TRẦN HẠ THÁP
1.
Câu đối vô danh
Ngô Thời Nhiệm phò giúp Nguyễn Huệ còn Đặng Trần Thường đi theo Nguyễn Ánh. Hai con đường tiến thân đối nghịch, nhưng kẻ trước người sau đều làm nên quan lớn. Có điều, hậu vận ai cũng chết thê lương.
Khi Tây Sơn thua Nguyễn Ánh, thì Nhiệm cùng một số cựu thần Tây Sơn bị tân triều lăng nhục ở Văn Miếu Hà Nội, đều phải đánh bằng trượng do Thường làm chủ toạ. Đến Nhiệm thọ hình, Thường ra vế đối mỉa mai bạn cũ đang úp mặt dưới chân mình:
- Ai công hầu? Ai khanh tướng, Trong trần ai, ai dễ biết ai?
Nhiệm ứng khẩu đáp:
- Thế chiến quốc, thế xuân thu! Gặp thời thế, thế thời phải thế!
Thường cười khẩy, truyền đổi trượng khác lớn hơn. Nguyên lắm kẻ trước giúp việc Nhiệm, nay tìm đến xu nịnh Thường để kiếm chút bổng lộc tân triều. Chúng quá biết Thường vốn thù oán Nhiệm do từng bị coi khinh bản chất luồn cúi... Bọn tiểu nhân ấy hiến kế tẩm nọc rắn vào trượng để dành riêng đánh Nhiệm. Lẽ ấy, nhiều cựu thần Tây Sơn cùng bị đánh tơi tả song vẫn sống như Phan Huy Ích... Chỉ Nhiệm cố lết về nhà mà chết.
Dân đến xem lớp trong lớp ngoài đều được Thường cho giấy bút gọi là làm gương cho kẻ sĩ. Xong việc, Thường vuốt râu ngồi uống trà trước án. Buổi chiều quân sĩ lo thu hồi hình cụ, chùi dọn máu me. Văn Miếu lại trở về uy nghi thanh vắng. Gió lùa qua, bốc lên tờ giấy không biết ai đã làm rơi sót lại. Tuồng như có chữ viết bằng đất vàng theo lối thảo. Một đôi vế đối theo cách y như Nhiệm và Thường đã ứng đối với nhau:
- Quân gian tặc, quân vô đạo! Toàn hôn quân, quân mấy là quân...
- Khổ ác bá, khổ tham quan! Rập khuôn khổ, khổ đâu hết khổ...
Kẻ tả hữu xu phụ đón ý Thường, quyết một hai do người nhà Nhiệm làm ra cốt nhục mạ triều đình. Thường căm tức liệng xuống đất, nạt tràn:
- Ngu thế? Chả cứ một tân triều, trước sau triều nào đều chửi tất... Sao ghép tội nhà Nhiệm được? Đây đích thị thằng dân đen láo xược.
Quân hầu hùng hổ nhảy ra xin gông ngay thằng ấy về tra khảo. Thường nổi điên hắt tách trà vào mặt hắn:
- Dân đen mấy vạn đứa mầy gông hết cả chăng?
Về sau, Thường đang đắc thời từ một công thần bỗng trở thành tội đồ nhà Nguyễn, bị tống ngục và - thay vì chém - được đặc ân thắt cổ.
_____________________________________________________
2.
Câu hỏi cho trâu
Cu Cườm nghỉ hè về quê chơi mấy hôm, suốt ngày ra đồng theo trâu không biết chán. Khi trở về thành phố, nó hí hửng:
- Trâu lớn sừng nhọn mà hiền ghê ba nhỉ! Cưỡi sướng lắm ai cũng chả sao, ưa bao nhiêu lần được hết.
- Cô giáo đã giảng nay tận mắt chứ gì. Chưa ăn thua trâu còn nhiều tính tốt hơn nữa thử nhớ lại coi.
- Siêng năng, cần cù này. Giúp con người cày bừa trồng ra lúa gạo nấu cơm hàng ngày. Còn nữa, cho phân bón cây, trét vào phên che gió máy. Khi cần kéo gì nặng trên núi thì là nhất. Trâu rất vâng lời nữa đấy. Phải không ba?
- Đúng phóc, nhưng nó ăn uống sao đây?
- Trâu ăn cỏ ngoài đồng, uống nước ao chả tốn kém gì. Nó vào chuồng nằm là xong. Ừ nhỉ, đói không kêu ồn ào như heo và chó. Tốt nhiều thật.
Thằng cu chợt bặm môi không nói nữa. Nó lấm lét như đang giấu điều gì không hài lòng. Ba khuyến khích:
- Sao? Có gì lạ không nói ra.
Cu Cườm đỏ mắt gần khóc. Không chịu được uất ức, nó chưa bao giờ hầm hừ như thế:
- Có lần... Có lần... Nói... Lũ ngu như trâu.
Ba nó ngạc nhiên, cố nín cười:
- Ai nói ai? Mà có nói con không? Khi nào cà...
Nó trợn mắt cố quyết:
- Trâu không ngu. Trâu nhiều tính tốt hơn kẻ gian. Nhiều người nói lắm đó ba không nhớ à? Ba cũng có. Trâu mà chậm thì... Thì...
Thằng nhóc chợt nhớ ra sắp nói hỗn liền dừng ngay, gằm mặt xuống đất hậm hực. Ba cu Cườm dở cười dở khóc, ngó nó một chặp rồi cũng trợn mắt đứng dậy, đập tay xuống bàn nói như quát:
- Sai thật. Đúng là trâu không những quá tốt mà còn có đức nữa đấy. Đem trâu ra so những kẻ ngu xuẩn, gian manh là mạo phạm quá rồi. Bọn tồi bại ấy thì ngay với chỉ cục phân trâu cũng chưa sánh được.
Cu Cườm dịu hẳn, nó không cười vì biết ba chẳng phải làm trò.
3.
Ăn trộm truyền nghề
Ông già bà lão thế hệ trước vào lúc nông nhàn thường kể những mánh khoé của hạng “Ăn trộm thầy”, trước đề phòng sau vui quên giá rét.
Gọi “thầy” vì chúng suốt đời chuyên ăn trộm, chả có chữ nghĩa hoặc nghề nghiệp cày bừa gì mà toàn gia đều ăn sướng mặc sang, thái độ ngông nghênh hoách lác. Dân không dám hó hé sợ đốt nhà báo thù, đêm hôm liệng đồ quốc cấm vu hoạ. Chúng đón thầy học võ. Lại cúng tổ, truyền nghề đời nầy qua đời khác. Nghe rằng...
Đêm nọ, có tay trộm già khét tiếng lễ tổ xong bảo đứa học trò sắp sửa được chính thức hành nghề:
- Tốt. Từ nay trở đi cho phép vẫy vùng đừng làm tao mất mặt. Cứ theo lệ, trong vòng 3 ngày đầu phải trộm thứ quý đem về trả ơn tổ. Bỏ ra càng ít công sức, lại giảm thiểu nguy hiểm là càng xứng câu “Con hơn cha, nhà có phúc. Trò hơn thầy, cây sây quả”. Đi đi, 3 ngày sau đem trình tao xem thử.
Thằng học trò sáng mai đã ngồi trước cửa nhà thầy, tay ôm theo chiếc chiếu cạp điều mới. Thầy đang nằm trong màn nói vọng ra:
- Tốt, nhanh thế. Kể ra mày trộm được cái chỗ ngồi của nhà quyền quý không khó khăn gì. Ra vào cứ như không, tao lúc ra nghề nhiều phen mới làm được đấy. Ừ, cho đem trải sập gụ thầy ngồi cứ gọi là trả nghĩa.
Thằng học trò vâng dạ, vào trải lên xong cáo thoái ra về. Lão trộm già đắc ý bảo vợ:
- Chiếu nhà mình cũng đang còn mới nhỉ? Một mình ngồi hai ba chiếu chồng lên nhau được đấy chứ. Hà hà, chưa có đứa nào tôn thầy lên cao như thằng nầy bà ạ.
Vợ lão vội lên nhà trên xem, chạy vào vẻ mặt lạnh ngắt như tiền:
- Rành rành chiếu nhà mình.
- Thế chiếu nó để ở đâu? Không phải thành hai chiếc với nhau là gì.
Vợ lão đay nghiến:
- Hai ba nào đâu? Cũng vẫn chỉ một chiếc nầy ông ạ. Học trò giỏi thật! Nó trộm của thầy biếu lại thầy, không tin ra mà xem cho biết. Hôm qua phơi chưa kịp lấy vô. Quả thật...
