Thứ Năm, 13 tháng 1, 2011

Chụp ảnh gia đình

Truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư

Vào thời khắc cha quét váng nhện trên mảng tường tróc lở vôi và nhận ra trong nhà không hề có một tấm hình chụp chung nào chứng tỏ đây đang có một gia đình thì con đang lội mạng, nấn ná chỗ lễ đính hôn của một cô hoa hậu. Mùi xa hoa nào của buổi tiệc làm mũi nó dún lại trên gương mặt chảy dài thẩn thờ. Và cuộc gọi của cha đến khi nó đã chuyển qua chơi Bejeweled, những viên đá sặc sỡ vỡ vụn không làm nó nguôi đi chuyện cái áo đầm cô dâu kia mặc giá mười hai ngàn đô. Trời đất.
Về chụp hình cả nhà mình, cha nói hào hển, thở thì gần mà giọng hụp hửi ở đâu đâu, như đang ngoi ngóp dưới hồ. Thằng nhỏ thảng thốt hỏi lại, vụ gì cha? Về. Chụp hình. Cha gằn giọng và trước khi cúp máy, chọi qua thêm cục ngơ ngác nữa. Gấp.
Cái quán cà phê thằng con ngồi cách bến xe bảy cây số, cách sân bay mười hai cây, và cách bến tàu năm trăm mét. Tới những chỗ ấy thì sẽ cách nhà ngót ngét bốn trăm cây. Đường không phải là quá xa, chẳng lâu lắc gì cho lắm nhưng thằng con còn phải tốn cả tháng để hỏi đi hỏi lại, có đúng là cha kêu mình về để chụp hình không?
Gì thì chụp hình không giống một lý do, con không thể hình dung nổi chuyện phải bỏ công ăn chuyện làm đi hàng trăm cây số chỉ để toe miệng ra cười bên cạnh hai ông bà già và một con chó cũng già trong khi ông thợ chụp ảnh chổng mông đếm một hai ba. Thằng con nghĩ mẹ bệnh, nhà cháy, một người họ hàng thân cận nào đó cưới hoặc qua đời, hoặc đám giỗ ông bà nội ngoại mới là những cái cớ có thể chấp nhận được.
Bạn Tí cũng biết bông Cẩm Chướng nhà mình mà, tánh như nước nóng đổ dái. Ổng đang cằn nhằn nhức xương chuyện gián gặm nát cái hình hồi cưới má đây nè. Má nói, không quên đệm vào cái thở dài chừng ba thước tám. Những cái thở dài của má luôn xa vắng, trên điện thoại càng xa, như từ kiếp nào nối máy tới. Chỉ chữ bạn là ấm áp.
Má gọi con bằng bạn vào một hôm con không cho má coi cái nhọt trên mông nữa. Hồi đó con mười ba tuổi, giọng vỡ và trên người bỗng dưng mọc nhiều lông, đến nỗi nó nghĩ cứ đà này năm sau mình thành khỉ vô rừng leo cây ăn chuối mất. Nó sống trong nỗi hoang mang kinh khủng, chịu đựng một mình loay hoay một mình chống chọi một mình. Má thấy rõ ràng con ngày một xa, ra khỏi tầm với của mình, dù nó vẫn đang ngồi dặt dẹo chê cá tanh cơm lạt trước mặt mình đây. Má hỏi thăm khắp bạn bè, mượn mấy quyển sách tâm sinh lý về đọc, rốt cuộc xin được một chữ “bạn” đem về xài với con. Má đổi cách xưng hô, kêu bạn ơi bạn à suốt nhưng cũng chỉ mở được một tí đủ cho má hé mắt nhìn vào cái thế giới vừa hổn tạp vừa buồn cười, vừa ngượng ngập vừa ngớ ngẩn đó, mà không thể lách mình qua.
Lúc đó cha đang đi chiếu bóng lưu động ở những xóm làng xa tít mù tắp, heo hút tới nỗi cảm giác gió thổi cũng phải vói. Lúc đó cha đang bắc loa rao về bộ phim sẽ chiếu tối nay, đang lắp máy chiếu, trèo cây mắc dây nhợ, căng phông màn… cũng có thể đang xuôi ghe từ nơi này sang nơi khác, cái máy Kohler tàn tạ cứ cả ngày chạy cà tịch cà tang trên sông sông rạch rạch. Buổi sáng của cha bắt đầu bằng việc tìm nguồn nước sạch để đánh răng, và giọng nói sang sảng của cha sẽ mở ra ban tối, ra rả trước buổi chiếu phim, với những thông báo chính sách mới của nhà nước, hay phương pháp chống rầy nâu hay kêu gọi đóng thuế nông nghiệp mùa này.
Những năm sau đó, trong lúc con mệt mỏi trước việc tại sao thằng nhỏ giữa hai đùi nó cứ ngóc lên bất thần giữa buổi học mà không có một cơn cớ nào rõ ràng, thì cha đang hồng hộc rượt theo cái phông vải bị giông tốc cuốn đi, đang phơi mấy cái phim sắp mốc. Trong lúc con hôn vào ảnh Jennifer Lopez và nghe nửa dưới ướt nhoe nhoét thì cha đang tát nước ghe. Đội chiếu bóng lại nhổ sào đi bãi mới.
Lần xây lại nhà cha về luôn hai tháng, thằng con cứ thảng thốt mỗi khi đụng độ cha trong nhà tắm, Ủa, sao cha ở nhà lâu vậy?. Thậm chí nó còn vô tình nói ra câu thắt họng hơn nhiều, trời đất, tới bữa nay mà cha cũng chưa đi sao?. Cha bần thần đến ngón chân út cũng bần thần, thấy cái sự vắng mặt của mình trong nhà này có gì đó không hợp lẽ đời cho lắm.
Nhưng cha không coi vài cái thảng thốt của con không giống như một lý do để bỏ đội chiếu bóng, và những chi tiết chảy máu mắt mà cha vẫn thường gặp như bữa cơm con chỉ dọn hai cái chén, đi học về nhìn thấy giày cha nó hỏi má ơi có khách nào ghé nhà, muốn chạy chơi đâu đó cũng xà quần đi kiếm má để hỏi dù cha ở sờ sờ ra đó… cũng không phải là lý do có thể buộc chân cha lại.
Chỉ khi đội chiếu bóng giải tán cha mới thôi lang bạt. Làm anh công chức xà quần với hai mét vuông bàn giấy đã khó, làm người trong nhà còn khó hơn. Có tối cha cằn nhằn, “áo em sao mà nhiều nút quá trời đất, mở xong hết ham…”, sáng sau má đem chiếu gối ra phơi, bên xóm người ta tủm tỉm cười, nói thím muốn ông chồng đỡ nóng ruột thì mặc cái đầm ngủ, tốc cái một là lên tới đầu, xong ngay. Má mắc cở quá ẩy cha ra ngoài ngủ chay cả tuần, sau cho vào chỉ vì cha gọi cửa không bao giờ xuống giọng, cả xuống giọng cũng không giống xuống giọng.
Cha gần như mất khả năng thầm thì, ông oang oang sang sảng nói chữ nào chữ nấy bự chảng quen rồi. Con cứ giật mình thon thót mỗi khi cha kêu tóc dài quá nhìn thiếu văn hóa, ăn bận rách rưới như một kẻ vô học, một lớp trẻ như vầy thì đất nước này còn có hy vọng gì… Cái quần jean mà nó bỏ công ra mài cho sờn cho bạc chỉ mặc lần đó, rồi thôi.
Cũng may, trường đại học đã rủ rê thằng con đi xa. Cũng may vừa lúc nó cảm thấy nhà ba người thật là chật đi đâu cũng vấp ánh mắt cũng bị vướng ánh mắt cũng ngợp trong ánh mắt thì nó có hội bỏ chạy tới một nơi cách đó ba trăm bảy mươi lăm cây số. Rất khoảng khoát.
Thằng con tận hưởng sự tự do mà cuộc đời ban thưởng. Hè thì đi mùa hè xanh dạy tụi con nít thổi bong bóng, hì hục xuống rạch vớt lục bình, bắc những cây cầu không phải ai qua cũng được. Lễ lạt khoác ba lô đi bụi lên rừng rú. Phủi cái đít thâm sì chai ngắt chào từ biệt trường đại học rồi cũng vậy, thằng con vẫn nhảy việc và đi miết, chỉ Tết mới về nhà, nói ba điều bốn chuyện xong chạy chơi mất biệt. Một bữa nó nhận ra cha đã biết thầm thì, khi hỏi chuyện vợ con bồ bịch gì tới đâu rồi mậy, sao không thấy dắt về chơi. Má cười nói ổng già hết hơi rồi, huyết áp bữa lên bữa xuống, oang oang sao nổi.
Lạ là thằng con không quen với một ông cha thầm thì. Cũng như hồi nhỏ không quen thấy cha ở nhà hơn ba ngày liên tục. Nhiều lúc nhìn cha đem phơi những cuộn phim kỹ niệm mốc xì như thể được quay suốt dưới mưa, mặt Nguyễn Chánh Tín cũng như Thương Tín, Lâm Tới, mặt của Thanh Lan cũng như Thúy An đều rổ hột mè chi chít… con cảm thấy tuyệt vọng vì không làm sao chấp nhận được những ngớ ngẩn cũ kỹ này.
Như vụ chụp hình.
Cũng có lần cả nhà mặc đồ đẹp định đi tiệm Bạn Trẻ chụp hình chung, má nhắc lại, bạn Tí nhớ không, năm đó là năm cọp, nên họ trang trí một rừng tre có cây mai ở giữa, có con cọp giấy ló đầu ra. Bạn Tí sợ khóc quá xá, dỗ hoài không được nên mất hứng, không chụp nữa. Thằng con nói chuyện xưa như cái bánh dừa sao con nhớ được, má ơi công chuyện ngập đầu con đây. Má nói nhanh đuổi theo một đứa toan bỏ chạy, ráng thu xếp lẹ về một chuyến cho bông Cẩm Chướng vui, nghen bạn nghen. Lời tuôn qua môi xong, má bỗng thấy mình như con bò cứ ợ cỏ lên mà nhai đi nhai lại, càng nhai càng lạt miệng quá chừng. Đầu dây bên kia không vọng một tiếng vang. Sau lặng phắt là một tràng dài tít tít tít.
Trên vách vẫn trống hoác, vôi vữa lớp rụng lớp ố vàng thành những hình thù quái đản. Cha pha ấm trà ngồi mường tượng nào rồng nào rắn nào khủng long, cảm giác nhà này như hang ổ của thú hoang. Uất quá cha đi lục tung lên thì lượm được hình má hồi mười tám tuổi nghiêng đầu xỏa tóc, cha hồi bốn mươi hai tuổi đang đứng chống nạnh bên máy chiếu do phóng viên báo Sài Gòn chụp, con hồi năm tuổi mặc cái áo lòi rún, đầu trọc đơm đầy ghẻ chóc. Không đọc được mối dây liên hệ nào giữa những tấm ảnh hiếm hoi này.
Lại gọi điện cho thằng con. Nó nói hay cha má rủ con Phèn ra tiệm chụp hình trước đi, con gởi cái ảnh con về, người ta đem ghép lại là cả nhà bên nhau, y như thiệt… Nói tới đó thằng con có hơi giật mình vì chữ “rủ” gắn với con Phèn hình như không hợp lắm, nhưng má coi Phèn như người còn gì, má biết Phèn yêu ánh trăng thích ăn đầu cá lóc nướng trui thích được tắm bằng sunsilk siêu mượt… trong khi cứ liên tục ép con mình ăn món cà chua dồn thịt. Ký ức đôi lúc trở nên bội bạc, làm má ngỡ sở thích của con không bao giờ thay đổi. Trời đất, mọi thứ đang biến dạng chóng mặt, một phút thôi đã đủ cho con bồ cũ trở thành gái có chồng, đủ cho máy bay trở thành máy sấy, đủ cho con gà sống trở thành gà sắp chết với chữ dương tính in rành rành trên giấy xét nghiệm… Có cái gì đứng yên đâu, huống chi chuyện thằng con ham ăn cà chua dồn thịt đến nỗi mắc nghẹn trợn trừng trợn trắng đã xảy ra mười ba năm trước.
Những hồi tưởng lùng nhùng xẹt qua đầu thằng con khi nó đang đong đếm coi ba chữ “rủ con Phèn” có mỉa mai có ẩn chứa tị hiềm không thì bỗng bên kia cha hạ giọng thầm thì, “nói vậy cha chết mầy mới chịu về hả con?”. Thằng con nghe đuối lưỡi, ui chao là sợ cái kiểu thầm thì như nghiến ngầm lại như nghèn nghẹn này. Thì về.
Nó nói với con bồ, ba anh đau. Đọc thấy con nhỏ há miệng ra định đòi đi theo, thằng con cắt cơn liền, không nghiêm trọng lắm, như vô viện nằm dưỡng sức ít bữa thôi mà. Lúc gặp sếp thì cơn cớ phải về quê ít bữa đổi thành chú qua đời. Thấy đỡ áy náy hơn vì nó không có chú. Thằng con không tin là người ta khi biết sự thật về quê chụp hình mà không cười té ghế, không mỉa mai viện cớ đi chơi à, không buột miệng nói bộ khùng sao?
Khùng. Thằng con cũng cảm thấy vậy khi xa lăn bánh. Quá trời khùng, ý nghĩ đó quăng quật nó như xô nó xuống xe ngay cửa ngõ thành phố. Để tiếp tục ngồi lại nó cố hình dung ra không khí rộn rã ở nhà, chắc con Phèn cũng nôn nao lo không biết răng cỏ xếu xáo vầy có còn tiệc tùng được mấy, chắc là má kêu cha chở đi chợ mang về một đống đồ ăn mà hồi Tết con ưa. Đó, hai người họ chỉ có thể nắm giữ được con của thời quá khứ trong khi nó đã trôi tuột đi rồi.
Nắm rịt lấy cái khoảnh khắc thằng con gọi điện cho hay nó đã lên xe, cha má đinh ninh cuối chiều sẽ tóm được nó. Nhưng những gì xảy ra trên quãng đường dài hàng bảy giờ đồng hồ nằm ngoài tầm với. Thấy ngồi ngó đếm từng cột cây số qua cũng tẻ nhạt, thằng con rải tin nhắn ra đầy xe, than chưa chi anh đã nhớ em rồi cho con bồ ruột, ra vẻ quan tâm nhỏ ơi dậy chưa ăn sáng chưa cho con bồ sơ cua, hỏi thằng bạn thân hồi đại học đã về cồn Tre nuôi cá bè, hỏi ê ngoắc tao không, đi ngang nhà nè. Đứa kia kêu ghé tắm sông đi, mùa này nước trong con gái trong thị xã ra cồn tắm đông lắm.
Khi thằng con chuồi xuống vệ đường như con lươn khẽ uốn người trườn đi êm ái, nó nghĩ chụp cái ảnh cũng đâu có lâu lắc gì, tối đa là hai mươi phút, kể cả xảy ra vài trục trặc một trong ba người và con chó nhắm mắt, hoặc ai đó không cười, hoặc ai đó lơ đãng ngó đi chỗ khác. Rốt cuộc màn trập máy ảnh vẫn mở và đóng xạch, lưu giữ mãi khoảnh khắc cả nhà ở bên nhau. Rốt cuộc cũng có bằng chứng thuyết phục họ là một gia đình.
Rốt cuộc thì thằng con cũng về dù nấn ná ở bãi sông có đông con gái mặc nguyên quần dài áo dài xuống tắm, dù có dừng lại ít chục phút hóng hớt vụ xe tải đâm chìm ghe lúa ở dọc đường. Tấm ảnh đã được treo lên, che bớt khoảng loang ố và tróc lở, vá đỡ cái hoang vu.
Không ai cười trong đó. Má không cười vì mới gãy răng cửa. Ba không cười vì đầu gối sưng như cột đình và trặc lọi bàn chân phải. Con chó không cười vì chó không biết cười hoặc có cười cũng không giống như cười. Thằng con không cười vì mãi nghĩ sao lúc xương xẩu cha và má va lộc cộc xuống mặt đường thì ở cồn Tre tim nó không nhói lên một tiếng nào không chút linh cảm nào, hay đã có mà nó mê chơi không nhận ra? Sao không ai nói nó nghe về cú té nhào của hai ông bà già trong lúc quay đầu xe ở chợ?
Hôm ấy cha vẫn thầm thì trong điện thoại khi thằng con gọi về nói đã ghé dọc đường chơi rồi.
Ừ chơi vui đi…
Cũng cần có thời gian cho mấy vết thương bớt sưng. Để còn chụp hình. Níu được nhau lúc nào hay lúc đó, đời đầy những rủi ro…

