lạnh ngọn lửa yêu người, yêu đời nơi thi sĩ. Bảy lăm năm cuộc đời nén chặt những buồn vui, những bài thơ tình và những câu chuyện tưởng như giai thoại.
Sinh tôi ra đã có Hải Phòng
Thanh Tùng sinh năm 1935 tại Nam Định nhưng phần lớn cuộc đời ông gắn bó với thành phố Hải Phòng. Hoàn cảnh lịch sử thời ấy đã đưa biết bao con người tứ xứ tụ hội về thành phố biển. Đó là mảnh đất phát sáng những tài năng - nhân cách lớn như Văn Cao, Nguyên Hồng và lứa sau này là Đào Cảng, Thanh Tùng, Thi Hoàng. Có thể gọi họ là những người hùng sinh ra từ biển và làm rạng danh cho thành phố biển.
Ông đến với thơ như một cái duyên mà cũng là nhu cầu nội tại. Thơ là tiếng lòng - những vần thơ đến với Thanh Tùng một cách tự nhiên, trở thành tuyến đầu trong dòng văn học công nhân đất Cảng thập kỷ 70 với những thi liệu độc đáo "tiếng búa khắc vào hồn phố" (Thanh Tùng), "tiếng ve kim loại" (Thi Hoàng)...
Mấy ai biết thi sĩ trẻ đã làm thơ bằng ... những viên phấn màu. Thanh Tùng dùng những viên phấn viết các ký hiệu lên tấm tôn rồi học thuộc. Ông giải thích thời đó đang là công nhân đóng tàu, công việc thì nặng nhọc mà đôi lúc loé lên ý tưởng là "tốc ký" ngay trên sản phẩm.
Có lẽ điều ấy đã tác động đến phong cách sáng tác của ông sau này. Thanh Tùng nổi tiếng là người có thể làm thơ một hơi và không cần chỉnh sửa. Bài thơ "Thời hoa đỏ" cũng ra đời như vậy, trước sự chứng kiến của nhiều bạn bè. Sau đó nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh thấy bài thơ hay nên mang về xuất bản trên báo Văn nghệ Quân đội.
Hải Phòng để lại những kỉ niệm ngọt bùi cay đắng với bạn văn cực khổ. Nơi ấy có căn nhà nhỏ để bạn bè tụ tập. Nơi ấy vừa là nguồn cảm hứng vừa là nơi cưu mang những con người trót mê thơ, bị thơ ca "đoạ đầy" nhưng luôn tràn đầy nhiệt huyết.
Hải Phòng đã cho ông những kỉ niệm tình yêu không thể quên với cô hoa khôi đất Cảng một thưở. Tên chị là Thanh Nhàn - đã từng có hai đời chồng nhưng vẫn còn xuân sắc. Lấy nhau, Thanh Tùng và chị được hưởng những ngày hạnh phúc ngắn ngủi. Hai người đã có với nhau hai con và giờ đây đều trưởng thành, tự lo được cuộc sống.
Nhiều ý kiến cho rằng chị chính là nguyên mẫu trong bài thơ "Thời hoa đỏ". Xung quanh câu chuyện này cũng có nhiều dị bản. Chính thi sĩ cũng có những cách trả lời khác nhau. Nhưng để viết được những dòng thơ đầy tiếc nuối mà cũng đầy cao thượng.
Anh đâu buồn mà chỉ tiếc
Em không đi hết những ngày đắm say
Chắc hẳn người con gái phải để lại dấu ấn không thể phai mờ trong tâm khảm thi sĩ. Ông không tiếc nuối cho mối tình đã qua mà chỉ tiếc cho những lỡ dở của người tình trên con đường đi tìm hạnh phúc.
Bởi thế, khi phải xa rời mảnh đất chôn rau con người rắn rỏi ấy bỗng trở nên mềm yếu: Mai tôi đi rồi/ Tôi có khóc đâu mà gió ướt/ Mà nắng rát nên tôi mặn chát/ Mai tôi đi rồi/ Để lại đây tiếng búa khắc vào hồn phố...