Lão ngớ ra, dạy sao nó làm vậy. Áp dụng ngay với thầy quá là xuất sắc còn kêu ca gì. Thế mới gọi chân truyền, lão nói vớt thành ra tán thưởng thằng học trò mà ngay chính lão cũng không dám ngờ:
- Chậc, lọt vào tay ai của nấy. Chiếu nầy trước ở nhà người ta, tôi lấy về thành của tôi. Nay nó lấy được của tôi thì là thành của nó. Bà xem, xưa nay nghề ăn trộm lấy rồi cho lại ai chưa hở? Tôi thầy mà cũng thua luôn đấy. Dù có là học trò thì nó chỉ lo học nghề ăn trộm, vả lại tôi có chuyên dạy đạo đức gì đâu mà trách nó phản phúc?
T.H.T
___________________________________________________________
Thứ Bảy, 5 tháng 3, 2011
Thứ Năm, 3 tháng 3, 2011
Nhà văn - đại gia?
Di Li
Nhà văn nữ Trần Thanh Hà xưa nay vốn rất mến mộ Bùi Anh Tấn. Hồi năm 2007, Trần Thanh Hà viết được cuốn tiểu thuyết trinh thám “Vũ điệu tử thần”, còn tôi… rục rịch viết trinh thám, mới bàn nhau sao không lập ra Hội nhà văn trinh thám cho giống nước ngoài. Trần Thanh Hà bảo phải, để chị kêu Bùi Anh Tấn rồi bầu ông ấy là trưởng hội. Tôi hỏi thế hội sẽ kêu gọi được mấy người, Hà bảo cả em nữa là… ba. Sau kể lại chuyện này cho Tấn, gã tưởng thật chối đây đẩy “Ấy chết, ở Việt Nam muốn thành lập hội hè gì là phải xin phép chính phủ đàng hoàng chứ không phải cứ thích mở hội là mở được đâu”.
Nhà văn của người đồng tính
Bùi Anh Tấn là nhà văn công an. Anh bắt đầu sáng tác từ những năm đầu thập niên 90, nhưng chỉ thực sự tiếng nổi như cồn kể từ sau “Một thế giới không có đàn bà” ra đời năm 1999. Hai năm sau đó cuốn tiểu thuyết lĩnh liền hai giải A của cuộc thi Tiểu thuyết năm 1999-2001 và Giải thưởng văn học 1995-2005 (Bộ Công an và Hội Nhà văn ViệtNam tổ chức). Rồi thế giới không đàn bà của anh lại lên phim. Khán giả dán mắt vào ti vi xem loạt phim 10 tập về cảnh sát hình sự với những nhân vật gay chưa bao giờ được lột tả kỹ càng như thế trên màn bạc Việt Nam. Bùi Anh Tấn trở thành người đầu tiên trong làng văn học Việt đi sâu vào đề tài người đồng tính. Thành ra sau này người ta bảo anh dẫn đầu văn học đồng tính, nhà văn của giới đồng tính, rồi thì các diễn đàn của gay, của les thi nhau post tác phẩm, tin hot về Bùi Anh Tấn lên trang mạng của họ. Họ coi anh là nhà văn của họ. “Một thế giới không có đàn bà” bán ra cả vạn bản. Các cuốn sách sau này của Bùi Anh Tấn lúc nào cũng nằm trong danh mục sách bán chạy và có tới phân nửa là viết về người đồng tính như Vòng tay không đàn ông, Phương pháp của A.C Kinsey (tiểu thuyết), Cô đơn, Bướm đêm (tập truyện ngắn)… “Một thế giới không có đàn bà” thậm chí còn được đạo diễn Việt Kiều Canada Cường Ngô dựng lại thành phim truyện nhựa trong năm 2011 do chính tác giả viết kịch bản.
Bùi Anh Tấn viết khỏe, chỉ trong vòng 10 năm đã cho ra đời 3 tập truyện ngắn, 2 kịch bản truyền hình và một màn ảnh rộng, hơn chục cuốn tiểu thuyết mà cuốn nào cũng thuộc loại “cục gạch”, dày muốn vỡ đầu. Bùi Anh Tấn dường như không thích viết chuyện… bình thường, không đồng tính thì cũng đề tài lịch sử (Nguyễn Trãi, Đàm đạo về Điều Ngự Giác Hoàng), tôn giáo (Không và sắc), chiến tranh cách mạng (Kế hoạch hậu chiến 72), tác phẩm biên soạn duy nhất của ngành công an viết về lực lượng CSĐB – Việt Nam Cộng Hòa (Cảnh sát đặc biệt). Cuốn tiểu thuyết ăn khách về đời sống hiện đại Bước chân hoàn vũ thì lại được viết “ngược” từ kịch bản sang tiểu thuyết. Từ bận chuyển về NXB Công an Nhân dân làm biên tập rồi trưởng chi nhánh tại TP Hồ Chí Minh, tranh thủ những giờ nghỉ Bùi Anh Tấn đóng cửa vùi đầu vào viết. Ngày cuối tuần, sáng dậy sớm, ăn sáng, uống cà phê xong là bật máy lên viết. Viết thùi lụi không cần chờ cảm hứng như công chức xách cặp đi làm. Viết nhiều đến mức… phát ghét, phát ghen tị. Mấy bận đến thăm chi nhánh của nhà xuất bản, tôi hỏi Trần Thanh Hà là đồng nghiệp cùng cơ quan anh: “Anh Tấn đang đóng cửa làm gì thế?”. Hà lắc đầu “Lại viết đấy mà. Chỉ viết thôi không thiết làm gì đâu”. Viết lắm, viết khỏe, sách dày, lại bán rõ chạy thì tiền kiếm được nhiều là lẽ đương nhiên rồi. Đâm bạn bè trong giới gọi anh là “nhà văn đại gia”.
Nhà văn đại gia
Có bận Trần Thanh Hà nửa đùa nửa thật liệt kê… gia sản của đồng nghiệp “Gã này giàu lắm. Mỗi phim đều kiếm được vài trăm triệu từ kịch bản, rồi còn tiền bán sách, tiền nhuận bút in báo, tiền… Gã đã mua được một cái nhà, nhưng cũng không cần ở, chỉ cho thuê, lại càng lắm tiền. Mà gã ở cùng bố mẹ, ăn cơm chung với bố mẹ, ngày thì ngồi im viết sách, có cần gì đến tiền đâu”. Nhớ có lần tôi và Trần Thanh Hà, Bùi Anh Tấn với một số người khác ngồi quán cà phê gần chi nhánh NXB. Giữa buổi tôi và Trần Thanh Hà mượn xe Tấn về trước. Chẳng hiểu loay hoay thế nào Hà đánh kẹt chìa khóa xe vào ổ khóa, xoay sang để nổ máy không được mà rút ra cũng chẳng xong. Khổ chủ chạy ra xem cũng chẳng hiểu ra thế nào. Năm sáu người xúm vào cái xe, người lôi kẻ kéo mà chìa như có phép thần, cứ kẹt cứng vào ổ. Cuối cùng đành phải gọi điện cho một cậu thanh niên trai tráng từ NXB chạy sang để rước xe về. Bất lực vì không rút được chìa khóa, tất cả mới hè nhau mắng khổ chủ “Anh Tấn giàu như thế, mua ô tô đi thôi, đi cái xe này nữa làm gì”. Tấn đã cho mượn xe, bị người đánh hỏng xe, nay còn bị mắng vì cái tội tiếc tiền mua xe, mới điên tiết kêu lên “Anh đi mãi có làm sao đâu. Là tại em… cắm nhầm chìa khóa vào đâu ấy chứ”. Hà rối rít thanh minh “Em có cắm nhầm chìa đi đâu đâu, em chỉ cắm vào ổ khóa thôi chứ”.
Cứ hay đùa Tấn làm vậy chứ là người cùng nghề, tôi biết thu nhập kiếm được từ nghề viết dù có nhiều đến mấy cũng chỉ là để thỏa lòng rằng công sức lao động sáng tạo đã được đền đáp, chứ ăn thua chi so với thiên hạ. Bùi Anh Tấn cũng không đến nông nỗi như bị vu cho là chỉ biết đóng cửa ngồi viết không cần tiêu đến tiền. Như đặc tính của nhiều người tuổi Ngựa khác, gã cũng thích rong ruổi khám phá, thích đàn đúm bạn bè và rất hào phóng. Mỗi lần ra Hà Nội, thường hay làm hai việc, ấy là tự đi du lịch và mời bạn bè thật đông đến để gặp gỡ, tiệc tùng. Khách từ xa vào Sài Gòn cũng được gã tiếp đón niềm nở như thế. Khuôn mặt tròn trịa của Bùi Anh Tấn có một nét rất đặc trưng, là lúc nào cũng cười, nụ cười tươi tắn như chẳng biết giận ai bao giờ. Hễ nghe đồn đại về xung đột, khúc mắc gì liên quan đến Tấn mà gọi điện hỏi thì y rằng gã xua đi “Thôi thôi chuyện không có gì đâu”, rồi lại cười tươi roi rói như thể sách vừa vào danh mục best-seller. Thế mà cũng có lần gã giận. Tôi nghe nhiều người nói từ lâu về chuyện Bùi Anh Tấn rút hồ sơ ra khỏi Hội Nhà văn. Ấy là cái chuyện lùm xùm quanh việc người ta đề xuất gã làm đơn rồi năm thứ nhất không duyệt, năm thứ hai lại có người đề nghị nhường lá phiếu, thế là xin rút. Giờ hỏi lại Tấn vẫn cười cười xem chừng rút cho đỡ rắc rối, cho thân phận mình đỡ bị nâng lên đặt xuống mà xét duyệt chứ nào có giận hờn chi đâu. Rút đơn đâm ra lại sang, giờ có nhiều người khuyên nộp đơn lại mà Bùi Anh Tấn cứ cười cười, cười như thể cuộc đời lúc nào cũng một màu hồng.