_____________________________________________

Cuốn thơ ‘đẹp nhất Việt Nam’

Hòa Ca

Nhà thơ tự tin tuyên bố tập thơ mới nhất của cô ‘Phim đôi - tình tự chậm’, in trên giấy bóng cứng phủ nhũ bạc, mỗi bài thơ đều có tranh minh họa của các họa sĩ tên tuổi, là ‘cuốn sách đẹp nhất Việt Nam’ hiện nay.

“Nếu có ai phát hiện ra cuốn sách này chỉ đẹp nhì Việt Nam thôi, còn một cuốn khác còn đẹp hơn nữa, thì xin thông báo cho tôi để tôi và êkíp thực hiện biết mà học hỏi”, nhà thơ 31 tuổi nói trong buổi họp báo giới thiệu tập thơ chiều 5/1 ở quán café Puku, Tống Duy Tân, Hà Nội.
Sau 2 năm kể từ ViLi in love, Vi Thùy Linh tái xuất làng thơ với Phim đôi - tình tự chậm với lời khẳng định chắc nịch: đây sẽ là tập thơ “tự do bay nhảy” cuối cùng của cô trước khi lấy chồng.
Cuốn thơ in bìa cứng với ý tưởng làm một cuốn phim bằng thơ. Theo tác giả, có thể coi Phim đôi - tình tự chậm là “cuốn phim thơ - giai phẩm hội tụ các họa sĩ, dịch giả, nhà văn, nhà thơ, đạo diễn, nhà nhiếp ảnh, mà tên tuổi của họ là niềm hãnh diện cho chủ đích liên tài của tác giả”.
Mỗi bài thơ trong tác phẩm đều có tranh minh họa, do 8 họa sĩ đảm nhận, gồm Lê Thiết Cương, Nguyễn Thị Hiền, Trịnh Thành Chương, Đào Hải Phong, Đào Anh Khánh, Đinh Quân, Lương Xuân Đoàn, Đỗ Dũng. Phần nhũ màu bạc trên bìa sách và các bức tranh minh họa thực chất là những tấm vàng được tán ra và khắc lên những bản gỗ theo phương thức thủ công rất tỉ mẩn.
Vi Thùy Linh thẳng thắn tiết lộ, cô chỉ đủ sức đầu tư 200 triệu đồng in 1.000 cuốn Phim đôi - tình tự chậm, mặc dù rất ghét con số này nhưng đành chấp nhận. Cuốn sách dày 90 trang, có giá bìa 300.000 đồng.
Tập thơ có 39 bài thơ, trong đó có 10 bài đăng lại của hai tập Khát (1999) và Linh (2000), trong đó có Người dệt tầm gai, Tiếc nuối, Nữ tu... Còn lại là các bài thơ mới sáng tác năm 2010.
Nhà thơ tự nhận xét, bên cạnh sự đầu tư được nhấn mạnh về kinh phí và hình thức, đây cũng là tập thơ đánh dấu “sự thay đổi quan trọng về mặt thi pháp” của cô. Vi Thùy Linh chú trọng thủ pháp điệp và tính văn xuôi. Tương tự cách viết kịch bản phim của các nhà biên kịch, trong tập thơ này, cô sử dụng ít tính từ, tập trung dùng động từ và danh từ để “giải quyết” các cảm xúc. Cuốn sách thuần cảm xúc và chứa đựng nhiều sự sắp đặt. Vẫn là những bài thơ tình sở trường, nhà thơ hy vọng độc giả có thể “yêu kiểu ViLi” khi bắt đầu xem cuốn phim Phim đôi - tình tự chậm.
Vi Thùy Linh tự phản biện: “Sẽ có người hỏi: thế tôi làm thơ không đủ sức hấp dẫn hay sao mà phải dựa vào những người nổi tiếng khác, hay là để đánh bóng tên tuổi tập thơ của mình?”. Cũng chính cô phản bác ý kiến này: “Vi Thùy Linh không bao giờ dựa vào ai hết”. Cô nói, mặc dù chưa phải “cây đa cây đề” của làng văn, ít nhất cô cũng đã khẳng định được tên tuổi qua 4 tập thơ trước.
Nhà thơ nhiều lần khẳng định, đây là tập thơ “quan trọng nhất” trong sự nghiệp của cô từ trước đến nay. “Cuốn sách nặng 620 gram, tôi đã cân thử. Tôi hy vọng sau khi đọc thì độc giả sẽ cảm thấy đó là cuốn sách thực sự nặng ký, cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng”.
Nhà thơ dự tính, đầu tư công phu cho cuốn sách này cũng có một ưu điểm dễ thấy là sách sẽ khó có thể bị in lậu. Và theo anh Ngô Nhật Hoàng, giám đốc sản xuất tập thơ, nếu có người bỏ công in lậu, có lẽ người đó còn yêu thơ Vi Thùy Linh gấp mấy chục lần so với những nghệ sĩ cộng tác cùng cô.
17h30 ngày 10/1, Vi Thùy Linh sẽ tổ chức buổi ra mắt tập thơ kết hợp trình diễn đương đại và triển lãm các bức tranh minh họa tại Không gian Sáng tạo Trung Nguyên, 36 Điện Biên Phủ, Hà Nội.
Theo họa sĩ Lê Thiết Cương, Giám đốc hình ảnh của tập thơ, anh đã vẽ minh họa cho nhiều cuốn sách, nhưng đây là lần đầu tiên bộ tranh minh họa cho một cuốn thơ được tập hợp lại và triển lãm như một bộ tranh độc lập. Các bức tranh gốc đều được vẽ bằng mực tàu, chỉ có hai màu đen trắng để tiện cho việc khắc nhũ lên sách.

_____________________________________________

Từ địa phương miền Trung trong thơ Tố Hữu

XUÂN NGUYÊN

Hơn ở đâu hết, thơ mang rất rõ dấu ấn của người làm ra nó. Dấu ấn đó có thể là do kinh nghiệm sống, do lối suy nghĩ… đưa lại. Đứng về mặt nghệ thuật mà nói, dấu ấn trong thơ có thể được tạo nên bởi lối diễn đạt, bởi mức độ vận dụng các truyền thống nghệ thuật của thơ ca.

Thơ Tố Hữu biểu hiện rất rõ con người của nhà thơ. Cái đó do nhiều nhân tố tổng hợp lại. Ở đây, tôi chỉ đi vào một khía cạnh nhỏ, thử tìm hiểu: Tố Hữu đã vận dụng các từ địa phương miền Trung vào thơ như thế nào. Từ địa phương, như chúng ta đều biết, là những từ không nằm trong vốn từ vựng của dân tộc. Những từ này chỉ lưu hành trong một phạm vi hạn chế, tác dụng thông báo (đứng về mặt từ vựng học mà xét) cũng không lớn lắm. Nó thường được vận dụng trong ngôn ngữ văn học để tăng thêm tính cụ thể cho nhân vật, sắc thái biểu đạt của tình cảm. Và cũng chỉ trong ngữ cảnh ấy, từ địa phương mới có thể hiểu được đối với mọi người.