Thi sĩ phiêu bạt
Thanh Tùng kể rằng, thuở nhỏ ông bị nhốt trong nhà không được đi chơi phố nên chỉ biết ngắm nhìn những cánh buồm qua song cửa sắt. Vậy nên mới có câu thơ:
Anh mải mê về một màu mây xa
Về cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ
Nhưng đấy chỉ là một cách "biện minh" cho khao khát thèm đi của thi sĩ. Ông là gió, tâm hồn rộng mở như ngọn gió tự do, ùa đến với bạn bè như gió lốc và mãi là một cơn gió lang thang trên những chặng hành trình của cuộc đời.
Cuộc đời gắn bó với Hải Phòng nhưng cũng có những lúc ông chấp nhận áp tải những chuyến hàng liên tỉnh. Thanh Tùng gọi đó là những ngày tháng lang bạt, kiếm sống qua ngày. Từ những chuyến đi ấy, ông có thêm một tình yêu mãnh liệt dành cho Hà Nội.
Bởi thế ông mới viết: "Vội vã trở về, vội vã ra đi/ Chẳng kịp nhận ra từng con phố" hay "Mỗi khi tôi thấy mình xơ xác/ Tôi lại về đánh cắp/ Dẫu một chút bóng đêm trên đường phố Khâm Thiên".
Và cũng chỉ có Thanh Tùng mới cảm nhận thế này về mùa thu Hà Nội: "Em đạp lên tất cả/ Rồi ngã vào anh theo cách ngã của mùa thu/ Rồi hôn lên anh theo cách hôn dài của gió/ Thấm vào anh, vật vã trên anh/ Bứt xuống trong anh bừa bãi lá vàng".
Thanh Tùng làm nhiều thơ về Hà Nội, trong đó có hai bài "Hà Nội" và "Em và Mùa thu" đã được nhạc sĩ Phú Quang phổ nhạc. Đấy có thể coi là cái duyên giữa nhạc và thơ kể từ sau "Thời hoa đỏ".
Khi đã sống ở phương Nam, ông có dịp đi nhiều nơi. Khi thì là Nha Trang, lúc lại là Đà Lạt, Huế. Chính mảnh đất phương Nam nắng gió đã để lại cho ông câu thơ thật đẹp "Gió tự do thổi rộng mặt hè".
Có lần ông trở thành nhân vật chính trong một buổi trình diễn thử nghiệm thơ - nhạc. Chẳng biết buổi biểu diễn có khuấy động phong trào văn nghệ thành phố hay không, chỉ biết rằng liền sau đó Thanh Tùng có một sinh nhật do bạn bè yêu thơ tổ chức. Đó cũng là sinh nhật đầu tiên của cuộc đời ông.
Và Thanh Tùng cũng từng có dịp ... xuất ngoại. Đó là năm 1997, ông được Hội nhà văn cử sang Hy Lạp đọc thơ. Nếu nói vui thì Nam Bắc Đông Tây ông đều đã đi cả !
Ngoài tài thơ, Thanh Tùng còn có biệt tài đi bộ. Thanh Tùng từng kể rằng ông có thể cuốc bộ từ Hải Phòng về Vĩnh Bảo (khoảng cách gần 30km) chỉ để nói mấy câu với người yêu. Thời còn làm áp tải, ông đã từng đi từ Đức Giang về Hà Nội để uống với bạn ly cà phê nóng. Đến tận bây giờ, ông vẫn là một "đại kiện tướng" đi bộ. Những lần ra Hà Nội ông vẫn đi bộ đến thăm các bạn thơ một cách "ngon lành".
Những ai quen biết Thanh Tùng đều hiểu ông có thể ghé thăm bất cứ lúc nào mà không hẹn trước. Nhưng có ai nỡ trách ông. Sự nổi tiếng của thi sĩ đã cho ông nhiều bè bạn. "Quà" của ông chỉ có thơ và những câu chuyện vui buồn trong cuộc đời phiêu bạt.