Nhà văn không… lấy vợ
Cũng vì trót lao vào vụ “đồng tính”, cũng vì trót bị hâm mộ quá đỗi mà fan hâm mộ tìm đến cũng không ít người thuộc về thế giới thứ ba, nhất là trót sống độc thân cho đến tận bây giờ nên bất cứ khi nào nhắc đến Bùi Anh Tấn, người ta hay mắt sáng lên, rồi hạ giọng thầm thì “Bùi Anh Tấn à, có phải gã…?”. Chuyện này đến tai Tấn, gã vẫn cười cười. Cười lúc này thì thực phát ghét lên. Cái người ta muốn biết bây giờ là sự thể thực ra thế nào, chứ cứ cười không là nghĩa làm sao. Sao cũng được. Gã chẳng thèm thanh minh, chẳng thèm khẳng định, có xếp gã vào giới nào trong 3 giới ấy hay thậm chí giới tính thứ tư đi chăng nữa thì vẫn cứ được. Kệ.
Trước khi vào Sài Gòn để tham gia trại sáng tác ở Đà Lạt do NXB Công an Nhân dân tổ chức, biết tôi chuẩn bị gặp Bùi Anh Tấn, Trần Thanh Hà rỉ tai tôi về câu chuyện đồn đại rất hot này. Gọi điện trước cho Bùi Anh Tấn rồi đứng im thít trước cửa chi nhánh để chờ gã ra đón, tôi nhìn thấy một khuôn mặt tươi cười tiến lại gần. Chào hỏi thì ít mà quan sát Tấn thì nhiều, sau này, tôi thường lên tiếng “bảo vệ” gã về cái vụ “thế giới thứ ba” hay thứ mấy ấy. Người có hỏi thì tôi hạ giọng vẻ hiểu biết “Nhìn gã một giây là biết chứ sao. Tiếp xúc thêm một phút nữa thì càng biết gã bị oan”. Sau hay lấy câu chuyện này để đùa thì Bùi Anh Tấn cười to “À, Trần Thanh Hà vẫn giúp anh bằng cách ấy đấy mà. Để phụ nữ gặp anh đỡ phải cảnh giác”. Bùi Anh Tấn nghe chừng oan ức ghê gớm cho dù thi thoảng hành vi của gã có vẻ nữ tính. Ngoài quan tâm đến Phật giáo thì gã còn rất thích hoa. Trong những ngày lưu lại trại sáng tác Đà Lạt, có bận vài người trong đoàn tổ chức đi xe Jeep lên đỉnh Langbian. Xe đỗ dưới chân núi, Bùi Anh Tấn chạy đi mua một lẵng hoa bất tử. Rồi chừng như thấy mình cầm lẵng hoa cũng bất tiện, Bùi Anh Tấn cho lại tôi. Nhà văn Phùng Thiên Tân (giờ là giám đốc NXB Công an Nhân dân) bảo “Em đừng ngạc nhiên. Bùi Anh Tấn đến nhà anh không bao giờ xách theo chai rượu mà toàn mang hoa đến thôi”. Riêng điều này gã đâm được tiếng thanh cảnh, chứ theo những gì tôi chứng kiến thì mỗi lần gặp bạn bè gã chỉ chúi đầu vào nhậu nhẹt, chẳng có hoa lá cành tí nào cả.
Năm nay Bùi Anh Tấn lại có hai tin mừng. Tin mừng thứ nhất là tiểu thuyết nhan đề “Tin mừng” đang được Giáo hội Công giáo thẩm định và hy vọng sách sẽ được ra mắt vào dịp lễ Phục sinh. Gã tâm sự đấy là mong muốn của mình, còn sách có in được hay không, nhất là những sách viết về tôn giáo là quả một quá trình gian nan. Vì gã đã từng có kinh nghiệm này rồi sau tác phẩm viết về Phật giáo - Không và Sắc. Sách dày 400 trang, “Tin mừng” kể về những ngày đầu tiên đạo Thiên chúa vào Việt Nam hồi thế kỷ 16 ở Faifo (Hội An). Tin mừng thứ hai là gã sắp lấy vợ. Người quen biết gã tỏ vẻ tin này không lấy gì làm hot, bảo “Bùi Anh Tấn hô lấy vợ đến 13 lần rồi. Lần nào cũng khấp khởi đóng phong bì cho thật dày, chuẩn bị mua vé máy bay vào ăn mừng rồi lại bị chưng hửng.” Tôi thì mới chứng kiến cái sự báo tin vui của Bùi Anh Tấn lần đầu nên xem ra cũng vẫn lấy làm tò mò lắm lắm. Vợ chưa cưới của gã mới ngoài 30, là giám đốc chi nhánh một ngân hàng. Nghe đâu thiên hạ đồn rằng có lần gã vác một bao tải tiền đến ngân hàng gửi nên từ bận đó mới quen vợ chưa cưới bây giờ.
________________________________________________
Nhà văn nữ Trần Thanh Hà xưa nay vốn rất mến mộ Bùi Anh Tấn. Hồi năm 2007, Trần Thanh Hà viết được cuốn tiểu thuyết trinh thám “Vũ điệu tử thần”, còn tôi… rục rịch viết trinh thám, mới bàn nhau sao không lập ra Hội nhà văn trinh thám cho giống nước ngoài. Trần Thanh Hà bảo phải, để chị kêu Bùi Anh Tấn rồi bầu ông ấy là trưởng hội. Tôi hỏi thế hội sẽ kêu gọi được mấy người, Hà bảo cả em nữa là… ba. Sau kể lại chuyện này cho Tấn, gã tưởng thật chối đây đẩy “Ấy chết, ở Việt Nam muốn thành lập hội hè gì là phải xin phép chính phủ đàng hoàng chứ không phải cứ thích mở hội là mở được đâu”.
Nhà văn của người đồng tính
Bùi Anh Tấn là nhà văn công an. Anh bắt đầu sáng tác từ những năm đầu thập niên 90, nhưng chỉ thực sự tiếng nổi như cồn kể từ sau “Một thế giới không có đàn bà” ra đời năm 1999. Hai năm sau đó cuốn tiểu thuyết lĩnh liền hai giải A của cuộc thi Tiểu thuyết năm 1999-2001 và Giải thưởng văn học 1995-2005 (Bộ Công an và Hội Nhà văn ViệtNam tổ chức). Rồi thế giới không đàn bà của anh lại lên phim. Khán giả dán mắt vào ti vi xem loạt phim 10 tập về cảnh sát hình sự với những nhân vật gay chưa bao giờ được lột tả kỹ càng như thế trên màn bạc Việt Nam. Bùi Anh Tấn trở thành người đầu tiên trong làng văn học Việt đi sâu vào đề tài người đồng tính. Thành ra sau này người ta bảo anh dẫn đầu văn học đồng tính, nhà văn của giới đồng tính, rồi thì các diễn đàn của gay, của les thi nhau post tác phẩm, tin hot về Bùi Anh Tấn lên trang mạng của họ. Họ coi anh là nhà văn của họ. “Một thế giới không có đàn bà” bán ra cả vạn bản. Các cuốn sách sau này của Bùi Anh Tấn lúc nào cũng nằm trong danh mục sách bán chạy và có tới phân nửa là viết về người đồng tính như Vòng tay không đàn ông, Phương pháp của A.C Kinsey (tiểu thuyết), Cô đơn, Bướm đêm (tập truyện ngắn)… “Một thế giới không có đàn bà” thậm chí còn được đạo diễn Việt Kiều Canada Cường Ngô dựng lại thành phim truyện nhựa trong năm 2011 do chính tác giả viết kịch bản.