Tố Hữu ngay từ đầu đã rất có ý thức trong việc vận dụng từ địa phương vào trong thơ của mình. Có phải vì anh là người con của dải đất miền Trung còn lưu giữ nhiều vốn từ địa phương đậm nét quê hương hay là do một hướng suy nghĩ, muốn thơ gần hơn với mọi người? Chắc là cả hai. Điều đáng chú ý là trong bốn tập thơ của Tố Hữu, số lượng bài có sử dụng từ địa phương thay đổi rất khác nhau. Ở tập thơ đầu tay “Từ ấy” con số đó là mười bốn. Đến “Việt Bắc” hầu như không có; “Gió lộng” chỉ có một. Ở “Ra trận”: ba bài. Còn trong “Máu và hoa” là hai. Chủ yếu đó là những bài viết về miền quê của tác giả hoặc nói về những tình cảm của con người quê hương, nên những từ địa phương trong đó thêm sức biểu hiện cho thơ. Một điều đáng chú ý nữa là: từ địa phương thường được Tố Hữu sử dụng trong các bài thơ nói lên những cảnh ngộ, những tâm trạng cụ thể có ý nghĩa điển hình. Như vậy chúng ta thấy trong thơ Tố Hữu, từ địa phương không phải là một thứ đồ trang sức để làm ra vẻ khác lạ, khó hiểu mà là để phục vụ cho một ý đồ nghệ thuật. Chung quy lại, cũng là để phục vụ cho chủ đề tư tưởng của bài thơ.

Vậy thì, từ địa phương trong thơ Tố Hữu đã có tác dụng gì?

Thường trong một bài thơ, Tố Hữu sử dụng vài ba từ địa phương để vừa tạo nhạc điệu cho câu thơ, vừa tăng thêm sắc thái tình cảm. Hai mặt này ta bắt gặp rất rõ trong cặp từ “mô-vô”. Đây là cặp từ mang tính chất địa phương được Tố Hữu sử dụng nhiều nhất, cũng là cặp từ có giá trị dễ thừa nhận nhất. Tôi xin dẫn một số thí dụ. Trong bài “Tiếng hát sông Hương” Tố Hữu làm lời cô gái than khóc:

Em đi với chiếc thuyền không
Khi mô vô bến rời dòng dâm ô
Trời ôi em biết khi mô
Thân em hết nhục dày vò năm canh.

Với sự bắt vần của (mô-vô-ô), câu thơ diễn tả được nỗi lòng u buồn của cô gái muốn làm lại cuộc đời. Còn gì là tình cảm, là thơ nữa nếu bằng phép liên tưởng trong ngôn ngữ học, ta thấy cặp “mô-vô” bằng cặp “nào-vào”.

Khi nào vào bến rời dòng dâm ô.

Không những nhạc điệu câu thơ bị phá vỡ (sự liên tục của hai nguyên âm o, ô trong các từ mô - vô - ô, mô-vô bị cắt xẻ) mà ý nghĩa cũng bị đổi khác.

Ở một bài khác - “Hoa tím”, Tố Hữu lại viết:

Bữa mô mời bạn vô chơi Huế

Thay đổi cặp từ “mô-vô” bằng bất cứ một cặp từ nào khác cũng sẽ làm giảm giá trị của bài thơ rất đậm đà tình nghĩa này. Cả bài thơ bốn câu: vừa cô đọng nỗi nhớ thương quê hương da diết, vừa mặn nồng lời mời bạn vào quê chơi, tình cảm thật sâu nặng. Cũng như vậy, trong “Nước non ngàn dặm” khi nói về tình cảm hai miền mong chờ ngày thống nhất, nhà thơ lại dùng đến cặp từ này:

Cách ngăn mười tám năm trường
Khi mô mới được nối đường vô ra?

Giá trị của từ địa phương ở đây nghiêng về phía biểu đạt sắc thái tình cảm.

Có khi, từ địa phương lại được dùng để nhấn mạnh, để diễn đạt đúng điều mà nhà thơ muốn nói. Tựa hồ như trong những trường hợp ấy, từ địa phương chiếm ưu thế tuyệt đối so với từ phổ thông toàn dân tộc. Nếu máy móc, đơn thuần thay thế từ địa phương ấy bằng một từ nào khác đó, thì vô tình đã làm thay đổi ý nghĩa của cả câu thơ. Ví như những câu này:

Tôi chất cả vào rương còn lưng lẻo
(Hy vọng)

Không thể nữa lơi chèo hay quay lái
(Giờ quyết định)

Choa đói choa rét, bay thù gì choa
(Tiếng hát trên đê)

Vẫn dựa trên phép liên tưởng của ngôn ngữ học ta thử đưa từ “lỏng” hoặc “vơi” vào vị trí của từ “lưng”. “Lưng” đây nếu là trong “lưng vốn” thì nó hoàn toàn có thể bị thay thế bởi từ “vơi” - cùng là chỉ một cái gì lúc đầu đầy đủ, về sau bị bớt đi. Nghĩa của “lưng” ở đây lại khác. “Lỏng” không thể thay được cho “lưng” vì “lỏng” vốn chỉ một cái gì không chặt, không ổn định, xộc xệch, nghĩa ấy từ “lưng” không có. Vậy nên nếu thay thế ta sẽ có:

“Tôi chất cả vào rương còn vơi lẻo”

“Tôi chất cả vào rương còn lỏng lẻo” - mà nghĩa không còn như câu thơ đầu. “Tôi chất cả vào rương còn lưng lẻo” - ý muốn nói nhiệt tình của người thanh niên buổi đầu đến với cách mạng rất háo hức, hăng say, nhận bao nhiêu cũng chưa đủ, vẫn còn muốn nhận nữa những gì mà cách mạng đưa đến.

Cũng như vậy, ta sẽ không giữ được nguyên vẹn giá trị, ý nghĩa của câu thơ “Không thể nữa lơi chèo hay quay lái” nếu như thay “lơi” bằng “lỏng” hoặc bằng “buông”. Chỉ có thể giữ nguyên từ “lơi” mà thôi.

Đến như câu thứ ba “choa” là một đại từ chỉ ngôi thứ nhất, số nhiều, kiểu như “chúng tôi, bọn tao…”. Về mặt chức năng ngữ pháp thì giữa các từ nầy có sự giống nhau, tương đồng. Nhưng ở đây không thể thay thế “choa” bằng “chúng tôi, chúng tao…” được. Như thế nó sẽ dẫn đến tình trạng: Câu thơ bị mở rộng, phá vỡ nhịp 2/2/4 rất dồn dập, làm giảm bớt tính chất quyết liệt, mạnh mẽ mà câu thơ diễn đạt. Có thể nói, những từ địa phương này đã được sử dụng một cách đắc địa, góp phần nâng hẳn nội dung câu thơ chứ không phải là làm cho câu thơ rậm rạp và rối rắm.

Lại có lúc, từ địa phương được Tố Hữu sử dụng hình như thừa, không cần thiết. Đó là trường hợp, trong cùng một câu thơ, anh vừa dùng một từ địa phương lại vừa dùng một từ phổ thông đồng nghĩa gần như tuyệt đối với từ địa phương ấy.

Đi mô cho ngái cho xa
(Chuyện em)

“Ngái” cũng có nghĩa là “xa”. Vậy trong trường hợp này, từ địa phương được dùng có giá trị gì? Không thể nói là nhà thơ do bị ràng buộc về luật bằng trắc nên mới làm ra như thế. Theo tôi vì đây là lời một bà mẹ nói với con nên Tố Hữu muốn giữ cho tính địa phương đậm hơn, vừa cũng là để nhấn mạnh cái ý muốn nói:

Đi mô cho ngái cho xa
Ở nhà với mẹ đặng mà nuôi quân.

Tô đậm tính địa phương khi nói tới những cảnh ngộ, những tâm trạng cụ thể trong hoàn cảnh cụ thể của địa phương là một dụng ý nghệ thuật của Tố Hữu. Và nhà thơ đã thành công trong việc này. Không ai quên được dáng hình, công việc và lời kể chuyện của mẹ Suốt qua cái tài và cái tình của nhà thơ:

- Tàu bay hắn bắn sớm trưa
Thì tui cứ việc nắng mưa đưa đò
Ghé tai mẹ, hỏi tò mò:
- Cớ răng ông cũng ưng cho mẹ chèo?

Người ta đã nói tới thành công nghệ thuật của Tố Hữu trong bài thơ “Mẹ Suốt”: rất dân tộc mà không vè khi sử dụng thể thơ lục bát. Tôi có thể nói thêm: nhà thơ cũng đã thành công trong việc sử dụng từ địa phương để khắc họa hình tượng, để bộc lộ cảm xúc. Cứ thử cất đi những từ như rứa, tui, cớ răng… mà xem, bài thơ đã mất hay nhiều rồi.

Tố Hữu còn mạnh dạn trong việc dùng một số từ địa phương hầu như vô nghĩa, hoặc là những từ có sắc thái tu từ khác biệt với từ chung toàn dân tộc. Những từ đó vẫn hiểu được, vẫn có giá trị thẩm mỹ trong mối liên hệ hữu cơ với toàn bộ câu thơ. Điểm đáng nói là Tố Hữu đã vận dụng chúng rất đúng lúc, đúng chỗ; ở vào các trạng thái tình cảm khác nhau mà lại rất tự nhiên, thoải mái. Ta hãy xem từ “nờ” trong hai câu thơ sau:

Gan chi gan rứa mẹ nờ?
(Mẹ Suốt)

Chuyện em rứa đó, anh nờ?
(Chuyện em)

Từ “nờ” ở đây biểu thị tình cảm giữa hai người khác nhau về độ tuổi. Nhưng khi nhà thơ là đứa con trò chuyện với mẹ thì từ “nờ” ấy giúp cho câu thơ bộc lộ một sự cảm phục pha lẫn sự ngạc nhiên. Còn từ “nờ” trong câu thơ thứ hai lại giúp cho nhà thơ hiểu rõ hơn về tầm vóc lớn lao của đứa em - khi nhà thơ là người anh.

Trong ngôn ngữ chung toàn dân, từ “mụ” vốn từ lâu mang một sắc thái tình cảm xem thường, coi khinh. Đứng về mặt nghĩa chứa đựng trong từ mà nói, “mụ” chỉ có nghĩa là đàn bà. Nhưng về phương diện là một từ địa phương miền trung, từ “mụ” lại được dùng để chỉ người vợ với tấm lòng yêu thương, chăm sóc của người chồng. Phạm vi nghĩa của từ “mụ” địa phương chung với toàn dân tộc như đã nói trên, đã thu hẹp lắm rồi. Tố Hữu ý thức rất rõ về điều đó, đã không ngần ngại khi viết:

Coi chừng sóng lớn gió to
Màn xanh đây mụ đắp cho kín mình
(Mẹ Suốt)

Có thể nói dùng từ “mụ” ở đây là một sáng tạo của Tố Hữu. Câu thơ đắm thêm vì tình cảm của đôi vợ chồng già, lại ngời lên bởi tâm hồn tinh tế, giàu yêu thương của nhà thơ. Vô tình, khi đọc câu thơ, người đọc đã quên đi cái nghĩa chung (toàn dân) để chỉ còn giữ lại nghĩa riêng (địa phương) của từ “mụ” này.