Thanh Tùng có một vốn sống dày dặn. Nếu định tìm hiểu về giới văn nghệ sĩ Hải Phòng thế hệ trước, bạn cứ tìm đến Thanh Tùng. Ông là cuốn biên niên sống động về đời sống công nhân. Có khi bạn lại thu lượm được khối câu chuyện hay - tiền đề của một cuốn truyện, kịch bản tương lai.
Khi tranh luận về thơ Thanh Tùng như "cá gặp nước". Ông không có nhiều lý luận mà chủ yếu dựa vào trực giác của một nhà thơ và vốn sống. Tất cả đều được ông nói với niềm trân trọng như một đức tin, rút ruột mà nói.
Đây là quan niệm của ông về mối quan hệ giữa thi sĩ với thơ ca: "Đã là nhà thơ thì thất sự phải sống chết vì thơ. Hãy tự xem mình có thuộc về thơ không, có dám hy sinh cho thơ không vì vẻ đẹp của thơ rất khắc nghiệt, Đi theo thơ là đi theo mơ mộng, những phiêu lãng " cơm áo không đùa với khách thơ". Làm thơ là phải chịu sự thiệt thòi ghê gớm. Làm thơ mà chạy theo đồng tiền là phản thơ, mất uy tín với thơ ca. Yêu thơ thì thơ quyến luyến, như được " Nàng Thơ" yêu."
Còn đây là một Thanh Tùng luận bàn về rượu: "Không có rượu, thuốc lá không làm thơ được! Không có rượu không vượt qua thảm kịch trong đời. Nếu không uống rượu, làm thơ như cành củi khô chắp vào chứ không phải ngôn ngữ thơ. Có rượu nó đẩy mình lên vựơt qua cái khô khan của mình".
Sống trung thực với thơ
Nhìn lại cuộc đời mình, Thanh Tùng nhận thấy nếu có chút gì đáng thu hoạch thì đó là thơ. Ông đã đi trên con đường thơ từ tuổi thơ nghèo khó cho tới tuổi già túng thiếu. Thơ cho ông chút danh tiếng và khiến ông mãi nghèo khổ, bất hạnh. Mất một cuộc tình để có "Thời hoa đỏ". Những chuyến đi lang bạt cho để lại bài thơ về Hà Nội, Huế, Quảng Ninh...
Nhà thơ Vân Long từng nhận xét Thanh Tùng là con người sống bản năng. Thơ ông là tiếng nói trực cảm nên dễ gây ấn tượng mạnh với độc giả. Trong thế giới thơ của Thanh Tùng, người đọc dễ bị choáng ngợp bởi những hình ảnh tượng trưng khoáng đạt đầy lãng mạn, những tình cảm mãnh liệt.
Thơ ông không cần vần, chủ trương bỏ vần để tập trung vào hình tượng thơ. Nhờ lối viết hiện đại ấy, nhiều bài thơ sáng tác từ những năm 80 đọc lên vẫn không hề cũ.
Nhưng cái Tôi bộc trực, tính cách bản năng ấy đặt vào cuộc đời thì không ổn. Phải chăng đó là nguyên nhân đem đến cho ông nhiều bất hạnh và đau khổ?
Cũng may ông trời vẫn để lại cho Thanh Tùng một thứ tài sản quý giá - đó là sức khoẻ. Ở tuổi 75, Thanh Tùng vẫn còn rất tráng kiện, minh mẫn. Ông còn để ngỏ hai tập trường ca về Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh. Tin rằng Thanh Tùng vẫn là một nguồn thơ sung mãn, còn dư sức để ứa ra những dòng thơ ám ảnh, đưa người đọc vào thế giới của những mùa hoa như lửa cháy, những vòm trời vô tận sắc vàng...
____________________________________________________
Ở tuổi thất thập cổ lai hi, gia tài của Thanh Tùng vẫn chỉ có những bài thơ tình say đắm. Thơ đã đem lại danh tiếng cho ông đồng thời vì nó ông đã phải chịu một cuộc đời nghèo túng, nhiều bất hạnh. Kỳ lạ thay, con người ấy vẫn nguyện sống trung thực với thơ.
