Hiển thị các bài đăng có nhãn văn học giải trí. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn văn học giải trí. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 18 tháng 11, 2010

Để có một nền văn học “sạch”

Diên Khánh

Văn học là một sản phẩm tinh thần cao quý của con người, là thước đo trình độ, bản sắc và tầm vóc văn hóa của mỗi dân tộc. Sự tiếp nhận văn học mỗi người khác nhau, có người đọc để giải trí, có người đọc để học tập, người khác nghiên cứu, lại có người chỉ để thẩm định một hiện trạng cũ - mới. Dù thế nào thì văn học phải đảm bảo những giá trị của nó, phải gánh trên mình nó nhiệm vụ là làm cho con người tiến bộ, cho cuộc sống tốt đẹp hơn, nhân văn hơn.
Theo dõi văn học và đọc những tác phẩm được xuất bản trong những năm qua, người ta dễ dàng nhận thấy có sự khác biệt về giá trị các tác phẩm văn học, tức là văn học ở dạng “vàng thau lẫn lộn”. Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến cho rằng, văn học trước hết là sách, là hình ảnh ngôn từ, là ngôn từ mực đen trên giấy trắng. Ông cũng tỏ ra quan ngại rằng, mấy thập kỉ nay, văn học phải cạnh tranh với một đối thủ ghê gớm mà sự lớn mạnh ngày càng hùng hậu, càng tăng sức áp đảo, đó là truyền hình. Ở những nước công nghiệp phát triển, những người viết sách (trong đó có nhà văn) tỏ ra bi quan trước sự bành trướng của truyền hình. Với tôi, người viết bài này còn tỏ ra bi quan trước sự tràn lan vô tội vạ của nhiều dịch vụ trên internet, đã vô tình làm vẩn đục hàng vạn tâm hồn thanh thiếu niên. Dường như một số dịch vụ truyền hình, internet đang đua nhau phô ra những dịch vụ có tác động mạnh mẽ nhất vào bộ não non nớt của lớp trẻ, sinh ra hàng loạt website bẩn, kênh thông tin sex nhằm thu hút sự quan tâm của đối tượng người trẻ. Với ý nghĩ nào đó, một số cây bút cũng muốn đi bằng con đường này, tạo ra những trang văn thực sự không trong sáng nhằm đánh vào thị hiếu tức thời của một bộ phận người đọc, mà ở đây phần lớn là những độc giả nhỏ tuổi, tò mò, chưa phân biệt được tốt, xấu. Những trang văn không sạch thì khó có thể cấm các em đừng đọc, đừng tiếp xúc? Một bộ phận giới trẻ thiếu “kháng sinh” trong người, rất dễ bắt chước, học đòi tính bầy đàn, tiếp xúc với quá nhiều thông tin kém lành mạnh, đầu óc các em sẽ u mê, trụy lạc...
Trên một số trang báo, có bài phê bình mạnh mẽ những trang văn của các tác giả Keng, Gào... mà họ đã từng được tung hô, PR. Nếu ai đã từng đọc một cách công tâm những tác phẩm của các tác giả này, hẳn sẽ nhận ra chúng không phải là văn học, mà là một biến dạng của thể loại văn xuôi. Không thể nghĩ rằng, cứ viết, cứ in thành tập, gọi đó là tiểu thuyết, truyện ngắn và bảo đó là văn học và bắt người khác phải công nhận. Sẽ có người cãi lại rằng, người ta viết, tôi cũng viết, của người ta gọi là văn, sao của tôi lại không? Không ít người cho rằng, việc đưa ra những dịch vụ, sách nhạy cảm đánh vào óc tò mò của lứa tuổi vị thành niên là một tội ác. Điều đó là rất đúng! Trong khi nhận thức của chúng chưa chín chắn, mọi hành động còn bồng bột, đối với những gì gây tò mò, đều gợi trong chúng sự hưng phấn nhất định. Với sách văn học cũng vậy, giá đừng ghi là cấm thì sự tò mò biết đâu được giảm bớt. Đây cũng là một trò đánh lận con đen của một số người làm sách nhằm kích thích “tiêu dùng” của những người trẻ tò mò.
Vậy, thế nào là một nền văn học sạch và làm sao để có một nền văn học sạch? Văn học sạch sản sinh ra sự yêu thương, lòng bác ái, sáng tạo ra cái đẹp, cái thiện và làm nền tảng cho văn hóa tinh thần của đất nước. Còn làm sao để có nền văn học sạch? Theo tôi, phải có sự kết hợp của ba yếu tố: người viết, tác phẩm và người đọc, trong đó người viết giữ vai trò chủ đạo. Người viết, trước hết phải có tâm thế là một người sáng tạo ra cái đẹp. Anh ta cần có cái tâm và trách nhiệm với ngòi bút của mình, đồng thời hướng đến lợi ích của người đọc bằng tâm hồn trong sáng, gạn lọc được những điều tốt đẹp của cuộc đời để hiến dâng người đọc, định hướng người đọc. Đối với người đọc, để biết đọc và đọc đúng, cũng cần có trình độ để biết được loại sách nào nên đọc, loại nào không. Họ cũng cần trình độ để tham gia vào việc cảm thụ tác phẩm chứ không đơn thuần chỉ là một sự giải trí thông thường.
Mỗi người viết có một xuất phát điểm khác nhau. Anh ta có thể là nhà giáo, kỹ sư, bác sĩ hay là người công nhân, nông dân... Anh ta có thể viết dưới mọi hình thức, nhưng để có một nền văn học sạch, anh ta phải xác định mình tham gia một sân chơi có văn hóa và bình đẳng với nhau về tâm thế sáng tạo. Đồng thời, cũng cần có sự đúng mực của truyền thông khi tham gia vào việc quảng bá tác phẩm. Không thể đổ hết lỗi cho truyền thông đôi khi đã tung hỏa mù văn chương ở giai đoạn công nghệ thông tin bùng nổ. Nếu truyền thông nghiêm túc, họ PR những tác phẩm đúng giá trị thực thì cũng là một điều tốt cho văn học. Đông đảo công chúng sẽ có thêm thông tin và đón nhận tác phẩm giá trị. Soi chiếu vào việc sáng tác văn học trong vài chục năm qua, chúng ta thấy sự xuất hiện của nhiều loại hình văn học: văn học ám chỉ, văn sex, văn sến, văn tục, văn chế giễu... không ít trong số đó đã được truyền thông thổi phồng lên quá mức, đến nỗi nhiều người cay cú vì mua phải hàng kém chất lượng. Phải khẳng định lại, không phải tất cả những loại hình đó đều đi chệch biên độ cho phép của nền văn học chính thống. Văn học chính thống cũng tồn tại những điều ám chỉ, những đoạn sex, đoạn giễu nhại, nhưng với một mức độ khoa học để làm tăng giá trị của tác phẩm. Mỗi người viết nên định liệu thế nào là vừa đủ.
Cuộc sống hiện đại khiến con người thực dụng nhiều hơn, việc cảm nhận cái đẹp và khả năng sáng tạo cái đẹp ngày càng sút kém. Bằng cách này hay cách khác, người ta chế ra những món ăn nhanh bắt mắt, không đảm bảo vệ sinh cốt để thu nhiều lợi nhuận. Nhưng trên mâm cơm nghệ thuật, mà cụ thể là văn học, người dân khao khát những món lạ miệng nhưng phải sạch, phải ngon và đảm bảo dinh dưỡng cần thiết.