Trên đây tôi đã thử phân tích, tìm hiểu những từ địa phương miền trung trong thơ Tố Hữu trên hai mặt: cách nhà thơ sử dụng chúng và giá trị của chúng trong câu thơ, bài thơ, có thể còn có những khía cạnh trong vấn đề này tôi chưa đề cập đến hoặc chưa đi sâu. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể đồng ý với nhau rằng: Tố Hữu đã sử dụng và sử dụng thành công từ địa phương trong các bài thơ của mình. Nhà thơ đã biết khai thác, tận dụng và tạo thêm khả năng (về mặt từ vựng và tu từ) cho từ địa phương để làm phong phú thêm nội dung cũng như sự biểu hiện trong thơ. Và phải chăng thơ Tố Hữu đã phổ cập sâu rộng trong quần chúng, một phần, cũng là do nhà thơ đã biết sử dụng từ địa phương một cách có mức độ?

X.N.
____________________________________________________

Thứ Tư, 12 tháng 1, 2011

“Tôi thán phục tiểu thuyết của Trần Dần”

TT - "Tôi hoàn toàn bất ngờ vì cuốn tiểu thuyết này. Vẫn biết sự nghiệp Trần Dần lớn và rất đa dạng, nhưng không thể ngờ ông lại hiện đại đến thế".

Nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân chia sẻ với Tuổi Trẻ như thế sau một đêm thức đọc trọn cuốn Những ngã tư và những cột đèn (Nhã Nam và NXB Hội Nhà Văn) - tiểu thuyết vừa được xuất bản của Trần Dần, 45 năm sau khi nhà văn sáng tác và 20 năm sau khi ông mất.

* Thưa ông, có thể coi đây là cuốn tiểu thuyết trinh thám của nhà - cách - tân - thơ Trần Dần được không?

- Tôi chỉ xét đơn thuần về mặt tác phẩm, đây có thể coi là một cuốn tiểu thuyết trinh thám viết rất chuyên nghiệp, rất hấp dẫn với bạn đọc bình thường. Các tuyến nhân vật được cài cắm rất lớp lang và tâm lý nhân vật, đặc biệt tâm lý tội phạm, được nghiên cứu và trình bày rất khéo, đúng kiểu tâm lý học hiện đại mà các tiểu thuyết trinh thám phương Tây vẫn hay dùng. Có thể đọc một mạch từ đầu đến cuối cuốn tiểu thuyết này vì sự hấp dẫn đó của nó.

* Ðó là chất trinh thám và chất hiện đại. Còn "chất Trần Dần" ở đâu trong cuốn tiểu thuyết này?

- Ở toàn bộ cuốn tiểu thuyết. Dù trinh thám, nó vẫn là một cuốn tiểu thuyết tâm lý với đầy đủ bản lĩnh cách tân và bút pháp siêu việt của Trần Dần. Ngay từ thời điểm ông đặt bút viết vào năm 1966, ông đã dùng kỹ thuật tự sự đa chủ thể (nhiều nhân vật cùng kể chuyện) - một kỹ thuật rất tiên tiến của văn chương thế giới cùng thời, mà chúng tôi - lúc đó đang ngồi trên ghế giảng đường đại học - chưa hề được nghe các giáo sư nhắc tới, mãi đến năm 1980 mới được biết đến qua các bản dịch tiếng Nga.
Người đọc nắm bắt câu chuyện rất thoải mái dù nó không đơn giản. Ðó là vì nhà văn luôn chuyển vai kể vào thời điểm chính xác và bằng ngôn ngữ nhân vật rất đặc trưng cho từng cá tính. Có những khi nhà văn sử dụng ngôn ngữ điêu luyện đến độ tôi chỉ có thể thán phục một cách sung sướng vì được thưởng thức kỹ thuật của một bậc thầy: đó là đoạn Dưỡng đến nhà mẹ xin đón vợ về sau khi bị cô vợ giận dỗi bỏ đi. Bà mẹ cứ chửi sa sả, vừa nghiệt vừa chứa chan yêu thương; còn thằng con trời đánh cứ tưng tửng chửi phụ với mẹ, mà nó tự chửi nó, cứ như là một ai đó đang nói về một thằng nào khác nữa, chứ không phải vẫn thằng con trai ấy đang nói về chính nó. Ngôn ngữ ở đây ra hết chất của "cao bồi thành thị" mà nhà văn Việt Nam ta ít có người am hiểu và viết kỹ như Trần Dần.

* Ông còn nhận ra nhiều dấu ấn của nhà thơ Trần Dần mà mình ngưỡng mộ trong cuốn tiểu thuyết trinh thám này nữa không?

- Nhiều lắm. Trong tất cả những pha trữ tình ngoại đề, những trường đoạn miêu tả tâm lý nhân vật. Những trang đằng đẵng không xuống dòng. Những triết lý về cuộc đời, về tình yêu, về chiến tranh, về thân phận con người. Có quá nhiều câu văn được dụng công và đẽo tạc đẹp như thơ mà tôi muốn trích dẫn, nhưng không thể, vì dẫn câu nọ thì không công bằng với câu kia.
Nhưng "Trần Dần" nhất, "thơ" nhất vẫn là khi ông đặc tả sự phân thân của nhân vật xưng tôi nhiều nhất trong tiểu thuyết: Dưỡng xưng tôi trong nhật ký để thuật lại sự giằng xé giữa trí tuệ của "Sọ" với tình cảm của "Bóng" trong con người anh ta. Kỹ thuật tự sự đa chủ thể của Trần Dần 45 năm trước đã "cao thủ" đến độ ông điều khiển cả một dàn nhân vật đầy cá tính không ai lẫn vào ai, và đạo diễn cuộc phân thân cam go của Tôi, Sọ và Bóng một cách ngoạn mục đến độ người đọc không nhận thấy mình đang bị dẫn. Người đọc vẫn cứ nghĩ mình đang trôi trên màn sương mờ ảo của thế giới ngôn ngữ đầy những hình tượng thơ của Trần Dần. Tôi thích cả cái tên Những ngã tư và những cột đèn. Nó đầy tính biểu tượng.

* Với tư cách một nhà nghiên cứu lịch sử văn học, ông có tin Những ngã tư và những cột đèn sẽ được đánh giá cao trong văn học VN hiện đại?

- Tôi tin điều đó, vì tầm vóc tư tưởng, những cách tân nghệ thuật và kỹ thuật ngôn ngữ đi trước thời đại rất xa của Trần Dần thể hiện trong tất cả những sáng tác của ông.

THU HÀ thực hiện

[Cuốn tiểu thuyết kể câu chuyện một đoạn đời ngắn nhưng rất nhiều bước ngoặt, nhiều cạm bẫy, hiểm nguy, lầm lỡ, trăn trở, vật vã của một chàng trai thuộc loại “tay chơi Hà thành” trong những ngày Hà Nội chộn rộn trước, trong và sau khi quân ta về tiếp quản thủ đô. Dưỡng - cậu công tử Hà thành mê trinh thám - do hoàn cảnh xô đẩy đã bị buộc trở thành ngụy binh chỉ ít ngày trước giải phóng. Cách mạng về, anh chàng hoang mang, sợ bị bắt. Cùng lúc đó, một vài tên gián điệp được Pháp cài lại ở miền Bắc đã khủng bố tinh thần Dưỡng và các bạn, rồi tìm cách thủ tiêu họ để bịt đầu mối về danh sách điệp viên được cài cắm ở miền Bắc trước khi xuống tàu vào Nam.
Xã hội, con người miền Bắc, nhất là Hà Nội những năm 1954-1960 được khắc họa rất sống động, rõ nét và đầy bản sắc Trần Dần trong cuốn tiểu thuyết mang hình thức trinh thám này.]

TH.H.
__________________________________

Giải thưởng Văn học 2010: "Dị hương" đoạt “điểm tuyệt đối”

Huy Thông

(TT&VH) - Với kết quả 9/9 phiếu (tuyệt đối), Dị hương, tập truyện ngắn của nhà văn Sương Nguyệt Minh đã được xướng tên đầu tiên trong buổi công bố kết quả Giải thưởng Văn học 2010 của Hội Nhà văn Việt Nam (diễn ra ngày 10/1 tại Hà Nội).

1. Dị hương là tập truyện ngắn thứ 6 của nhà văn Sương Nguyệt Minh (sau Đêm làng Trọng Nhân, Người ở bến sông Châu, Đi qua đồng chiều, Mười ba bến nước, Chợ tình). Gồm 9 truyện ngắn: Đêm thánh vô cùng, Đàn bà, Mùa trâu ăn sương, Đêm mùa Hạ tuyết rơi, Bên dòng Tonle Sap, Đồi con gái, Cha tôi, Cái nón mê thủng chóp và Dị hương; tác giả tự nhận đó là một bước ngoặt trong đổi mới bút pháp nghệ thuật của mình, “là một sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hiện thực, lãng mạn và huyền ảo”.
Tập truyện ngắn đề cập đến nhiều vấn đề xã hội như: Nỗi cô đơn của con người hiện đại, khủng khiếp nhất là cô đơn bên vợ con ở ngay chính trong căn nhà của mình (Đêm thánh vô cùng). Đó là chuyện người lính già suốt đời trận mạc trở về cuộc sống đời thường bơ vơ, không hòa nhập với lối sống hiện đại, quay cuồng, hưởng thụ sống nhanh mạnh, gấp gáp của vợ con (Cha tôi). Đó còn là tình yêu vừa lãng mạn, vừa thực dụng, si mê, đắm say và xót xa, giật mình khi cái quý báu, thiêng liêng với người này thì lại không đáng giá nửa đồng kẽm, chỉ đáng “chổi cùn rế rách” của người kia. Trao gửi tình yêu, tình cảm hay kỷ vật không đúng người thì cũng chẳng khác gì đem vòng ngọc đính kim cương tặng người dân da đỏ chỉ thích đeo dây rừng ở cổ tay (Đêm mùa Hạ tuyết rơi)...
Đặc biệt, câu chuyện về anh hùng và mỹ nhân, bao lực và cái đẹp, chiến tranh và hòa bình là những vấn đề đặt ra riết róng trong truyện ngắn Dị hương. Bi kịch của con người ở chỗ: nhiều khi cái đẹp bất lực và bị đè bẹp trước bạo tàn.

2. Nhà văn Sương Nguyệt Minh “khoe”: “Dị hương in năm 2009 khác biệt với những ấn phẩm văn chương tả thực khác ở chỗ bút pháp huyền ảo luôn trộn lẫn với hiện thực và được cộng hưởng lãng mạn đã làm nên sinh động, phung phú, cuốn hút. Yếu tố tính dục trong tập truyện ngắn Dị hươngdày đặc, nhưng không trần trụi, tự nhiên chủ nghĩa mà là các chi tiết nghệ thuật phục vụ ý đồ tư tưởng tác phẩm, được viết bằng sự tinh tế, gợi cảm, đẹp và sang trọng”.
Thường là, trong 1 tập truyện ngắn thì có cái hay, cái khá, lại có cái trung bình, thậm chí là yếu. Nhưng, chất lượng các truyện ngắn trong tập Dị hương được đánh giá là rất đều. Có lẽ vì lý do đó mà Dị hương đoạt 9/9 phiếu chăng?

Kết quả Giải thưởng Văn học 2010 của Hội Nhà văn Việt Nam

- Dị hương của nhà văn Sương Nguyệt Minh
- Tập truyện ngắn (dành cho thiếu nhi): Chiếc vé vào cổng thiên đường xanh của Quế Hương
- Tiểu thuyết dịch: Triệu phú ổ chuột của dịch giả Nguyễn Bích Lan.
Tại phiên họp sáng 10/1/2011 BCH cũng quyết nghị tặng bằng khen cho 3 tác giả có tác phẩm tốt trong năm gồm: Thế giới xô lệch, tiểu thuyết của Bích Ngân; Tháng giêng tháng giêng, một vùng dao quắm, tập tản văn của Y Phương; Quà của Chúa, tiểu thuyết của dịch giả Lê Bá Thự.
Lễ trao giải thưởng văn học năm 2010 sẽ được tổ chức trước Tết Nguyên đán Tân Mão 2011.