Người thơ phong vận như thơ vậy. Hình như điều ấy không đúng lắm với trường hợp của Thanh Tùng. Thơ tình Thanh Tùng hào hoa, say đắm là thế mà cuộc đời ông thì lắm trắc trở, truân chuyên. Nhưng có một điều ai cũng nhận thấy: thời gian không thể làm nguội lạnh ngọn lửa yêu người, yêu đời nơi thi sĩ. Bảy lăm năm cuộc đời nén chặt những buồn vui, những bài thơ tình và những câu chuyện tưởng như giai thoại.
Sinh tôi ra đã có Hải Phòng
Thanh Tùng sinh năm 1935 tại Nam Định nhưng phần lớn cuộc đời ông gắn bó với thành phố Hải Phòng. Hoàn cảnh lịch sử thời ấy đã đưa biết bao con người tứ xứ tụ hội về thành phố biển. Đó là mảnh đất phát sáng những tài năng - nhân cách lớn như Văn Cao, Nguyên Hồng và lứa sau này là Đào Cảng, Thanh Tùng, Thi Hoàng. Có thể gọi họ là những người hùng sinh ra từ biển và làm rạng danh cho thành phố biển.
Ông đến với thơ như một cái duyên mà cũng là nhu cầu nội tại. Thơ là tiếng lòng - những vần thơ đến với Thanh Tùng một cách tự nhiên, trở thành tuyến đầu trong dòng văn học công nhân đất Cảng thập kỷ 70 với những thi liệu độc đáo "tiếng búa khắc vào hồn phố" (Thanh Tùng), "tiếng ve kim loại" (Thi Hoàng)...
Mấy ai biết thi sĩ trẻ đã làm thơ bằng ... những viên phấn màu. Thanh Tùng dùng những viên phấn viết các ký hiệu lên tấm tôn rồi học thuộc. Ông giải thích thời đó đang là công nhân đóng tàu, công việc thì nặng nhọc mà đôi lúc loé lên ý tưởng là "tốc ký" ngay trên sản phẩm.
Có lẽ điều ấy đã tác động đến phong cách sáng tác của ông sau này. Thanh Tùng nổi tiếng là người có thể làm thơ một hơi và không cần chỉnh sửa. Bài thơ "Thời hoa đỏ" cũng ra đời như vậy, trước sự chứng kiến của nhiều bạn bè. Sau đó nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh thấy bài thơ hay nên mang về xuất bản trên báo Văn nghệ Quân đội.
Hải Phòng để lại những kỉ niệm ngọt bùi cay đắng với bạn văn cực khổ. Nơi ấy có căn nhà nhỏ để bạn bè tụ tập. Nơi ấy vừa là nguồn cảm hứng vừa là nơi cưu mang những con người trót mê thơ, bị thơ ca "đoạ đầy" nhưng luôn tràn đầy nhiệt huyết.
Hải Phòng đã cho ông những kỉ niệm tình yêu không thể quên với cô hoa khôi đất Cảng một thưở. Tên chị là Thanh Nhàn - đã từng có hai đời chồng nhưng vẫn còn xuân sắc. Lấy nhau, Thanh Tùng và chị được hưởng những ngày hạnh phúc ngắn ngủi. Hai người đã có với nhau hai con và giờ đây đều trưởng thành, tự lo được cuộc sống.
Nhiều ý kiến cho rằng chị chính là nguyên mẫu trong bài thơ "Thời hoa đỏ". Xung quanh câu chuyện này cũng có nhiều dị bản. Chính thi sĩ cũng có những cách trả lời khác nhau. Nhưng để viết được những dòng thơ đầy tiếc nuối mà cũng đầy cao thượng.
Anh đâu buồn mà chỉ tiếc
Em không đi hết những ngày đắm say
Chắc hẳn người con gái phải để lại dấu ấn không thể phai mờ trong tâm khảm thi sĩ. Ông không tiếc nuối cho mối tình đã qua mà chỉ tiếc cho những lỡ dở của người tình trên con đường đi tìm hạnh phúc.