Bùi Anh Tấn viết khỏe, chỉ trong vòng 10 năm đã cho ra đời 3 tập truyện ngắn, 2 kịch bản truyền hình và một màn ảnh rộng, hơn chục cuốn tiểu thuyết mà cuốn nào cũng thuộc loại “cục gạch”, dày muốn vỡ đầu. Bùi Anh Tấn dường như không thích viết chuyện… bình thường, không đồng tính thì cũng đề tài lịch sử (Nguyễn Trãi, Đàm đạo về Điều Ngự Giác Hoàng), tôn giáo (Không và sắc), chiến tranh cách mạng (Kế hoạch hậu chiến 72), tác phẩm biên soạn duy nhất của ngành công an viết về lực lượng CSĐB – Việt Nam Cộng Hòa (Cảnh sát đặc biệt). Cuốn tiểu thuyết ăn khách về đời sống hiện đại Bước chân hoàn vũ thì lại được viết “ngược” từ kịch bản sang tiểu thuyết. Từ bận chuyển về NXB Công an Nhân dân làm biên tập rồi trưởng chi nhánh tại TP Hồ Chí Minh, tranh thủ những giờ nghỉ Bùi Anh Tấn đóng cửa vùi đầu vào viết. Ngày cuối tuần, sáng dậy sớm, ăn sáng, uống cà phê xong là bật máy lên viết. Viết thùi lụi không cần chờ cảm hứng như công chức xách cặp đi làm. Viết nhiều đến mức… phát ghét, phát ghen tị. Mấy bận đến thăm chi nhánh của nhà xuất bản, tôi hỏi Trần Thanh Hà là đồng nghiệp cùng cơ quan anh: “Anh Tấn đang đóng cửa làm gì thế?”. Hà lắc đầu “Lại viết đấy mà. Chỉ viết thôi không thiết làm gì đâu”. Viết lắm, viết khỏe, sách dày, lại bán rõ chạy thì tiền kiếm được nhiều là lẽ đương nhiên rồi. Đâm bạn bè trong giới gọi anh là “nhà văn đại gia”.
Nhà văn đại gia
Có bận Trần Thanh Hà nửa đùa nửa thật liệt kê… gia sản của đồng nghiệp “Gã này giàu lắm. Mỗi phim đều kiếm được vài trăm triệu từ kịch bản, rồi còn tiền bán sách, tiền nhuận bút in báo, tiền… Gã đã mua được một cái nhà, nhưng cũng không cần ở, chỉ cho thuê, lại càng lắm tiền. Mà gã ở cùng bố mẹ, ăn cơm chung với bố mẹ, ngày thì ngồi im viết sách, có cần gì đến tiền đâu”. Nhớ có lần tôi và Trần Thanh Hà, Bùi Anh Tấn với một số người khác ngồi quán cà phê gần chi nhánh NXB. Giữa buổi tôi và Trần Thanh Hà mượn xe Tấn về trước. Chẳng hiểu loay hoay thế nào Hà đánh kẹt chìa khóa xe vào ổ khóa, xoay sang để nổ máy không được mà rút ra cũng chẳng xong. Khổ chủ chạy ra xem cũng chẳng hiểu ra thế nào. Năm sáu người xúm vào cái xe, người lôi kẻ kéo mà chìa như có phép thần, cứ kẹt cứng vào ổ. Cuối cùng đành phải gọi điện cho một cậu thanh niên trai tráng từ NXB chạy sang để rước xe về. Bất lực vì không rút được chìa khóa, tất cả mới hè nhau mắng khổ chủ “Anh Tấn giàu như thế, mua ô tô đi thôi, đi cái xe này nữa làm gì”. Tấn đã cho mượn xe, bị người đánh hỏng xe, nay còn bị mắng vì cái tội tiếc tiền mua xe, mới điên tiết kêu lên “Anh đi mãi có làm sao đâu. Là tại em… cắm nhầm chìa khóa vào đâu ấy chứ”. Hà rối rít thanh minh “Em có cắm nhầm chìa đi đâu đâu, em chỉ cắm vào ổ khóa thôi chứ”.
Cứ hay đùa Tấn làm vậy chứ là người cùng nghề, tôi biết thu nhập kiếm được từ nghề viết dù có nhiều đến mấy cũng chỉ là để thỏa lòng rằng công sức lao động sáng tạo đã được đền đáp, chứ ăn thua chi so với thiên hạ. Bùi Anh Tấn cũng không đến nông nỗi như bị vu cho là chỉ biết đóng cửa ngồi viết không cần tiêu đến tiền. Như đặc tính của nhiều người tuổi Ngựa khác, gã cũng thích rong ruổi khám phá, thích đàn đúm bạn bè và rất hào phóng. Mỗi lần ra Hà Nội, thường hay làm hai việc, ấy là tự đi du lịch và mời bạn bè thật đông đến để gặp gỡ, tiệc tùng. Khách từ xa vào Sài Gòn cũng được gã tiếp đón niềm nở như thế. Khuôn mặt tròn trịa của Bùi Anh Tấn có một nét rất đặc trưng, là lúc nào cũng cười, nụ cười tươi tắn như chẳng biết giận ai bao giờ. Hễ nghe đồn đại về xung đột, khúc mắc gì liên quan đến Tấn mà gọi điện hỏi thì y rằng gã xua đi “Thôi thôi chuyện không có gì đâu”, rồi lại cười tươi roi rói như thể sách vừa vào danh mục best-seller. Thế mà cũng có lần gã giận. Tôi nghe nhiều người nói từ lâu về chuyện Bùi Anh Tấn rút hồ sơ ra khỏi Hội Nhà văn. Ấy là cái chuyện lùm xùm quanh việc người ta đề xuất gã làm đơn rồi năm thứ nhất không duyệt, năm thứ hai lại có người đề nghị nhường lá phiếu, thế là xin rút. Giờ hỏi lại Tấn vẫn cười cười xem chừng rút cho đỡ rắc rối, cho thân phận mình đỡ bị nâng lên đặt xuống mà xét duyệt chứ nào có giận hờn chi đâu. Rút đơn đâm ra lại sang, giờ có nhiều người khuyên nộp đơn lại mà Bùi Anh Tấn cứ cười cười, cười như thể cuộc đời lúc nào cũng một màu hồng.
Nhà văn không… lấy vợ
Cũng vì trót lao vào vụ “đồng tính”, cũng vì trót bị hâm mộ quá đỗi mà fan hâm mộ tìm đến cũng không ít người thuộc về thế giới thứ ba, nhất là trót sống độc thân cho đến tận bây giờ nên bất cứ khi nào nhắc đến Bùi Anh Tấn, người ta hay mắt sáng lên, rồi hạ giọng thầm thì “Bùi Anh Tấn à, có phải gã…?”. Chuyện này đến tai Tấn, gã vẫn cười cười. Cười lúc này thì thực phát ghét lên. Cái người ta muốn biết bây giờ là sự thể thực ra thế nào, chứ cứ cười không là nghĩa làm sao. Sao cũng được. Gã chẳng thèm thanh minh, chẳng thèm khẳng định, có xếp gã vào giới nào trong 3 giới ấy hay thậm chí giới tính thứ tư đi chăng nữa thì vẫn cứ được. Kệ.
Trước khi vào Sài Gòn để tham gia trại sáng tác ở Đà Lạt do NXB Công an Nhân dân tổ chức, biết tôi chuẩn bị gặp Bùi Anh Tấn, Trần Thanh Hà rỉ tai tôi về câu chuyện đồn đại rất hot này. Gọi điện trước cho Bùi Anh Tấn rồi đứng im thít trước cửa chi nhánh để chờ gã ra đón, tôi nhìn thấy một khuôn mặt tươi cười tiến lại gần. Chào hỏi thì ít mà quan sát Tấn thì nhiều, sau này, tôi thường lên tiếng “bảo vệ” gã về cái vụ “thế giới thứ ba” hay thứ mấy ấy. Người có hỏi thì tôi hạ giọng vẻ hiểu biết “Nhìn gã một giây là biết chứ sao. Tiếp xúc thêm một phút nữa thì càng biết gã bị oan”. Sau hay lấy câu chuyện này để đùa thì Bùi Anh Tấn cười to “À, Trần Thanh Hà vẫn giúp anh bằng cách ấy đấy mà. Để phụ nữ gặp anh đỡ phải cảnh giác”. Bùi Anh Tấn nghe chừng oan ức ghê gớm cho dù thi thoảng hành vi của gã có vẻ nữ tính. Ngoài quan tâm đến Phật giáo thì gã còn rất thích hoa. Trong những ngày lưu lại trại sáng tác Đà Lạt, có bận vài người trong đoàn tổ chức đi xe Jeep lên đỉnh Langbian. Xe đỗ dưới chân núi, Bùi Anh Tấn chạy đi mua một lẵng hoa bất tử. Rồi chừng như thấy mình cầm lẵng hoa cũng bất tiện, Bùi Anh Tấn cho lại tôi. Nhà văn Phùng Thiên Tân (giờ là giám đốc NXB Công an Nhân dân) bảo “Em đừng ngạc nhiên. Bùi Anh Tấn đến nhà anh không bao giờ xách theo chai rượu mà toàn mang hoa đến thôi”. Riêng điều này gã đâm được tiếng thanh cảnh, chứ theo những gì tôi chứng kiến thì mỗi lần gặp bạn bè gã chỉ chúi đầu vào nhậu nhẹt, chẳng có hoa lá cành tí nào cả.