________________________________________

Thi sĩ Nguyễn Bính…và số 4 kỳ lạ

Lưu Kường

Cuộc đời nhà thơ Nguyễn Bính hoà quyện một cách lạ lùng với rất nhiều huyền thoại. Mỗi sự cố xảy ra trong đời ông đều rất khác thường, kể cả chuyện vui lẫn chuyện buồn. Do đó chỉ nghe kể lại nguyên bản, không cần thêm bớt, mọi câu chuyện về ông cũng đã rất sinh động, với nhiều sắc màu lý thú, đôi khi còn nhuốm màu tâm linh.
Kể cả đến cái chết của mình, ông cũng dự báo được và coi nhẹ tựa lông hồng. Cuộc đời ông vẫn còn hàm chứa nhiều điều bí ẩn, hấp dẫn mọi người cho đến nay. Trong đó những chuyện quan trọng nhất trong đời sống của ông đều gắn với con số 4.

4 bà vợ

Người vợ đầu tiên, lại là kết quả của một sự cưỡng lại số phận đa sầu đa cảm của nhà thơ Nguyễn Bính, khi ông đang là cán bộ của Hội Văn nghệ kháng chiến Nam Bộ. Bởi lẽ, khoảng những năm đầu của thập kỷ 50, vùng kháng chiến gặp rất nhiều khó khăn; Nguyễn Bính bị sốt rét, thiếu ăn thiếu thuốc và có biểu hiện sa sút tinh thần. Trong khi đó kẻ địch lại ra sức dụ dỗ anh em văn nghệ sĩ đang tham gia kháng chiến bỏ về với các chiêu thức xảo quyệt.
Với nhà thơ Nguyễn Bính, chúng còn treo giải thưởng, nếu ông đầu hàng thì sẽ được thưởng 1.000 đồng. Đó là một số tiền rất lớn. Vậy để giữ chân nhà thơ, tổ chức đã sắp xếp cho ông lấy bà Nguyễn Hồng Châu, một cán bộ cách mạng, có trình độ học vấn nhất định. Lẽ dĩ nhiên, ban đầu hai người còn lắm do dự, nhưng rồi cũng thuận theo cấp trên, đồng ý làm hôn lễ được tổ chức vào năm 1951.
Tuy nhiên hai người chấp hành "nhiệm vụ" cũng chỉ được một thời gian ngắn, vì không có tình yêu, mặc dù đã có một con chung, tên là Nguyễn Bính Hồng Cầu. Thực ra mọi người quá lo, vì nhà thơ chẳng bao giờ có ý nghĩ đầu hàng kẻ địch, mà lại là người hoạt động rất tốt và sáng tác đều đặn rất chất lượng, trong đó có lời cho bài hát "Tiểu đoàn 307" nổi tiếng.
Nhà thơ chỉ "thay lòng đổi dạ" khi đi sáng tác tại Cà Mau, vì đã tơ tưởng cô Mai Thị Mới, 19 tuổi, ở ấp Hương Mai, xã Khánh Lâm, huyện U Minh. Tình yêu hai người nảy nở, ngày một mặn mà, quấn quýt. Rồi nhà thơ Nguyễn Bính xin cưới cô Mới, sau khi đã có giấy ly hôn với bà Hồng Châu, vào năm 1952. Đó là câu chuyện "Hai năm đôi" của nhà thơ tài hoa và lãng tử.
Mãi tới đầu năm 1954, bà Mai Thị Mới sinh con gái, đặt tên là Hương Mai. Nhà thơ rất yêu thương, chu đáo với vợ con và bạn bè. Nhưng niềm vui chưa được bao lâu, khi Hương Mai mới bảy tháng tuổi, ông được tập kết ra Bắc. Thời gian sau đó, lời hẹn ngày gặp mặt chẳng thành hiện thực, khi đất nước bị chia cắt thành hai miền Nam - Bắc.
Do hoàn cảnh xa xôi cách trở, tin tức vợ con bặt vô âm tín, Nguyễn Bính đã có quan hệ thắm thiết với một nữ thư ký báo Trăm Hoa, nơi ông làm chủ bút, hồi 1956, tại Hà Nội. Hai người ăn ở như vợ chồng với đúng nghĩa khi sinh hạ được một con trai. Người vợ thứ ba này tên là Phạm Vân Thanh.
Nhưng thật buồn, mọi chuyện đối với Nguyễn Bính chẳng khi nào suôn sẻ, bởi đến năm 1957, báo Trăm Hoa lỗ vốn nặng, tự giải thể. Chưa hết, đồng thời không hiểu vì lý do gì, bà Thanh đã trả lại con cho Nguyễn Bính rồi tìm một nơi nương tựa mới.
Mọi chuyện đều lỡ dở, năm 1958, nhà thơ trở về Nam Định làm việc tại Ty Văn hoá Thông tin, rồi sau ít năm lấy vợ quê, coi như an phận. Người vợ thứ tư của Nguyễn Bính là bà Trần Thị Lai, rất hiền hậu nết na, được mọi người trong cơ quan và bạn bè chồng quý mến. Năm 1965, giặc Mỹ leo thang ra miền Bắc ác liệt, Nguyễn Bính theo cơ quan đi sơ tán, ở huyện Lý Nhân, Hà Nam.
Thật trớ trêu, chỉ tết năm sau, nhà thơ đã bị mất trong cơn bạo bệnh, đúng lúc vợ ông đang ở cữ sinh hạ cho ông một con trai, đặt tên là Nguyễn Mạnh Hùng.

4 người con

Khi nhà thơ Nguyễn Bính tập kết ra Bắc, cô bé Nguyễn Bính Hồng Cầu, mới lên hai, nhưng sau này đã nối nghiệp cha; có tài làm thơ và đã trở thành Phó giám đốc NXB Văn Nghệ TP.HCM, về hưu năm 2007. Cũng thời điểm này bà còn được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam.
Trong khi đó, cô bé Hương Mai, con bà vợ hai của nhà thơ lại trưởng thành theo một hướng khác hẳn. Cho dù đã từng được nghe tiếng ru của người cha thân yêu, nhưng sau này Hương Mai lại trở thành một nhà giáo giỏi. Với ý thức quý trọng người cha, Hương Mai đã phấn đấu, học tập không ngừng, đã từng làm Phó giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo, rồi Trưởng ban Văn hoá - Xã hội, HĐND tỉnh Bến Tre. Năm 2009, bà về hưu.
Khác hẳn với hai người con gái của nhà thơ khá thành đạt trên con đường công danh, thì hai người con trai của ông lại phiêu bạt không có mấy tin tức hồi âm. Đặc biệt người con trai của nhà thơ với bà vợ thứ ba, có tên là Hiền, lại bị chính nhà thơ làm thất lạc trong cơn say rượu, ở ngay ngã năm Bà Triệu, Hà Nội, năm 1957. Coi như người con trai này mất tích cho đến nay.
Còn anh Nguyễn Mạnh Hùng, người con trai út của nhà thơ với bà vợ thứ tư nhiều năm tháng sống và làm việc tại quê hương. Theo bia khắc đá tại Từ đường của nhà thơ, ghi lại rằng, khi đưa mộ Nguyễn Bính về tại chính vườn nhà, năm 1995, đều có mặt hai mẹ con anh chứng kiến cùng bà con họ nội. Mới đây, theo như ông Tài, em họ nhà thơ, người trông coi Từ đường và Nhà Lưu niệm Nguyễn Bính cho hay, hiện anh Nguyễn Mạnh Hùng, tính đến nay áng chừng 45 tuổi, đang làm ăn ở CLB Nga, lâu không thấy về.

4 lần di chuyển mộ

Đây cũng là một sự lạ đối với nhà thơ lừng danh chân quê. Ngay trong Từ đường của gia đình Nguyễn Bính, có treo một bài thơ dài của Nguyễn Thế Vinh, viết về chuyện này, trong đó có câu:

"Một lần chết - bốn lần đưa
Tóc tang mấy độ cho vừa văn nhân…".

Quả đúng vậy, nhà thơ mất đúng vào ngày Tết, năm 1966, lại đúng vào thời kỳ chiến tranh, nhiều người về quê hay đi sơ tán, nên đám tang ông cũng không có mấy ai. Người ta tạm chôn cất ông tại nghĩa trang Cầu Họ, cây số 13, đường 10, ngoại thành Nam Định.
Sau này hợp nhất ba tỉnh thành Hà Nam Ninh, mộ Nguyễn Bính được chuyển về nghĩa trang Tam Điệp, Ninh Bình. Mọi chuyện tưởng thế là mồ yên sau cuộc di chuyển mộ lần thứ hai. Nhưng vì quá xa xôi, việc thăm nom, chăm sóc mộ chí ngày giỗ tết hết sức khó khăn, nên gia đình kiến nghị di chuyển hài cốt nhà thơ Nguyễn Bính về quê, đặt tại cánh đồng Mả Quan, cạnh mộ ông nội.
Đó là lần thứ ba nhưng đâu đã ổn. Bởi lẽ không hiểu xuất phát từ đâu và vì lẽ gì, mà gia đình ông lại xin chính quyền địa phương cho di mộ nhà thơ về ngay chính trên vườn nhà, nơi ông được sinh thành. Thêm một sự lạ, bởi lẽ đây là một ngôi mộ danh nhân, có một không hai, được chôn cất ngay tại giữa làng. Từ xưa chẳng bao giờ và nơi nào có tiền lệ như vậy.
Đúng là "quá tam" đã thành bốn lần, ngôi mộ nhà thơ Nguyễn Bính mới được bình yên. Đúng là:

Long đong kiếp sống đã đành
Gian nan cả lúc đã thành người xưa
(Nguyễn Thế Vinh)

Nhưng, chính vì ngôi mộ của nhà thơ nằm ngay tại vườn nhà chăng, mà hiện không có ai sinh sống, trông nom ngôi Từ đường và Nhà Lưu niệm của nhà thơ. Ngay bà Nguyễn Thị Yến, em ruột nhà thơ, là người có công lớn xây dựng ngôi nhà này, cũng chỉ ở một thời gian rồi ra Hà Nội làm ăn.