_____________________________________________________________

Thứ Bảy, 31 tháng 7, 2010

Nhà văn không cần dùng cô đơn để gây kịch tính

VNT Phỏng vấn Nguyễn Danh Lam

PV: Là một người vừa làm thơ, viết truyện ngắn, và cả tiểu thuyết nữa. Anh đã bao giờ rơi vào tình trạng được/ bị người đọc đánh giá về những sáng tác của mình trên bình diện tư tưởng. Vì mọi người vẫn có thói quen nhận xét một tác phẩm hay là phải có nội dung tốt, mang tính tư tưởng cao. Tại sao không nghĩ một cách khác, vì biết đâu tâm thế người sáng tác ngay khi bắt đầu đặt bút đã đặt ra tiêu chí đơn giản là giải trí. Đọc/ viết tiểu thuyết điều đầu tiên anh nghĩ đến là gì?

NGUYỄN DANH LAM (NDL): Cho đến lúc này, nếu tự nhìn nhận, tôi thấy những trang viết của mình “có chứa đựng tư tưởng”, một cách chủ động, chủ đích. Đến độ, một trong những nguyên nhân để tôi… không dám làm thơ nữa là do tôi đã “nhét” vào thơ quá nhiều… triết lí! Thuở bé đọc văn học Nga cổ điển, tôi còn lưu trong trí nhớ những trang viết dài dặc, nơi tác giả, nhân vật “tung hoành” với triết lí. Bước vào tuổi thanh niên, với bước chuyển hậu bao cấp, kéo theo đó là bao đổi thay, như chiếc xe chạy qua khúc cua, hay con thuyền phút bẻ lái chòng chành, tôi càng chú trọng đặt cho mình vấn đề lí tưởng sống. Kế đó, tôi đọc nhiều sách triết. Vừa đọc vừa viết và rơi vào tình thế… lí sự. Cho đến nay, tôi vẫn đang nỗ lực rút dần ra khỏi mớ “lí sự” này, hòa nó vào ngôn từ, mà đích đến tự đặt ra là “văn học có suy tư”. Còn “những tác phẩm văn học có nội dung tốt, tính tư tưởng cao”, câu này mỗi người có thể hiểu theo một cách khác nhau. Tôi thực hiện nó theo cách của mình. Riêng tiêu chí “đơn giản là để giải trí”, tôi đang “đánh đu” với nó bằng những công việc khác, chứ không dùng văn học.