Năm nay Bùi Anh Tấn lại có hai tin mừng. Tin mừng thứ nhất là tiểu thuyết nhan đề “Tin mừng” đang được Giáo hội Công giáo thẩm định và hy vọng sách sẽ được ra mắt vào dịp lễ Phục sinh. Gã tâm sự đấy là mong muốn của mình, còn sách có in được hay không, nhất là những sách viết về tôn giáo là quả một quá trình gian nan. Vì gã đã từng có kinh nghiệm này rồi sau tác phẩm viết về Phật giáo - Không và Sắc. Sách dày 400 trang, “Tin mừng” kể về những ngày đầu tiên đạo Thiên chúa vào Việt Nam hồi thế kỷ 16 ở Faifo (Hội An). Tin mừng thứ hai là gã sắp lấy vợ. Người quen biết gã tỏ vẻ tin này không lấy gì làm hot, bảo “Bùi Anh Tấn hô lấy vợ đến 13 lần rồi. Lần nào cũng khấp khởi đóng phong bì cho thật dày, chuẩn bị mua vé máy bay vào ăn mừng rồi lại bị chưng hửng.” Tôi thì mới chứng kiến cái sự báo tin vui của Bùi Anh Tấn lần đầu nên xem ra cũng vẫn lấy làm tò mò lắm lắm. Vợ chưa cưới của gã mới ngoài 30, là giám đốc chi nhánh một ngân hàng. Nghe đâu thiên hạ đồn rằng có lần gã vác một bao tải tiền đến ngân hàng gửi nên từ bận đó mới quen vợ chưa cưới bây giờ.
________________________________________________
Hồ Tây và một trận thi chiến
Hoài Nam
Cả hai bài phú đều xứng đáng được coi như những đỉnh cao của văn chương Nôm, những tuyệt phẩm về ngôn từ. Mặt khác, đây là trận “thi chiến” đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam.
Trong khoảng hai năm đầu tiên của thế kỷ XIX, với sự xuất hiện hai bài phú Nôm, Tụng Tây Hồ phú của Nguyễn Huy Lượng và Chiến tụng Tây Hồ phú của Phạm Thái, Hồ Tây và những khu vực phụ cận - một không gian văn hóa đặc trưng của Hà Nội - đã được vẽ lại bằng ngôn từ, và được vẽ lại theo những cái nhìn - phối cảnh rất đối nghịch. Sở dĩ có thể nói đến chuyện “vẽ lại” ở đây, ấy bởi đặc điểm thể loại (thể phú) của hai tác phẩm mà ra. “Phú giả phô dã” - phú là để bày ra, phô ra, để tự sự, để miêu tả. Những tác phẩm phú (chữ Hán) nổi tiếng như Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu, Chí Linh sơn phú của Nguyễn Trãi hay Trảm xà kiếm phú của Sử Hy Nhan là những ví dụ sáng giá cho khả năng tự sự và miêu tả của thể phú. Hai bài phú Nôm đang được nói đến cũng vậy: trùng trùng điệp điệp những miêu tả cảnh quan khu vực Tây Hồ, lớp gần lớp xa, liên miên như không dứt.
Trong mắt Nguyễn Huy Lượng, Tây Hồ là cả một quần thể di tích đẹp, có sức nhắc gợi quá khứ, khiến cho lịch sử và huyền thoại luôn đồng hiện với con người ngày nay: “Tòa thạch tháp, nọ nơi tiên để báu/ Chốn thổ đôi, kia chỗ Khách chôn bùa/ Đền Mục Lang hương lửa chẳng rời, tay lưới phép còn ghi công bắt hổ/ Quán Trấn Vũ nắng mưa nào chuyển, lưỡi gươm thiêng còn để tích giam rùa/ Kề bến nọ, quán Thiên Niên lớp lớp/ Cách ngàn kia, ghềnh Vạn Bảo nhấp nhô”, thì trong mắt Phạm Thái, quần thể di tích của Tây Hồ đã trở nên hoang tàn, đã tắt ánh hào quang huyền thoại, đã mất thiêng: “Tòa thạch tháp đã tản bình xá lỵ/ Đống thổ đôi đà nát dấu chôn bùa/ Lưới Mục Lang âu nát mất cả giềng, gian chẳng bắt nữa hoài công bắt hổ/ Gươm Trấn Vũ chỉ còn trơ những sống, giặc không giam mà còn sức giam rùa/ Thiên Niên nếu được lâu, sao quán nát?/ Vạn Bảo nào có báu, để ghềnh nhô?”.
Trong mắt Nguyễn Huy Lượng, Tây Hồ là vùng đất lành, nơi có thể thắp lên những tình cảm tôn giáo cao khiết, lại vừa là nơi cư dân tụ hội đông vui, làm ăn buôn bán sầm uất, mọi người sống một đời sống an bình no ấm: “Tòa Kim Liên sóng nổi mùi hương, chùa Trấn Quốc tưởng in mùi Tịnh Phạn/ Hàng cổ thụ gió rung bóng lục, tràng Phụng Thiên nhân sẵn thú Nghi Vu/ Dấu Bố Cái rêu in nền phủ/ Cảnh Bà Đanh hoa khép cửa chùa/ Trông mơ màng dường Đỉnh Thứu nơi kia, vài tổ thước cuối làng kêu lích chích/ Nghe phảng phất ngỡ Động Đào mái nọ, mấy tiếng gà trong trại gáy o o/ Lò Thạch Khối khói tuôn nghi ngút/ Ghềnh nhật Chiêu sóng giật ì ồ/ Rập rềnh cuối bãi Đuôi Nheo, thuyền thương khách hãy chen buồm bươm bướm/ Thanh lảnh đầu hồ Cổ Ngựa, tháp cao tăng còn hé cửa tò vò”, thì trong mắt Phạm Thái, Tây Hồ là cả một nền cảnh cực kỳ lộn xộn chắp vá, đạo thì nực mùi trần mà trần thì lại đầy những tạp hình tạp âm tạp vị (không loại trừ vị của chất thải - niệu thỷ) khiến cho ai nấy đều ngao ngán: “Ngẫm tăng ni thơ thẩn khổ tu hành, anh áo vóc, chị mũ vàng, đỏng đảnh thế ở làm giông phạn vũ/ Xem đồng quán dở dang chiều lý thú, đứa quả đào, thằng khăn trắng, náo nức thay chạy đến quấy Nghi Vu/ Ông Đá dãi dầu hình tượng miếu/ Bà Đanh vắng ngắt tiếng chuông chùa/ Nhà tranh đua đều khấn Bụt cầu giời, đường Quan Thánh khéo lăng nhăng lít nhít/ Chợ xào xạc những buôn hùm bán quỷ, mái Trường Lương nghe lếu láo ỷ o/ Khói lò gạch thổi lưng trời ngùn ngụt/ Sông cánh hàn xô sườn đá ồ ồ/ Bãi Đuôi Nheo tanh ngắt giống tinh chiên, nước trong hờn vẻ nguyệt chẳng còn ưa, thuyền du tử lái quay ra cho chóng/ Hồ Cổ Ngựa thối hoăng mùi niệu thỷ, hoa thơm giận chiều xuân sao nỡ phụ, lều cư nhân gianh nát đã như vò”.