4 nơi lưu giữ kỷ vật

Ngay bên cạnh mộ, là ngôi Từ đường và Nhà Lưu niệm của nhà thơ Nguyễn Bính. Nhưng thực ra nơi này chỉ có tủ sách nhỏ, lèo tèo độ mươi tài liệu, và cũng chẳng quý giá gì. Bên cạnh đó, bàn thờ Nguyễn Bính còn sơ sài. Chỉ có hai thứ có thể coi là kỷ vật: Một, phía trên bàn thờ là giấy chứng nhận "Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật", do Nhà nước truy tặng ông năm 2000.
Hai, chiếc điếu cày, mà nhà thơ thường dùng. Nhưng riêng chiếc điếu cày lại có vẻ còn mới nhưng đã nứt, cùng với guốc điếu lại quá sạch, tạo nên sự nghi ngại về sự thật của nó? Với số tài liệu ít ỏi đó không thể coi đây là một Nhà Lưu niệm với đúng nghĩa của nó, đối với nhà thơ được cả nước yêu mến như vậy. Hiện ngôi Từ đường và Nhà Lưu niệm này phải nhờ người em họ ở gần đó trông nom giúp, mỗi khi có người đến thăm viếng thì mới đến mở cửa cho vào, đã tạo nên sự hoang lạnh, tiêu điều.
Những cái thiếu hụt trên về Nhà lưu niệm Nguyễn Bính, phần nào được khắc phục ở địa chỉ thứ hai; đó là ngôi nhà số 23, đường 11, phường 11, quận Gò Vấp, TP HCM, do nhà thơ Nguyễn Bính Hồng Cầu, con gái đầu của nhà thơ Nguyễn Bính gây dựng nên.
Diện tích của phòng trưng bày chỉ khoảng 30 m2, nhưng với cách bài trí đẹp và tận dụng nhiều diện tích, nên bà Hồng Cầu đã lưu giữ được hàng trăm tài liệu, bút tích của người cha, cùng với những kỷ niệm của bạn bè, đồng nghiệp với nhà thơ. Đồng thời đây cũng là một địa chỉ sinh hoạt của các nhà văn, nhà thơ và bạn bè yêu quý thơ Nguyễn Bính.
Còn thêm nữa, Nhà Lưu niệm thứ ba về nhà thơ mới hình thành của Trường THPT Nguyễn Bính, huyện Vụ Bản, ở khá gần làng Thiện Vịnh, quê nhà thơ. Nhà Lưu niệm này được sự góp sức ban đầu của nhà thơ Gia Dũng, với 800 trang bản thảo, kết quả sau bao năm ông nghiên cứu và sưu tầm về Nguyễn Bính. Cùng với tác giả Gia Dũng, còn có các ông Đặng Khánh Cường, họa sĩ Anh Vũ và CLB "Chân quê thi hội" ở Hải Phòng…Xem ra với căn phòng rộng tới 60 m2 của nhà trường cũng sẽ là một địa chỉ văn hoá rất phong phú về nhà thơ Nguyễn Bính.
Và, cuối cùng vẫn còn một nơi lưu giữ kỷ vật của Nguyễn Bính nữa, đó là Bảo tàng Văn học của Hội Nhà văn Việt Nam. Tại địa chỉ thứ tư này, gần đây xin được chiếc bàn gỗ mà nhà thơ đã sáng tác những bài thơ vận động kháng chiến tại xã Mỹ Hoà, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Bên cạnh đó, Bảo tàng còn sưu tầm được những di bút cùng chiếc lư hương và cây bút lông của nhà thơ hay sử dụng ngày nào…
Như vậy, hiện có tới 4 nơi lưu giữ tài liệu và kỷ vật về nhà thơ, xem ra quá tản mạn, mà mỗi nơi đều không đầy đủ. Thậm chí rất có thể có những sự không nhất quán về những thông tin, tài liệu và kỷ vật này. Nên chăng, Bảo tàng Văn học cần đứng ra làm công việc kiểm chứng, đánh giá chúng, lập hồ sơ cho mỗi kỷ vật và định hình cho mỗi địa chỉ lưu giữ trên, theo một tiêu chí nào đó. Bởi lẽ nếu đúng là Nhà Lưu niệm thì chỉ thuộc về chính nơi ông được sinh ra và lớn lên: làng Thiện Vịnh, xã Cộng Hoà, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, mà thôi.

_________________________________________________

Thứ Hai, 10 tháng 1, 2011

Hành trình xoá bỏ ẩn dụ* như một lối tìm đến ngôn ngữ thi ca mở (tiếp theo)

KHÁNH PHƯƠNG


TỪ HIỆN TƯỢNG HOÀNG CẦM

Hoàng Cầm là giọng thơ độc đáo vào bậc nhất của thi đàn Việt Nam từ những năm 1950 - 1960 cho đến hết thời kỳ Đổi mới*. Tiếp nối tinh thần cách tân sáng tạo và những tìm tòi văn chương theo khuynh hướng hướng nội siêu hình khởi đầu của thơ ca Tiền chiến, thế hệ “ngược dòng” Hoàng Cầm, Trần Dần, Quang Dũng, Hữu Loan, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Văn Cao… đã làm nên mùa rạng rỡ cho thi ca miền Bắc mà âm vang của nó còn kéo dài cho tới tận những năm hậu - Đổi mới, bất kể những oan khốc, đối nghịch, dập vùi.

Không hề chối bỏ dòng chảy bi thương, ai vãn của ca dao, Quan họ, chiếng chèo đồng quê Bắc bộ mà hồn hậu đứng trong nó như một thứ gia phả tinh thần, Hoàng Cầm đồng thời đã khơi trong thơ một mạch hùng tráng, cao cả, của nỗi khát khao trời rộng bể khơi mà cho đến hết thời kỳ Tiền chiến, thơ Việt chưa bao giờ có được sự biểu đạt trọn vẹn. Cái tráng tâm, cao cả trong thơ Hoàng Cầm không giống như “mối sầu vũ trụ” bàng bạc mà người ta dễ dàng gán cho một số nhà Thơ Mới**. Ông dám đem lòng mình trang trải nợ vô biên, đem cái nghịch biến trớ trêu của vũ trụ cao xanh hoá giải những đau thương, uất khí của sinh linh hữu hạn. Không hùng tráng, uy nghi, cao cả, không khát khao vô tận, thì cũng đâu còn là phút thăng hoa của một giống nòi nhỏ bé phải chịu cảnh giam cầm.

*

Về Kinh Bắc (1959 - 1960) là tập thơ quan trọng, bộc lộ toàn bộ cấu trúc nghệ thuật cũng như những nền tảng tư tưởng của thơ Hoàng Cầm***. Tuy nhiên, nếu xem xét hầu hết những tập thơ và kịch thơ mà ông trực tiếp khai triển, bố cục nội dung, hình thức, như Lá Diêu bông, kịch thơ Kiều Loan, Trương Chi, truyện thơ Men Đá vàng, sẽ thấy sự tương đồng, lặp lại của nhóm hình tượng thơ cũng như phương thức hình dung, suy tưởng và triết lý về thế giới, cùng những thể thức đặc thù tương ứng của nó.

Thụ cảm và suy niệm về con người, về thế giới, Hoàng Cầm đã xuất phát từ nỗi đau thương và đổ vỡ chung của một vận mệnh lớn lao. Của một lý tưởng, một cái Đẹp đã bị tước đoạt, nhưng hình dung về nó, vị trí đáng lẽ phải có của nó, thì vẫn còn tồn tại mãi.

Ông vẽ nên một thế giới vỡ nát, bị va đập đến dị hình, nhưng là để khắc mãi vào tâm trí cái hình ảnh vốn đẹp tươi, diễm lệ, và giờ càng đẹp đẽ, xa vời đến nỗi trong thực tại không bao giờ còn có thể có được. Hoàng Cầm đã buộc mỗi người muốn vào chơi cuộc thơ ông phải sống dậy năng lực tưởng tượng và hình dung những điều cao xa hơn thực tại, thậm chí là những điều mà chỉ có tâm tưởng con người mới chạm tới, những hoa trái chỉ hái bằng trí tưởng mà thôi.

Với Bên kia sông Đuống, bài thơ dài có nguồn mạch của một trường ca, từ góc độ cá nhân, Hoàng Cầm khóc thương, khẩn nguyện cho số phận của dân tộc trước bờ diệt vong giặc ngoại xâm, cũng là sống lại giấc chiêm bao cái Đẹp, dù bị hủy hoại nhưng vẹn nguyên trong tâm tưởng: Bao giờ về bên kia sông Đuống/ Anh lại tìm em/ Em vận yếm thắm em thắt lụa hồng/ Em đi trảy hội non sông…

Vận mệnh dân tộc, chỉ đến thơ Hoàng Cầm, mới đồng nhất với cốt lõi sâu xa là giá trị văn hóa cũng như cái Đẹp từ nhiều đời cho tới thực tại; và đóng vai trò ý nghĩa lý tưởng, trở thành đối tượng chiêm bái, cầu nguyện, tôn xưng. Trước ông, chưa có nhà thơ nào tự nguyện đưa tình yêu nước, sự vẹn toàn bờ cõi cũng như giá trị của quê hương, dân tộc lên thành ý nghĩa tuyệt đối, sánh ngang với cái - không - suy - suyển của tâm thức, cũng là không - hạn - định của thiên nhiên bất tuyệt, như Hoàng Cầm:

Ai về bên kia sông Đuống/ Có nhớ từng khuôn mặt búp sen/ Những cô hàng xén răng đen/ Cười như mùa thu toả nắng/ Chợ Hồ chợ Sủi người đua chen/ bãi Trầm chỉ người giăng tơ nghẽn lối/ Những nàng dệt sợi/ đi bán lụa màu/ Những người thợ nhuộm/ Đồng Tỉnh Huê Cầu/ Bây giờ đi đâu về đâu?… Lửa đèn leo lét soi tình mẹ/ Gương mặt bừng lên như dựng trăng/ Ngậm ngùi tóc trắng đang thầm kể/ Những chuyện muôn đời không nói năng…

Sau này, Về Kinh Bắc, tự tình cá nhân của Hoàng Cầm cũng không phải xót thương, u uất cho oan khốc hay bất hạnh nào cụ thể, mà khóc cho đất trời, sông núi, cho mất mát lớn lao của thân phận con người, như một Định mệnh chung, một ý tưởng nhân sinh. Không phải nỗi đau chật hẹp, mà là biểu hiện khác của hùng tâm tráng chí. Chỉ những tâm sự, hoài bão cao rộng mới là nơi có thể dung chứa đổ vỡ sâu thẳm tâm can. Hoài bão nào, đổ vỡ nấy. Đau thương là mặt bên kia của cao cả, hùng tráng, và với Hoàng Cầm, đau thương càng tô đậm thêm ý nghĩa của mộng tưởng phi thường.

Ông chiêm bái nghĩa cả vì nước quên thân, khí phách oai hùng bằng hình tượng quá cỡ, phi thực:

…Cắn nhọn móng tay/ Thơ cùm lim khắc máu/… Chợt nghe tin giặc dữ/ lấp sông san núi ùa sang/ Vùng chặt xích bẻ gông/ phá cửa/ cướp ngựa hình tham tri/ phóng lên ải Bắc/ Dù nghẹn ngào thuốc độc tam ban/ đã ngấm tuỷ xương từ chén rượu đêm qua
(Đèn nhang I)

Chiêm ngưỡng tài năng bằng cảm hứng hùng tráng đi liền với nỗi ngậm ngùi, chua xót, và cả bi phẫn:

…Đô Nhất là ai/ quê vùng đâu đó/ Vươn tay chạm giời/ Tóc hất sao Mai/ quỳ xuống/ vọng về cửa khuyết/ lạy hai lạy/ Lưng vàng rạp cỏ…/ …Thân mười thước đổ ngang rụng ngửa/ phơi mồi quạ xúm đen ngòm/ Bắp thịt đường gân ngày thí võ hôm xưa/ thoắt đã bầy nhầy phân ngựa…
(Hội vật)

Chấp nhận những nghịch lý tuyệt vọng của sự hy sinh, hay nỗi cay đắng nghẹn thở của thân phận, không chỉ là biểu hiện của cảm thức cao cả mà còn bộc lộ một nhãn quan phi lý**** về đời sống.

Hoàng Cầm chấp nhận cái thực tại song tồn cả mê lẫn tỉnh, sáng láng và đen tối, cao vời và nghẽn bức, ảo và thực, vô biên với vô thường, phù sinh.

Cái huyền ảo, phi thực trong thơ Hoàng Cầm thoạt tiên có thể giống lối nói thậm xưng, hay huyền thoại lãng mạn của ca dao, tích cổ, nhưng ẩn náu trong nó là cơ cấu và vận động của sự phi lý.