PV: Khi nhận định về tiểu thuyết trẻ hiện nay nhà phê bình Nguyễn Chí Hoan cho rằng “Một số tiểu thuyết trẻ tôi đọc thì thấy hàm lượng tri thức không nhiều. Không nên coi tưởng tượng như là mơ mộng bịa tạc và kiến văn như là trí nhớ của một giáo sư đáng kính nào đó. Trí tưởng tượng của một nhà văn nằm ngay trên ngôn từ của tác phẩm. Phần nhiều tiểu thuyết trẻ chưa có được ngôn từ riêng của mình”. Anh có thể chia sẻ những suy nghĩ của anh với bạn đọc?

NDL: Mọi nhận định và phát biểu đều có “căn cớ” riêng của nó, tôi nghĩ Nguyễn Chí Hoan có lí của anh, cho dù có nhận được sự đồng tình hay không. Tôi không phải là người phát ngôn của những bạn viết tiểu thuyết trẻ hôm nay, chỉ xin tự soi mình, tôi thấy cái thiếu của tôi là… vô tận! Trong đó có nhiều cái thiếu không thể khắc phục được, bởi nó đã thuộc về vô thức, nền tảng. Khi đọc những người cùng trang lứa với tôi trên thế giới, như Kiran Desai với Di sản của mất mát, hay Jonathan Littell với Những kẻ thiện tâm… cùng rất nhiều ví dụ khác, tôi không đủ huyễn hoặc để an ủi mình, ta chẳng thua gì họ!

PV: Có người cho rằng văn chương trẻ hoặc là quá nhiều triết lí, nhiều tuyên ngôn, hoặc là quá nhiều những câu sáo rỗng, sến. Hai khuynh hướng đó có quá cực đoan không khi rõ ràng có rất nhiều tác giả đã tạo được tên tuổi của mình, tạo được thương hiệu của mình, và điều đơn giản nhất là mỗi khi họ xuất hiện bạn đọc đều chờ đợi và tò mò xem sẽ có cái gì mới?

NDL: Những nhận xét trên, cũng như nhận xét của nhà phê bình Nguyễn Chí Hoan, đều có “căn cớ” của nó. Nhưng tôi nghĩ những thứ “bệnh” này là tất yếu, giống như ho gà, sởi, sốt xuất huyết… ở trẻ em vậy! Thậm chí nó còn cần thiết ở mặt nào đó. Nó giúp cho các cây bút tự điều chỉnh, qua đó mà tiến lên. Có thể lấy ví dụ như khi bạn chạy xe, để có thể tiếp tục chạy, bạn phải liên tục đánh tay lái qua lại, nghĩa là chuệch chọac, lảo đảo một tí. Còn nếu ai đó đem cột thẳng đơ tay lái chiếc xe của bạn, không cho nó “lắc lư” chút nào cả, tôi đảm bảo bạn ngã lăn quay ngay! Không tin bạn cứ thử cột mà coi!

PV: Có lẽ chẳng ai phải thử điều đó nếu muốn chiếc xe của mình đi được. Trong tiểu thuyết mới nhất của anh “Giữa dòng chảy lạc” những nhân vật đều mang những nỗi cô đơn, sự lạc lõng trước cuộc sống của mình thậm chí không còn cảm giác gì nữa. Đó dường như là tâm trạng của những người trẻ thời hiện đại. Sự bế tắc là tâm sự của một thế hệ hay phải chăng nỗi cô đơn dễ tạo nên những kịch tính, những dằn vặt và cả những suy tư của con người, của câu chuyện?