Trong mắt Nguyễn Huy Lượng, không phải tự nhiên mà cảnh Tây Hồ lại đẹp đẽ nhường ấy. Đã có lúc tất cả cảnh trí ở đây đều hoang lương quạnh quẽ. Đó là giai đoạn kéo dài sáu năm trời: từ năm Canh Tý (1780), năm Trịnh Khải âm mưu đảo chính, đến năm Bính Ngọ (1786), năm Tây Sơn kéo quân ra Bắc diệt Trịnh. Trật tự chỉ được vãn hồi kể từ khi Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, tiến quân ra Bắc lần thứ hai, đánh tan đạo quân xâm lược của tổng đốc lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị rồi chính thức đặt sức mạnh vương quyền của mình trên đất Bắc Hà. Nguyễn Huy Lượng không tiếc lời để tả những thay đổi tốt đẹp lớn lao mà sự có mặt của triều Tây Sơn đã mang tới cho cảnh Tây Hồ: “Tới Mậu Thân (1788) từ rỡ vẻ tường vân, sông núi khắp nhờ công đãng địch/ Qua Canh Tuất (1790) lại tưới cơn thời vũ, cỏ cây đều gội đức triêm nhu/ Vũng trì chiểu nước dần dần lặng/ Nơi đình đài hoa phới phới đua/ Chốn bảy cây còn mấy gốc lăng vân, chẳng tùng bách cũng khoe hình thương lão/ Nơi một bến đã đông đoàn hý thủy, tới uyên ương đều thỏa tính trầm phù/ Vẻ hoa thạch châu thêu gấm dệt/ Tiếng trùng cầm ngọc gõ vàng khua”. Ông cũng không quên ca ngợi, một cách trực tiếp, ơn đức của nhà Tây Sơn, và đặc biệt là ông nhấn mạnh vào phẩm chất khoan dung, sự độ lượng của tân triều trước những kẻ bắt chước Bá Di, Thúc Tề, Hứa Do, Sào Phủ bất hợp tác với chính quyền: “Bãi cỏ non, trâu thả ngựa buông, nội Chu đã lắm người ca ngợi/ Làn nước phẳng, kình trầm ngạc lặn, ao Hoàng nào mấy trẻ reo hò/ Mặt đất đùn này thóc này rau, dầu lòng Cô Trúc/ làn nước chảy nọ dòng nọ bến, mặc chí Sào Do”.
Trái lại, trong mắt Phạm Thái, sự có mặt của nhà Tây Sơn mang đến một kết quả khác hẳn. Và bức tranh ông phác ra đã vượt quá khung khổ của cảnh trí Tây Hồ: “Quỷ dạ xoa quấy Bụt xuống chi đây, người bách nghệ đến đâu đều khổ não/ Thần hạn bạt nát ai ra đấy tá, kẻ tam nông mong chẳng được tô nhu/ Cơn binh hỏa trải mấy tao dời đổi/ Buổi phong trần thêm mấy dịp tranh đua/ Lớp tang thương rơi rụng tựa hoa tàn, ngẫm thiên tạo cũng vui thay cảnh thú/ Cuộc Nam Bắc được chăng dường chớp giật, nghĩ thời cơ thêm ngán nỗi khuông phù”. Nếu Nguyễn Huy Lượng bảo rằng dưới triều Tây Sơn thiên hạ đã yên, thì Phạm Thái lại chỉ ra những con sóng ngầm đang chực trồi lên cuốn phăng tất cả cơ đồ mà Nguyễn Huệ một tay gây dựng: “Đông châu mấy kẻ múa gươm trung, buồm cần vương quất ngược ngọn nam phong, thù khấu tặc chí còn chưa thỏa/ Bắc khổn những người đem việc nghĩa, cờ chính khí phất tàn lò hạ hỏa, nợ quân vương lòng chẳng ứng phu”. Ông “giả giọng tiên tri” để bàn về vận mệnh của nhà Tây Sơn: “Thuở bán thiên dồn đến lại thêm phiền, Canh Thân ấy nghĩ còn bền tựa đá/ Quẻ lục hợp bói ra thì cũng phải, Nhâm Tuất kia âu hẳn nát ra tro”. (Canh Thân (1800) là năm quân nhà Nguyễn ở Gia Định phản công mãnh liệt, Nguyễn và Tây Sơn đánh nhau to ở miền Trung. Nhâm Tuất (1802) là năm quân Nguyễn đại thắng, thu toàn bộ non sông về một mối). Có thể nói, đây là hai cái nhìn, hai lập trường đối nhau chan chát. Và ở cuối bài Chiến tụng thì Phạm Thái đã không ngần ngại tuyên bố mục đích viết, đồng thời cũng là tuyên bố quan điểm chính trị của mình: “Giận vì thằng nỡ đặt Tụng Tây Hồ, bênh ngụy tặc bỏ quên thần đế thế/ Cho nên tớ phải họa thiên Chiến Tụng, nguyện ngô quân đem lại nếp hoàng đồ”.
Về tác giả Nguyễn Huy Lượng, trong Từ điển văn học, bộ mới, nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc cho biết: “Nguyễn Huy Lượng thi đậu Hương cống, tức Cử nhân. Dưới thời Lê – Trịnh ông được bổ làm Phụng nghi, một chức quan nhỏ ở bộ Lễ. Sau khi vua Quang Trung ra Bắc đại phá quân Thanh, ông ra cộng tác với nhà Tây Sơn, giữ chức Hữu Thị lang bộ Hộ (nên mới gọi là Hữu hộ Lượng). 1802 triều Tây Sơn sụp đổ, triều Nguyễn lên thay, Nguyễn Huy Lượng bị bắt trong khi quân đội Tây Sơn rút khỏi Bắc thành chạy lên phía bắc. Nguyễn Huy Lượng buộc phải nhận chức tri phủ Xuân Trường của nhà Nguyễn... Bài Tụng Tây Hồ phú viết vào mùa hè năm Tân Dậu (1801) trong dịp triều đình Nguyễn Quang Toản dời đô từ Phú Xuân ra Thăng Long và làm lễ tế trời đất ở Hồ Tây” (tr.1148- 1149). Về tác giả Phạm Thái, nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi cho biết: “Là con Trạch Trung hầu, một cựu thần của nhà Lê khởi binh chống Tây Sơn nhưng thất bại. Tiếp tục lý tưởng của cha, Phạm Thái bấy giờ mới 20 tuổi, đi giao du sơn thủy để kết giao với người cùng chí hướng. Gặp Nguyễn Đoàn, một nhân vật chống đối Tây Sơn, ông viết bài Quân yếu (Cốt yếu của việc binh) bàn luận thế đánh và giữ trong tình hình ấy” (Sđd, tr.1368- 1369). Một vài thông tin như vậy là đủ để cắt nghĩa tại sao con mắt nhìn về cảnh Hồ Tây của hai tác giả lại đối nghịch nhau đến thế. Họ “mượn” việc tả Hồ Tây như một cái cớ để bộc lộ quan điểm, mục đích chính trị của mình. “Gặp thời thế thế thời phải thế”, lịch sử - nhất là lịch sử của những giai đoạn xã hội đầy biến động phức tạp như cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX - có những bước đi ngoắt ngoéo và có những cách áp đặt riêng của nó trên từng cá nhân cụ thể, vì thế không nên đoan quyết một cách vội vã về sự đúng sai trong hành xử của tiền nhân, mà ở đây là Nguyễn Huy Lượng và Phạm Thái. Điều chúng ta có thể chắc chắn, ấy là cả hai bài phú đều xứng đáng được coi như những đỉnh cao của văn chương Nôm, những tuyệt phẩm về ngôn từ. Mặt khác, nếu như người viết không nhầm, đây là trận “thi chiến” đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam: người sáng tác văn chương đã dùng chính tác phẩm văn chương (chứ không phải tác phẩm nghị luận) để đối mặt với nhau, tranh luận với nhau, bác bỏ nhau một cách quyết liệt. Phải chờ đến gần hết thế kỷ XIX, trong bối cảnh thực dân Pháp đã chiếm gọn Nam Kỳ lục tỉnh, “theo Tây” hay “chống Tây” là vấn đề được đặt ra một cách “sát ván” với giới sỹ phu, thì sự “thi chiến” như vậy mới được tiếp tục bằng mười bài thơ trần tình của Tôn Thọ Tường và mười bài họa lại của Phan Văn Trị. Nhưng khi ấy thì văn chương trung đại Việt Nam đã đi đến cuối con đường của một “giai đoạn lớn” trong lịch sử.
_________________________________________________
Cả hai bài phú đều xứng đáng được coi như những đỉnh cao của văn chương Nôm, những tuyệt phẩm về ngôn từ. Mặt khác, đây là trận “thi chiến” đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam.
Trong khoảng hai năm đầu tiên của thế kỷ XIX, với sự xuất hiện hai bài phú Nôm, Tụng Tây Hồ phú của Nguyễn Huy Lượng và Chiến tụng Tây Hồ phú của Phạm Thái, Hồ Tây và những khu vực phụ cận - một không gian văn hóa đặc trưng của Hà Nội - đã được vẽ lại bằng ngôn từ, và được vẽ lại theo những cái nhìn - phối cảnh rất đối nghịch. Sở dĩ có thể nói đến chuyện “vẽ lại” ở đây, ấy bởi đặc điểm thể loại (thể phú) của hai tác phẩm mà ra. “Phú giả phô dã” - phú là để bày ra, phô ra, để tự sự, để miêu tả. Những tác phẩm phú (chữ Hán) nổi tiếng như Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu, Chí Linh sơn phú của Nguyễn Trãi hay Trảm xà kiếm phú của Sử Hy Nhan là những ví dụ sáng giá cho khả năng tự sự và miêu tả của thể phú. Hai bài phú Nôm đang được nói đến cũng vậy: trùng trùng điệp điệp những miêu tả cảnh quan khu vực Tây Hồ, lớp gần lớp xa, liên miên như không dứt.