Đối với nhà thơ, những giá trị có thực của con người: anh hùng, tài năng, phẩm giá, khát vọng, được nâng lên ngang tầm cái Đẹp và cái cao cả. Trong tương quan với cái chật hẹp, trở lực và sự huỷ hoại, những giá trị ấy làm hiển thị sự phi lý tới hai lần. Tồn tại bằng kích cỡ quá tầm khuôn khổ, (chứ không phải như những biểu tượng huyền thoại giàu tính lãng mạn, tượng trưng) đã là một điều phi lý. Và nghịch lý kế tiếp là sự đổ vỡ của những giá trị sánh ngang cái Đẹp, cái cao cả, nhưng trong vòng hệ lụy của cái tầm thường, của trở lực hẹp hòi. (Càng khác xa những hình tượng huyền thoại - giữ không suy suyển tính chất thiêng liêng và “quyền năng” siêu phàm của mình).

Với những bi thảm của tầm vóc quá cỡ, vượt tầm, chỉ có một cách hóa giải bằng sự nguôi dịu của tâm trí, bằng cõi “nửa tỉnh mê”:

…Đêm xuống/ làm lầu hoang/ Trò chuyện gì ai đâu/ Mồ tháng Giêng mưa sũng/ Đằm ca sáo diều chiều lịm tím lưng trâu…
(Đêm Thổ)

…Hình nhân má điệp tóc mực tàu/ Mắt nghiêng dựa liếp/ Mai nhảy vào đám lửa giỗ đầu/ Gấm Song Cầu khoác lại áo ngày xưa…
(Đêm Kim)

Ông trả lại những case vượt quá lẽ hạn hẹp, nghiệt ngã, thậm chí hôn ám của nhân gian cho cái mênh mông, vô định của vũ trụ.

Không gian thơ Hoàng Cầm bao trùm bởi cảm thức về cái biến động, vô thường, sức ép, sự uy hiếp - những nguy cơ dẫn tới đổ vỡ và phi lý:

…Ông phó may già mười đêm chẳng ngủ/ Rũ xô gai biển động tìm kim/… Kèn Già lam ai tập thổi/ Gió mất chồi xuân đay nghiến luỹ tre dầy/ Năm ba gã trai tập bài Lưu thuỷ/ Một trẻ sơ sinh đuổi giọng mèo hoang qua miếu mưa phùn/… Giặc bên sông đã cắm cờ hạ trại/ Mẹ đón con rung gậy mía Đường Trèo
(Đêm Kim)

…Bè lông ngỗng ngược sông Hồng mùa lũ/ Cổ Loa cú rúc chòi canh/ Giếng ngọc ễnh ương quát đêm tiền sử…
(Gió lông ngỗng)

…Đá nghển trông con/ gục đầu sườn núi Dạm/ Lụa vàng xé lộc rắc tro tiền/ Đè ngang khói bếp/ bặt mùi khoai nướng/ Đầu rau nằm sấp toạc môi…
(Sương cầu Lim)

Nhưng ngay trong những miêu tả, hồi tưởng nằm lại phía bên này nguy cơ huỷ hoại, hướng tới cái hiền hoà, tươi đẹp, cũng bao hàm cả biến động, phôi pha và ẩn giấu một nhãn quan phi lý sắc ngọt, bí ẩn:

…Chùa Phật tích ruỗi trong màn lụa bạch/ Tượng Quan âm má ửng bồ quân/… Chuông chiều cởi yếm/ Chuông sớm đội khăn…/ …Gió vào trăm cửa/ Gió ra hồng da trinh nữ/ Gió vào xanh quan lục/ Gió ra vàng thớ mít/ Ong bay vai áo tiểu thon mình/… Thập điện Diêm vương mở hội/ Trong mắt trẻ lên năm/… Trưa hè gãy rắc cành hoa đại/ Mái hậu cung bồ các tha rơm/ Liếu điếu vỗ hoa xoan lả tả/ Lụa sồng nén nghẹn búp thanh xuân…
(Đêm Thủy)

Không phải truyền thống “huê tình” Kinh Bắc đã nhuốm màu sắc dục tới cả chốn thiền môn*****, mà trong triết lý nhân sinh của Hoàng Cầm, sự sống và con người ở bất cứ nơi đâu cũng toả ánh sáng, hương thơm, sự quyến rũ và đẹp đẽ, bất kể những tàn lụi, huỷ diệt hay những giới - định, dù trong sáng minh triết chăng nữa. Nói cách khác, với nhà thơ, khổ hạnh và ham sống, giới định tôn giáo và bản thể tự nhiên, nhiều lúc có thể cùng khoác chung một tấm áo thuần khiết của cái Đẹp.

Đó là sự thừa nhận lẫn nhau không phải không có chút hiềm khích, nhưng từ cái nhìn phóng khoáng với sự vật, con người, giáo lý, và hư cấu nghệ thuật, Hoàng Cầm đã đưa những tinh tuý của đời sống văn hoá tín ngưỡng vào cùng một lãnh địa mênh mông kỳ thú với cái bản thể khả tín, khởi thuỷ và vô chung của Tự nhiên.

Như thế, nhà thơ đã nhìn nhận cái phi lý như một đặc tính sâu xa của thế giới bình thường và một đặc điểm tự nhiên.

Viết thơ tình, quan niệm về tình yêu, Hoàng Cầm cũng chọn cho mình con đường “vô phương cứu chữa”. Nhịp năm trong Về Kinh Bắc (Còn Em), với những Quả vườn ổi, Cỏ Bồng thi, Lá Diêu bông, Cây Tam cúc… đều đắm đuối những mối tình tuyệt vọng, chẳng những không mong gì được đáp lại mà còn phải dốc lòng đền nợ những tươi tắn, hào hoa, lao tâm tận lực của tuổi thơ trẻ.

Có thể Hoàng Cầm đã mượn những mối tình vô vọng để gửi gắm quan niệm về tính chất phi lý của ngay cả tình yêu. Với tình cảm nguyên sơ, ham muốn lứa đôi thuần khiết (như của đứa bé chín tuổi trong Lá diêu bông, muốn được “gọi là chồng”), hay bị mê hoặc tự nhiên bởi nữ tính kỳ diệu như thiếu niên mười hai tuổi, Quả vườn ổi, “Dải yếm lòng trai mải phất cờ”, nhân vật thơ của Hoàng Cầm đến với tương tư, luyến ái. Điều này vừa đẹp đẽ, dịu dàng, an ủi, lại vừa bao hàm cả ngang trái, bất thường, “tội lỗi”, nếu chiểu theo lệ thường. Tình yêu, với Hoàng Cầm cũng là mở ra những chân trời lạ, tìm nơi dung chứa cái chưa bao giờ được thừa nhận, lạc loài, bị ghẻ lạnh thậm chí bị ngăn cấm, giải cứu cho cái dị biệt, độc đáo của tâm hồn. Tình yêu, như một cố gắng mãnh liệt đưa cái lạ thường, riêng lẻ trở thành có chỗ đứng trong một thế giới rộng lớn hơn cái thông thường.

Cũng chính những mối tình được biết trước đã bị chặn mất chiều “đáp lại” cho thấy ý nghĩa cao cả khác của tình yêu: nó là một hoài vọng không thể hạn định, không có giá tương xứng, là sự vẫy gọi con người đến với cái không tận. Không phải hành động phụng sự vô điều kiện của kẻ bị lệ thuộc, nhân vật thơ của Hoàng Cầm hiểu rõ điều mình đang theo đuổi, là được hiến dâng, được trở nên đẹp đẽ, hân hoan, trở thành lớn lao, không còn trói buộc. Cho dù phải “Lẽo đẽo em đi vườn Mai sau/ Cúi nhặt chiều mưa dăm quả rụng” hay “Quan đốc đồng áo đen nẹp đỏ/ Thả tịnh vàng đón chị võng mây trôi/ Em đứng nhìn theo em gọi đôi”, dù “Chị ba con em tìm thấy lá/ Xòe tay phủ mặt chị không nhìn”, thì đó cũng là tâm thế vị tha kiêu hãnh, không hề bi lụy.

Nhà thơ đã nhìn thấy tình yêu hỉ xả, vượt lên cái phi lý của sự kiện bên ngoài hay trở lực trần thế, đưa con người trở về với bản lai diện mục cao rộng, hiểu được lẽ tạo hóa và muôn loài. Con người trong thơ Hoàng Cầm là bậc giác ngộ trong hình bóng màu vẻ của kẻ luỵ trần.

Hoàng Cầm chủ yếu viết về cái đau thương, trắc trở, nhưng lại thuyết phục và cuốn hút người đọc nhờ cái Đẹp phi thường, rạng rỡ và cao cả.

*

Cảm thức về cái biến động, chịu sức ép, sự phi lý đã làm nảy sinh một thế giới hình ảnh mang tính hỗn loạn, thúc đẩy khả năng thực hiện ngôn ngữ một cách bất thường trong thơ Hoàng Cầm. Nhà thơ vẫn mượn hình thức ẩn dụ như một cách thức quan trọng để bộc lộ nội tâm, tự tình riêng tư.

Quan niệm thơ ca Trung - cận đại coi con người với thế giới chung quanh là tách biệt, riêng rẽ, cách bức, cần phải có sự khai mở, dựa trên phóng chiếu tương đồng. Tương đồng của cảm xúc, tâm lý với hình ảnh thiên nhiên, vũ trụ, tương đồng giữa cá nhân và thế giới loài người còn lại, để từ đó đi đến sự “đọc thấy” nhau, đồng thuận, chan hoà. Ẩn dụ và nhiều biến điệu khác của nó: phúng dụ, so sánh, nhân hoá… trở thành nguyên lý cơ bản của nghệ thuật ngôn từ, nhìn thế giới như một ẩn dụ lớn. Văn học và tồn tại là hình chiếu lẫn nhau. Sáng tạo ẩn dụ là làm cách nào kiếm tìm được những “hình chiếu” tinh tế, lạ lẫm, bất ngờ, có sức nâng sự vật cũng như cảm xúc và suy tưởng của con người lên những tầm vóc mới******.

Ẩn dụ của Hoàng Cầm phá vỡ mối tương quan phóng chiếu tương đồng:

Cúi lạy mẹ con trở về Kinh Bắc/ Chiều xưa dẻ quạt voi lồng/ Thân cau cụt vẫy đuôi mèo trắng mốc/ Chuồn chuồn khiêng nắng qua sông…/ …Đê mười tám khúc Văn Giang/ Chuông Bách môn đổ xô gò má/ Mây thành thổi lửa/ Nẻo Đông Triều khép mở gió kỳ lân…
(Đêm Thổ)

…Ngất núi ô kìa anh vỗ (vũ) nhịp/ Bay cờ triệu yếm ríu ran ca
(Hội yếm bay)

Không còn sự phóng chiếu về mặt mô tả giữa các hình ảnh, những liên tưởng đã chệch xa khỏi mô thức tương đồng giữa cái được miêu tả và cái dùng để miêu tả: Thân cau cụt - vẫy đuôi mèo, Chuông Bách môn - đổ xô gò má, Nẻo Đông Triều - khép mở gió…

Có thể xem đây gần gũi với nguyên lý tương hợp của trường thơ Tượng trưng Pháp, dùng sự tương hợp về mặt hiệu quả cảm giác, cảm xúc giữa các sự vật: âm thanh, sắc màu, không gian… để tạo nên dịch chuyển, áp đặt cho khách thể những vấn đề thuộc về nội tâm, và quan trọng hơn, dời chuyển lẫn nhau giữa các “vùng biểu hiện” cảm thức của thế giới khách thể. Nhưng Hoàng Cầm không phải người học trò tài giỏi của trường thơ Tượng trưng. Xuất phát từ đổ vỡ có thực của nội tâm, nhà thơ tượng hình một thế giới mà tất cả cảm xúc, hình dung quen thuộc đã mất đi chỗ đứng vốn có của nó, đứt quãng, tứ tán, bị đẩy xa đến cõi hoang mang, huyền hoặc, tỉnh mê.