Bởi thế, khi phải xa rời mảnh đất chôn rau con người rắn rỏi ấy bỗng trở nên mềm yếu: Mai tôi đi rồi/ Tôi có khóc đâu mà gió ướt/ Mà nắng rát nên tôi mặn chát/ Mai tôi đi rồi/ Để lại đây tiếng búa khắc vào hồn phố...
Thi sĩ phiêu bạt
Thanh Tùng kể rằng, thuở nhỏ ông bị nhốt trong nhà không được đi chơi phố nên chỉ biết ngắm nhìn những cánh buồm qua song cửa sắt. Vậy nên mới có câu thơ:
Anh mải mê về một màu mây xa
Về cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ
Nhưng đấy chỉ là một cách "biện minh" cho khao khát thèm đi của thi sĩ. Ông là gió, tâm hồn rộng mở như ngọn gió tự do, ùa đến với bạn bè như gió lốc và mãi là một cơn gió lang thang trên những chặng hành trình của cuộc đời.
Cuộc đời gắn bó với Hải Phòng nhưng cũng có những lúc ông chấp nhận áp tải những chuyến hàng liên tỉnh. Thanh Tùng gọi đó là những ngày tháng lang bạt, kiếm sống qua ngày. Từ những chuyến đi ấy, ông có thêm một tình yêu mãnh liệt dành cho Hà Nội.
Bởi thế ông mới viết: "Vội vã trở về, vội vã ra đi/ Chẳng kịp nhận ra từng con phố" hay "Mỗi khi tôi thấy mình xơ xác/ Tôi lại về đánh cắp/ Dẫu một chút bóng đêm trên đường phố Khâm Thiên".
Và cũng chỉ có Thanh Tùng mới cảm nhận thế này về mùa thu Hà Nội: "Em đạp lên tất cả/ Rồi ngã vào anh theo cách ngã của mùa thu/ Rồi hôn lên anh theo cách hôn dài của gió/ Thấm vào anh, vật vã trên anh/ Bứt xuống trong anh bừa bãi lá vàng".
Thanh Tùng làm nhiều thơ về Hà Nội, trong đó có hai bài "Hà Nội" và "Em và Mùa thu" đã được nhạc sĩ Phú Quang phổ nhạc. Đấy có thể coi là cái duyên giữa nhạc và thơ kể từ sau "Thời hoa đỏ".
Khi đã sống ở phương Nam, ông có dịp đi nhiều nơi. Khi thì là Nha Trang, lúc lại là Đà Lạt, Huế. Chính mảnh đất phương Nam nắng gió đã để lại cho ông câu thơ thật đẹp "Gió tự do thổi rộng mặt hè".
Có lần ông trở thành nhân vật chính trong một buổi trình diễn thử nghiệm thơ - nhạc. Chẳng biết buổi biểu diễn có khuấy động phong trào văn nghệ thành phố hay không, chỉ biết rằng liền sau đó Thanh Tùng có một sinh nhật do bạn bè yêu thơ tổ chức. Đó cũng là sinh nhật đầu tiên của cuộc đời ông.
Và Thanh Tùng cũng từng có dịp ... xuất ngoại. Đó là năm 1997, ông được Hội nhà văn cử sang Hy Lạp đọc thơ. Nếu nói vui thì Nam Bắc Đông Tây ông đều đã đi cả !
Ngoài tài thơ, Thanh Tùng còn có biệt tài đi bộ. Thanh Tùng từng kể rằng ông có thể cuốc bộ từ Hải Phòng về Vĩnh Bảo (khoảng cách gần 30km) chỉ để nói mấy câu với người yêu. Thời còn làm áp tải, ông đã từng đi từ Đức Giang về Hà Nội để uống với bạn ly cà phê nóng. Đến tận bây giờ, ông vẫn là một "đại kiện tướng" đi bộ. Những lần ra Hà Nội ông vẫn đi bộ đến thăm các bạn thơ một cách "ngon lành".