Trong mắt Nguyễn Huy Lượng, Tây Hồ là cả một quần thể di tích đẹp, có sức nhắc gợi quá khứ, khiến cho lịch sử và huyền thoại luôn đồng hiện với con người ngày nay: “Tòa thạch tháp, nọ nơi tiên để báu/ Chốn thổ đôi, kia chỗ Khách chôn bùa/ Đền Mục Lang hương lửa chẳng rời, tay lưới phép còn ghi công bắt hổ/ Quán Trấn Vũ nắng mưa nào chuyển, lưỡi gươm thiêng còn để tích giam rùa/ Kề bến nọ, quán Thiên Niên lớp lớp/ Cách ngàn kia, ghềnh Vạn Bảo nhấp nhô”, thì trong mắt Phạm Thái, quần thể di tích của Tây Hồ đã trở nên hoang tàn, đã tắt ánh hào quang huyền thoại, đã mất thiêng: “Tòa thạch tháp đã tản bình xá lỵ/ Đống thổ đôi đà nát dấu chôn bùa/ Lưới Mục Lang âu nát mất cả giềng, gian chẳng bắt nữa hoài công bắt hổ/ Gươm Trấn Vũ chỉ còn trơ những sống, giặc không giam mà còn sức giam rùa/ Thiên Niên nếu được lâu, sao quán nát?/ Vạn Bảo nào có báu, để ghềnh nhô?”.
Trong mắt Nguyễn Huy Lượng, Tây Hồ là vùng đất lành, nơi có thể thắp lên những tình cảm tôn giáo cao khiết, lại vừa là nơi cư dân tụ hội đông vui, làm ăn buôn bán sầm uất, mọi người sống một đời sống an bình no ấm: “Tòa Kim Liên sóng nổi mùi hương, chùa Trấn Quốc tưởng in mùi Tịnh Phạn/ Hàng cổ thụ gió rung bóng lục, tràng Phụng Thiên nhân sẵn thú Nghi Vu/ Dấu Bố Cái rêu in nền phủ/ Cảnh Bà Đanh hoa khép cửa chùa/ Trông mơ màng dường Đỉnh Thứu nơi kia, vài tổ thước cuối làng kêu lích chích/ Nghe phảng phất ngỡ Động Đào mái nọ, mấy tiếng gà trong trại gáy o o/ Lò Thạch Khối khói tuôn nghi ngút/ Ghềnh nhật Chiêu sóng giật ì ồ/ Rập rềnh cuối bãi Đuôi Nheo, thuyền thương khách hãy chen buồm bươm bướm/ Thanh lảnh đầu hồ Cổ Ngựa, tháp cao tăng còn hé cửa tò vò”, thì trong mắt Phạm Thái, Tây Hồ là cả một nền cảnh cực kỳ lộn xộn chắp vá, đạo thì nực mùi trần mà trần thì lại đầy những tạp hình tạp âm tạp vị (không loại trừ vị của chất thải - niệu thỷ) khiến cho ai nấy đều ngao ngán: “Ngẫm tăng ni thơ thẩn khổ tu hành, anh áo vóc, chị mũ vàng, đỏng đảnh thế ở làm giông phạn vũ/ Xem đồng quán dở dang chiều lý thú, đứa quả đào, thằng khăn trắng, náo nức thay chạy đến quấy Nghi Vu/ Ông Đá dãi dầu hình tượng miếu/ Bà Đanh vắng ngắt tiếng chuông chùa/ Nhà tranh đua đều khấn Bụt cầu giời, đường Quan Thánh khéo lăng nhăng lít nhít/ Chợ xào xạc những buôn hùm bán quỷ, mái Trường Lương nghe lếu láo ỷ o/ Khói lò gạch thổi lưng trời ngùn ngụt/ Sông cánh hàn xô sườn đá ồ ồ/ Bãi Đuôi Nheo tanh ngắt giống tinh chiên, nước trong hờn vẻ nguyệt chẳng còn ưa, thuyền du tử lái quay ra cho chóng/ Hồ Cổ Ngựa thối hoăng mùi niệu thỷ, hoa thơm giận chiều xuân sao nỡ phụ, lều cư nhân gianh nát đã như vò”.
Trong mắt Nguyễn Huy Lượng, không phải tự nhiên mà cảnh Tây Hồ lại đẹp đẽ nhường ấy. Đã có lúc tất cả cảnh trí ở đây đều hoang lương quạnh quẽ. Đó là giai đoạn kéo dài sáu năm trời: từ năm Canh Tý (1780), năm Trịnh Khải âm mưu đảo chính, đến năm Bính Ngọ (1786), năm Tây Sơn kéo quân ra Bắc diệt Trịnh. Trật tự chỉ được vãn hồi kể từ khi Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, tiến quân ra Bắc lần thứ hai, đánh tan đạo quân xâm lược của tổng đốc lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị rồi chính thức đặt sức mạnh vương quyền của mình trên đất Bắc Hà. Nguyễn Huy Lượng không tiếc lời để tả những thay đổi tốt đẹp lớn lao mà sự có mặt của triều Tây Sơn đã mang tới cho cảnh Tây Hồ: “Tới Mậu Thân (1788) từ rỡ vẻ tường vân, sông núi khắp nhờ công đãng địch/ Qua Canh Tuất (1790) lại tưới cơn thời vũ, cỏ cây đều gội đức triêm nhu/ Vũng trì chiểu nước dần dần lặng/ Nơi đình đài hoa phới phới đua/ Chốn bảy cây còn mấy gốc lăng vân, chẳng tùng bách cũng khoe hình thương lão/ Nơi một bến đã đông đoàn hý thủy, tới uyên ương đều thỏa tính trầm phù/ Vẻ hoa thạch châu thêu gấm dệt/ Tiếng trùng cầm ngọc gõ vàng khua”. Ông cũng không quên ca ngợi, một cách trực tiếp, ơn đức của nhà Tây Sơn, và đặc biệt là ông nhấn mạnh vào phẩm chất khoan dung, sự độ lượng của tân triều trước những kẻ bắt chước Bá Di, Thúc Tề, Hứa Do, Sào Phủ bất hợp tác với chính quyền: “Bãi cỏ non, trâu thả ngựa buông, nội Chu đã lắm người ca ngợi/ Làn nước phẳng, kình trầm ngạc lặn, ao Hoàng nào mấy trẻ reo hò/ Mặt đất đùn này thóc này rau, dầu lòng Cô Trúc/ làn nước chảy nọ dòng nọ bến, mặc chí Sào Do”.
Trái lại, trong mắt Phạm Thái, sự có mặt của nhà Tây Sơn mang đến một kết quả khác hẳn. Và bức tranh ông phác ra đã vượt quá khung khổ của cảnh trí Tây Hồ: “Quỷ dạ xoa quấy Bụt xuống chi đây, người bách nghệ đến đâu đều khổ não/ Thần hạn bạt nát ai ra đấy tá, kẻ tam nông mong chẳng được tô nhu/ Cơn binh hỏa trải mấy tao dời đổi/ Buổi phong trần thêm mấy dịp tranh đua/ Lớp tang thương rơi rụng tựa hoa tàn, ngẫm thiên tạo cũng vui thay cảnh thú/ Cuộc Nam Bắc được chăng dường chớp giật, nghĩ thời cơ thêm ngán nỗi khuông phù”. Nếu Nguyễn Huy Lượng bảo rằng dưới triều Tây Sơn thiên hạ đã yên, thì Phạm Thái lại chỉ ra những con sóng ngầm đang chực trồi lên cuốn phăng tất cả cơ đồ mà Nguyễn Huệ một tay gây dựng: “Đông châu mấy kẻ múa gươm trung, buồm cần vương quất ngược ngọn nam phong, thù khấu tặc chí còn chưa thỏa/ Bắc khổn những người đem việc nghĩa, cờ chính khí phất tàn lò hạ hỏa, nợ quân vương lòng chẳng ứng phu”. Ông “giả giọng tiên tri” để bàn về vận mệnh của nhà Tây Sơn: “Thuở bán thiên dồn đến lại thêm phiền, Canh Thân ấy nghĩ còn bền tựa đá/ Quẻ lục hợp bói ra thì cũng phải, Nhâm Tuất kia âu hẳn nát ra tro”. (Canh Thân (1800) là năm quân nhà Nguyễn ở Gia Định phản công mãnh liệt, Nguyễn và Tây Sơn đánh nhau to ở miền Trung. Nhâm Tuất (1802) là năm quân Nguyễn đại thắng, thu toàn bộ non sông về một mối). Có thể nói, đây là hai cái nhìn, hai lập trường đối nhau chan chát. Và ở cuối bài Chiến tụng thì Phạm Thái đã không ngần ngại tuyên bố mục đích viết, đồng thời cũng là tuyên bố quan điểm chính trị của mình: “Giận vì thằng nỡ đặt Tụng Tây Hồ, bênh ngụy tặc bỏ quên thần đế thế/ Cho nên tớ phải họa thiên Chiến Tụng, nguyện ngô quân đem lại nếp hoàng đồ”.