Những hình ảnh dùng để biểu thị thực tại và tâm trạng hầu hết là hình ảnh phi thực, phi lý… Trăng lên chém đầu ngọn gió/ Cành si bưng chậu máu chát chao… Cái phi lý giải phóng thế giới khỏi sáo mòn, khỏi cân bằng yên ả, khuấy động chiêm bao lo âu, kiếm tìm điều không biết.

Phá vỡ quy luật sẵn có của ẩn dụ là dùng cái cụ thể, sống động để giúp người đọc nắm bắt cái trừu tượng, mênh mông, và ngược lại, nâng cái cụ thể, đơn lẻ tới tầm mức của cái trừu tượng, mênh mông tương thích và dễ cảm thấu, Hoàng Cầm ngắt quãng, đan xen cái trừu tượng với vật thể, vật thể với trừu tượng, tạo ra một dòng chảy hỗn loạn, bất đồng. Hỗn loạn tạo ra tương quan mới về mất- còn, hay- dở, quen- lạ… mỗi sự vật trạng thái đồng thời có thể mang cặp ý nghĩa đối kháng:

Về Kinh Bắc phải đâu con hé miệng/ Khế chua vôi bột lòng tay/… Tràng pháo dòng thân cau mới bói/ Tênh tênh chở đá Ba Vì/ Tiếc gì nhau nữa/ Lứa ong bầu châm lửa gót chân…
(Đêm Mộc)

…Dòng dây vục mãi đêm hồ tinh/ Ấp vú mình trần con dế trũi
(Tắm đêm)

…Thế giới không còn sự hài hoà, liên kết liền mạch, tôn xứng lẫn nhau, có lớp lang trình tự, mà trở nên bất trắc, không quy luật.

Có khi Hoàng Cầm chỉ dùng toàn sự vật cụ thể để khắc hoạ cái khủng khiếp trừu tượng: …Tranh tố nữ long hồ gián nhấm/ Mất chân đi má đội tổ tò vò

Hình ảnh vật thể bị huỷ hoại một cách cơ giới được áp đặt chuyển nghĩa thành bất trắc của thân phận con người, không thông qua mối liên tưởng nào được hiển lộ.

…Đã đi rồi/ … Những cuộc dọn nhà/ tuần du trang sử rách

Sự vật tả thực trùng khớp với vấn đề “hồi tưởng” trừu tượng.

Có khi, nhà thơ dùng cảm giác vật thể cắt giữa không gian trừu tượng của cảm xúc, suy tưởng, nhấn mạnh cái dị thường, không theo trình tự:

…Đứng bên này sông sao nhớ tiếc/ Sao xót xa như rụng bàn tay…

…Ta con bê vàng lạc dáng chiều xanh/ đi mãi tìm sim chẳng chín…

Nếu đúng theo cú pháp thuận của hình ảnh và suy tưởng, câu thơ phải là,“Ta con bê vàng dáng lạc chiều xanh/ Đi tìm mãi sim chẳng chín”.

Sự trùng lặp đồng âm khác nghĩa tạo ra những hình ảnh song song của nghĩa cụ thể và trừu tượng:

…Chó ngộ hàng đàn/ lưỡi dài lê sắc máu

…Mẹ con đàn lợn âm dương/ chia lìa đôi ngả
(Bên kia sông Đuống)

…Lửa đâu sém cánh tay bột nặn/ Cháy phù sa ngọt lịm Yên Viên
(Thi ăn mía thổi cơm)

...Bưởi Nga My sao mẹ bắt đèo bòng
(Đêm Thổ)

…Em đi đêm Tướng điều Sĩ đỏ/ Đổi xe hồng đưa Chị đến quê Em
(Cây tam cúc)

Không hẳn là dụng ý của tác giả, mà trò chơi vô thức đã tạo ra hai lớp nghĩa của cùng một ngôn từ.

Xoá nhoà ranh giới, trình tự giữa vật thể và trừu tượng, Hoàng Cầm đã tạo ra men say cũng như triết lý mới cho thơ. Chối từ ảo tưởng về một thế giới bền vững siêu hình, ảo tưởng về nhận thức luỹ tiến một chiều, làm ứ đầy hương sắc cảm giác trần thế vào lãnh địa tinh thần thuần tuý sắc không.

*

Hoàng Cầm chỉ viết thơ để bộc lộ những thiên biến trong đời sống tinh thần của mình trước xung chấn của một thế giới đang vận động đến lụi tàn, tan vỡ tất yếu. Chính ông cũng không ngờ, những ngắt quãng đáng kinh ngạc của mình với tâm thức truyền thống sẵn có là hiện tượng báo trước những rung chuyển đến tận gốc rễ của quan niệm thi ca và đời sống sau này.

Khởi đi từ khát vọng được lớn lao, chứng nghiệm đủ những chênh vênh phi lý của cuộc tồn tại, trở về bằng nhận chân bản nguyên, Hoàng Cầm đã xong cuộc tuần du Định mệnh của con người giữa thế giới biến thiên đầy trở lực. Dường như sứ mạng thi ca của nhà thơ là thức nhận về những phi lý, đón nhận nó vào dáng vẻ đa hướng lạ lùng của cuộc đời, để tôn xưng cái Đẹp không dễ dàng kiếm tìm, bắt gặp: Đẹp của sự vượt khỏi tầm vóc thông thường, của cái nghịch biến, trái chiều.

K.P
(262/12-10)




---------------
* Sự phân kỳ ở đây có tính chất tương đối, vì không căn cứ vào niên đại lịch sử làm niên đại tương ứng cho văn học. 1950 - 1960 là giai đoạn sáng tác tập trung, sung sức nhất của Hoàng Cầm, làm nên phong cách tác giả, và so sánh ở đây là so sánh sự nổi bật của phong cách cá nhân so với các cá nhân khác, xuất hiện trong giai đoạn từ 1950 cho đến cuối những năm 1960, ở miền Bắc. Cũng vì điều kiện văn học sử chưa có những tổng kết xác đáng, đầy đủ, công khai về giai đoạn này, nên sự đánh giá về đóng góp nghề nghiệp của các nhà thơ, nhà văn còn gặp nhiều khó khăn.

** Là những người “mở đường khai phá lại” cảm hứng thiên nhiên vũ trụ, một số nhà Thơ Mới dừng ở cảm nhận mối tương quan giữa con người nhỏ bé với vũ trụ bao la, hoặc mượn hình ảnh trời cao biển rộng làm ngụ ý cho tâm thức bơ vơ vô định. Nó khác xa với cảm hứng hùng ca. Ví dụ:

…Người ở bên trời ta ở đây/ Chờ mong phương nọ ngóng phương này/ Tương tư đôi chốn tình ngàn dặm/ Vạn lý sầu lên núi tiếp mây…
(Vạn lý tình - Huy Cận)

Hay:

…Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu/ Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều/ Nắng xuống trời lên sâu chót vót/ Sông dài trời rộng bến cô liêu
(Tràng giang - Huy Cận)

Mây chắp lụa dài vây núi biếc/ Sương xây mồ bạc dấu trăng vàng/ Thuyền ai giỡn nước sông Ngân ấy/ Mà để sao sa xuống cõi trần/ Phải hay chăng đêm qua khi thuyền mộng/ Của Nàng Trăng vào đến bến mây xa/ Một cô hồn về đây theo gió lộng/ Trên mộ tàn tìm lại dấu ngày qua
(Điêu tàn - Chế Lan Viên)

Nhầm lẫn rất phổ biến của một số người viết văn học sử Việt Nam là đồng nhất cảm hứng hùng ca, cao cả với tinh thần cộng đồng và chủ đề tập thể (!) trong sáng tạo, đem đối lập nó với cảm hứng riêng tư hay cái nhìn thân phận. Thực chất, vấn đề thân phận hay con người cá nhân, thuần tuý, hoàn toàn có thể bao hàm cả cái hùng tráng, cao cả, bao hàm cả những ý niệm về cộng đồng. Nhầm lẫn kế tiếp còn nghiêm trọng hơn, là coi văn học như phái sinh của lịch sử, nhìn nhận những giá trị thuần tuý con người hay thuần tuý văn chương như là sự “thu hẹp” của cảm hứng lịch sử.

*** Về Kinh Bắc gồm 8 nhịp (Khấn nguyện- Kiếp trước- Rũ bụi gia phả- Rồi cùng đi tất cả- Còn Em- Điểm trang- Rồi lại đi- Về với ta), Xong cuộc tuần du và phần vỹ thanh. Tám nhịp tượng trưng cho tám nguồn mạch cảm hứng quan trọng về mặt nội dung, quan niệm hiện thực. Cấu trúc nghệ thuật ở đây được hiểu là quá trình và phương thức tổ chức sáng tạo thể hiện qua tác phẩm, để đạt tới phong cách đặc thù, sự đóng góp về ngôn ngữ, thi pháp của tác giả. Một tác phẩm viết hoàn toàn bản năng, của người có năng lực bẩm sinh, không theo dụng ý sắp xếp nào, cũng vẫn tuân theo quá trình và phương thức biểu đạt “tự phát” của tâm lý sáng tạo.

**** Tinh thần phi lý của Tây phương chỉ xuất hiện khi mối quan hệ dựa trên những quan niệm duy lý của con người về thế giới bị lung lay, mối tương quan được xem là chắc chắn của con người với cơ cấu xã hội và cơ cấu tinh thần của xã hội ấy bị đe doạ. “Phi lý” có nghĩa là những lý giải bằng lý tính quy luật của thiên nhiên và con người không còn được xem là đúng đắn, các giá trị, quy ước thông dụng của xã hội và con người bị tước đoạt mất ý nghĩa vốn có của nó, con người rơi vào hỗn mang, trở lại động vật tính, đồ vật tính…

***** Nghệ thuật Phật giáo Việt Nam kế thừa quan niệm tạo hình của nghệ thuật Champa thế kỷ VII đến thế kỷ XII, hoàn nguyên và khuếch trương mẫu tính, nhưng lại dung nạp cả khuynh hướng sắc dục, gợi tình của nghệ thuật dân gian đình làng cổ xưa. Tượng Phật chùa Dâu, chùa Bút Tháp, Bắc Ninh thể hiện rõ khuynh hướng này. (Xem Mỹ thuật của người Việt - Nguyễn Quân, Phan Cẩm Thượng, NXB Mỹ thuật, 1989, Bút tháp, nghệ thuật Phật giáo - Phan Cẩm Thượng, NXB Mỹ thuật, 1996, Chùa Dâu và Nghệ thuật Tứ pháp - Phan Cẩm Thượng, NXB Mỹ thuật, 2004).

Truyền thống “huê tình” Kinh Bắc là có thực, có ảnh hưởng đến tâm trí nhà thơ, tuy nhiên nó không án ngự nhãn quan nghệ thuật của ông.

****** Ví dụ:

Ẩn dụ ít bất ngờ, ít sức nâng cao, lan toả:

… Lòng anh là một cơn mưa lũ/ Đã gặp lòng em chiếc lá khoai/ Mưa biếc tha hồ rơi giọt ngọc/ Lá xanh không ướt đến da ngoài…
(Xuân Diệu)

Ẩn dụ ở mức độ tinh vi, sâu xa hơn:

…Buổi chiều sao vỡ vào chuông giáo đường/ Tôi xin một chỗ quỳ thầm kín/ Cho đứa nhỏ linh hồn/ Sợ chó dữ/ Con chó đói không màu…
(Thanh Tâm Tuyền)

_______________________________________________________