Những ai quen biết Thanh Tùng đều hiểu ông có thể ghé thăm bất cứ lúc nào mà không hẹn trước. Nhưng có ai nỡ trách ông. Sự nổi tiếng của thi sĩ đã cho ông nhiều bè bạn. "Quà" của ông chỉ có thơ và những câu chuyện vui buồn trong cuộc đời phiêu bạt.
Thanh Tùng có một vốn sống dày dặn. Nếu định tìm hiểu về giới văn nghệ sĩ Hải Phòng thế hệ trước, bạn cứ tìm đến Thanh Tùng. Ông là cuốn biên niên sống động về đời sống công nhân. Có khi bạn lại thu lượm được khối câu chuyện hay - tiền đề của một cuốn truyện, kịch bản tương lai.
Khi tranh luận về thơ Thanh Tùng như "cá gặp nước". Ông không có nhiều lý luận mà chủ yếu dựa vào trực giác của một nhà thơ và vốn sống. Tất cả đều được ông nói với niềm trân trọng như một đức tin, rút ruột mà nói.
Đây là quan niệm của ông về mối quan hệ giữa thi sĩ với thơ ca: "Đã là nhà thơ thì thất sự phải sống chết vì thơ. Hãy tự xem mình có thuộc về thơ không, có dám hy sinh cho thơ không vì vẻ đẹp của thơ rất khắc nghiệt, Đi theo thơ là đi theo mơ mộng, những phiêu lãng " cơm áo không đùa với khách thơ". Làm thơ là phải chịu sự thiệt thòi ghê gớm. Làm thơ mà chạy theo đồng tiền là phản thơ, mất uy tín với thơ ca. Yêu thơ thì thơ quyến luyến, như được " Nàng Thơ" yêu."
Còn đây là một Thanh Tùng luận bàn về rượu: "Không có rượu, thuốc lá không làm thơ được! Không có rượu không vượt qua thảm kịch trong đời. Nếu không uống rượu, làm thơ như cành củi khô chắp vào chứ không phải ngôn ngữ thơ. Có rượu nó đẩy mình lên vựơt qua cái khô khan của mình".
Sống trung thực với thơ
Nhìn lại cuộc đời mình, Thanh Tùng nhận thấy nếu có chút gì đáng thu hoạch thì đó là thơ. Ông đã đi trên con đường thơ từ tuổi thơ nghèo khó cho tới tuổi già túng thiếu. Thơ cho ông chút danh tiếng và khiến ông mãi nghèo khổ, bất hạnh. Mất một cuộc tình để có "Thời hoa đỏ". Những chuyến đi lang bạt cho để lại bài thơ về Hà Nội, Huế, Quảng Ninh...
Nhà thơ Vân Long từng nhận xét Thanh Tùng là con người sống bản năng. Thơ ông là tiếng nói trực cảm nên dễ gây ấn tượng mạnh với độc giả. Trong thế giới thơ của Thanh Tùng, người đọc dễ bị choáng ngợp bởi những hình ảnh tượng trưng khoáng đạt đầy lãng mạn, những tình cảm mãnh liệt.
Thơ ông không cần vần, chủ trương bỏ vần để tập trung vào hình tượng thơ. Nhờ lối viết hiện đại ấy, nhiều bài thơ sáng tác từ những năm 80 đọc lên vẫn không hề cũ.
Nhưng cái Tôi bộc trực, tính cách bản năng ấy đặt vào cuộc đời thì không ổn. Phải chăng đó là nguyên nhân đem đến cho ông nhiều bất hạnh và đau khổ?
Cũng may ông trời vẫn để lại cho Thanh Tùng một thứ tài sản quý giá - đó là sức khoẻ. Ở tuổi 75, Thanh Tùng vẫn còn rất tráng kiện, minh mẫn. Ông còn để ngỏ hai tập trường ca về Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh. Tin rằng Thanh Tùng vẫn là một nguồn thơ sung mãn, còn dư sức để ứa ra những dòng thơ ám ảnh, đưa người đọc vào thế giới của những mùa hoa như lửa cháy, những vòm trời vô tận sắc vàng...
____________________________________________________
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)