NDL: Nếu tôi trình bày ở đây mọi thứ tôi cần nói, có thể vấn đề sẽ đi sang một hướng khác, không gần lắm với phạm vi câu chuyện này. Hơn nữa, tôi cũng không muốn nói thêm ngoài những gì mà mình đã viết ra. Tuy nhiên, tôi có thể phác qua. Tương ứng với giai đoạn “mười mấy đôi mươi” của thế hệ tôi là thời kì thoát khỏi nền kinh tế bao cấp, cùng nhiều thứ liên quan. Kế theo một khoảng nôn nao chuyển đổi, những “giá trị sống mới” bắt đầu hình thành, rồi “lên ngôi”. Khi tôi ngồi học trong nhà trường, thì lí tưởng vẫn là những thứ rất… sách vở, nhưng bước ra khỏi cổng lại là một thực tế rất khác. Tôi bắt đầu cảm nhận, mình là thành viên của một “Lost Generation”, khi cái cũ đã qua mà cái mới còn chưa tới. Ở vế thứ hai của câu hỏi, nhìn vào bề mặt cuộc sống hôm nay, bằng những thông tin từ báo chí, thì những gì văn học đang “phản chiếu” vẫn còn rất hiền hòa! Vì thế, tôi không nghĩ nhà văn phải dùng đến cô đơn để làm chất liệu gây kịch tính. Thậm chí, cô đơn là thứ lắng lại sau những dằn xóc bề ngoài mà người trẻ đang phải đối mặt, dù có chủ động ý thức hay không.

PV: Nói như thế có nghĩa nhà văn hiện nay có rất nhiều tư (chất) liệu, nhiều điều để viết và cần viết. Cái quan trọng là viết thế nào cho người đọc cảm thấy hứng thú, rằng đó không phải là cuộc sống được bê nguyên xi vào, mà đó là cuộc sống thông qua con mắt của những người trẻ. Vậy trong số những tác giả trẻ hiện nay anh chú ý đến cây bút nào?

NDL: Tôi vẫn tìm đọc lại Phan Thị Vàng Anh, Phan Triều Hải, Đỗ Phước Tiến… vì rất thích họ. Dù họ không còn trẻ về tuổi nữa! Ngoài ra, sau này tôi đọc Nguyễn Vĩnh Nguyên, Trần Nhã Thụy… Đọc, chứ không phải “chú ý” vì họ đã ở đó rất rõ ràng rồi!

PV: Và còn một điều tôi muốn nói đó là vẫn còn đâu đó lối viết coi tiểu thuyết chỉ là tả và kể cho xong một câu chuyện dài mà ít chỗ dừng lại để ngẫm ngợi, suy tư dằn vặt về cuộc sống quá vội và cũng có quá nhiều cạm bẫy như hiện nay?

NDL: Tôi đang thực hiện công việc của mình theo chu trình: có sẵn cái “ngẫm ngợi”, sau đó mới tìm một câu chuyện, giống như một li nước để hòa cái “ngẫm ngợi” kia vào đó, đem tới người đọc, như kiểu pha một li cà phê, thay vì bắt họ… ăn cà phê bột, hoặc ngược lại chỉ đem tới cho họ nước đuờng.

PV: Anh từng nói mỗi truyện ngắn trước đây anh viết khoảng một đêm. Những truyện sau này viết chậm hơn, khoảng ba đêm. Riêng “Đất”, khoảng một tuần, với mỗi đêm chừng hai tiếng vì lúc ấy anh bận nhiều việc. Còn với “Giữa dòng chảy lạc” phải mất bao lâu cuốn tiểu thuyết này mới hoàn thành?

NDL: Tôi phải làm báo kiếm sống, mất rất nhiều thời gian, mỗi tuần nỗ lực thu xếp lắm cũng chỉ rảnh ra được đôi ba tiếng để có thể viết văn. “Giữa dòng chảy lạc” được tôi viết túc tắc hơn một năm, với hơn 100 ngàn từ (âm tiết), so với hai cuốn tiểu thuyết trước đó thì quá chậm!

PV: Anh đang nói nhiều đến những suy tư. Liệu điều đó có bao giờ làm anh cảm thấy mỏi mệt không? Và anh đến với văn chương vì lẽ gì, giải thoát hay giãi bày đây?

NDL: Không, “con người là cây sậy biết suy tư” mà. Nên suy tư đâu hẳn đồng nghĩa với mỏi mệt. Thậm chí chừng nào không còn biết suy tư nữa mới là “mệt”! Văn chương là một phần đời sống, công việc, của tôi. Nên nhiều khi tôi đã “quên” mất lí do sự tồn tại của nó bên mình. Vì vậy không loại trừ khả năng nó “ở đó” bằng tất cả những lí do như, giải thoát, giãi bày, trách nhiệm công dân, cây cầu bắc giữa mình với đời sống xã hội…

PV: Để nói về thế hệ những nhà văn trẻ theo anh, họ đang thiếu điều gì và cần phải đánh giá họ như thế nào cho công bằng?

NDL: Xét riêng trường hợp của mình, ngoài những thứ thiếu “bó tay” thuộc về nền tảng như tôi đã nói, cái mà tôi thấy thiếu nhất bây giờ là… thời gian. Thời gian để đọc, để học, để suy tư, để viết một cách chuyên nghiệp. Còn việc đánh giá? Lại là “giải pháp” cũ mèm “xin chờ thời gian”.

PVVNT thực hiện

Nguồn: VNT

___________________________________________________