Về tác giả Nguyễn Huy Lượng, trong Từ điển văn học, bộ mới, nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc cho biết: “Nguyễn Huy Lượng thi đậu Hương cống, tức Cử nhân. Dưới thời Lê – Trịnh ông được bổ làm Phụng nghi, một chức quan nhỏ ở bộ Lễ. Sau khi vua Quang Trung ra Bắc đại phá quân Thanh, ông ra cộng tác với nhà Tây Sơn, giữ chức Hữu Thị lang bộ Hộ (nên mới gọi là Hữu hộ Lượng). 1802 triều Tây Sơn sụp đổ, triều Nguyễn lên thay, Nguyễn Huy Lượng bị bắt trong khi quân đội Tây Sơn rút khỏi Bắc thành chạy lên phía bắc. Nguyễn Huy Lượng buộc phải nhận chức tri phủ Xuân Trường của nhà Nguyễn... Bài Tụng Tây Hồ phú viết vào mùa hè năm Tân Dậu (1801) trong dịp triều đình Nguyễn Quang Toản dời đô từ Phú Xuân ra Thăng Long và làm lễ tế trời đất ở Hồ Tây” (tr.1148- 1149). Về tác giả Phạm Thái, nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi cho biết: “Là con Trạch Trung hầu, một cựu thần của nhà Lê khởi binh chống Tây Sơn nhưng thất bại. Tiếp tục lý tưởng của cha, Phạm Thái bấy giờ mới 20 tuổi, đi giao du sơn thủy để kết giao với người cùng chí hướng. Gặp Nguyễn Đoàn, một nhân vật chống đối Tây Sơn, ông viết bài Quân yếu (Cốt yếu của việc binh) bàn luận thế đánh và giữ trong tình hình ấy” (Sđd, tr.1368- 1369). Một vài thông tin như vậy là đủ để cắt nghĩa tại sao con mắt nhìn về cảnh Hồ Tây của hai tác giả lại đối nghịch nhau đến thế. Họ “mượn” việc tả Hồ Tây như một cái cớ để bộc lộ quan điểm, mục đích chính trị của mình. “Gặp thời thế thế thời phải thế”, lịch sử - nhất là lịch sử của những giai đoạn xã hội đầy biến động phức tạp như cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX - có những bước đi ngoắt ngoéo và có những cách áp đặt riêng của nó trên từng cá nhân cụ thể, vì thế không nên đoan quyết một cách vội vã về sự đúng sai trong hành xử của tiền nhân, mà ở đây là Nguyễn Huy Lượng và Phạm Thái. Điều chúng ta có thể chắc chắn, ấy là cả hai bài phú đều xứng đáng được coi như những đỉnh cao của văn chương Nôm, những tuyệt phẩm về ngôn từ. Mặt khác, nếu như người viết không nhầm, đây là trận “thi chiến” đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam: người sáng tác văn chương đã dùng chính tác phẩm văn chương (chứ không phải tác phẩm nghị luận) để đối mặt với nhau, tranh luận với nhau, bác bỏ nhau một cách quyết liệt. Phải chờ đến gần hết thế kỷ XIX, trong bối cảnh thực dân Pháp đã chiếm gọn Nam Kỳ lục tỉnh, “theo Tây” hay “chống Tây” là vấn đề được đặt ra một cách “sát ván” với giới sỹ phu, thì sự “thi chiến” như vậy mới được tiếp tục bằng mười bài thơ trần tình của Tôn Thọ Tường và mười bài họa lại của Phan Văn Trị. Nhưng khi ấy thì văn chương trung đại Việt Nam đã đi đến cuối con đường của một “giai đoạn lớn” trong lịch sử.
_________________________________________________
Thứ Ba, 1 tháng 3, 2011
Mưa Vĩnh Hưng
Tản văn
Nguyễn Ngọc Tư
Đám mây đen ướt sũng nước nằm chắn ngang phía con đường đang vút tới, như một cánh cửa đóng sập xuống. Vĩnh Hưng đằng trước. Cột cây số nói vậy. Nhưng sấm chớp thì nói đi nữa sẽ gặp mưa ướt mèm, có đáng không?
Bạn đã đối diện với câu hỏi đó hàng trăm lần trong đời, "Có đáng không?". Gã đó có đáng cho ta ba chấm (*) không, chuyện đổ vỡ nhỏ đó có đáng cho ta buồn không, thất bại đó có đáng cho ta ngã gục không… Và "có đáng không" nhiều lúc được hiểu như "nơi đó có gì hay mà ta phải cực thân dữ vậy?". Đó là những khi bạn trên đường gió bụi, phải dắt chiếc xe cán đinh thất thểu đi tìm chỗ vá, phải nằm queo trong căn phòng trọ mốc meo không điện không nước cửa không chốt gài, phải thấy mình đang ngun ngút bốc hơi trong nắng lửa, và gió cát tát vào mắt…
Do dự vặn vẹo làm bạn mệt phờ, nó muốn bạn bỏ dở cuộc đi, ru ầu ơ chăn gối ấm ví dầu tắm nước nóng… Có khi nó thắng. Cũng có khi bạn kháng cự bằng tất cả những gì bạn có, đây này đồi chè đây này suối nước nóng, và những cánh đồng triền miên hoa cải, nhưng nhiều lúc bạn chỉ có mỗi cái tên, một chấm nhỏ trên bản đồ. Và từng ấy cũng đủ. Những Khâu Băng, Rừng Lạnh, Khau Phạ, Cành Nàng, Đồng Bụt, Thứ Mười Một… Những cái tên gợi cảm, xa xăm, sâu thẳm như được gọi lên từ một miền trời khác. Những cái tên khiến bạn thèm ăn chúng, hít thở chúng. Những cái tên mời mọc bạn lên đường và giữ bạn trên đường.
Và bạn chưa bao giờ thất vọng, ngay cả nơi đó khô rốc gió Lào, lèo tèo vài hàng quán nhỏ, bụi mù đỏ và không một bóng cây. Có lẽ thất vọng thường đi kèm lời hứa, nhưng bạn hầu như chẳng nhận được lời hứa nào. Chúng chỉ như bảo, tôi đây, đến với tôi đi, tôi có gì á, tới đây rồi biết. Như Vĩnh Hưng, không thể hiện chút gì về mình ngoài cái tên cheo leo nơi biên giới. Ở chỗ cách Vĩnh Hưng bảy cây số, thực sự cái bạn đang có chỉ mưa là mưa. Không, tận hai cơn mưa, chúng kẹp bạn ở giữa. Tạt vô một căn nhà bên đường trốn ướt, bạn vuốt nước mưa trên mặt, thấy Có Đáng Không nhăn nhở chập chờn.
Nhưng nó biến mất tăm, kể từ bạn ngó ông già đang nằm ngủ bộ vạc trước nhà. Chân buông thõng xuống, cái quần cộc rộng lồng gió phất phơ, hồn nhiên để lộ những cơ bắp chảy nhão. Ông già ngáy đều, nghe trong mưa có tiếng lật phật của môi. Bộ điệu nhẹ nhỏm như thể giấc ngủ đến rất tình cờ, như thể ông già đang ngồi đợi ngắm mưa thì buồn ngủ quá nhẹ nhàng lăn ra vạc, bỏ trời đất bơ vơ.
Cửa nhà mở toang. Ghé đụt mưa cả buổi chỉ có một chị ló đầu ra ngó, cười tươi rồi lại biến mất, bên trong tiếng trẻ con ríu ran. Ông già nằm không cục cựa, giấc mơ trưa trôi giữa cơn run rẩy của đất trời. Con chó nằm cạnh cái tủ thờ chỉ ngóc đầu lên ngó rồi gối đầu lên chân lim dim. Mấy cây bàng xòe tán che kín mặt sân, lá rụng chở mưa xuống đất cho mưa đỡ đau.
Bạn nín thở rón rén bỏ đi. Bạn sợ chút nữa đây con chó sẽ sủa những âm thanh hằn học và ông già bị đánh thức, trẻ con trong nhà sẽ ùa ra hỏi hau háu ủa dì ở đâu mà đi tới đây, Vĩnh Hưng chán thí mồ mà chơi gì? Tụi nhỏ sẽ không bao giờ tin bạn tìm được thiên đường ở đây, ngay nhà chúng.
Tụi nhỏ không bao giờ hiểu cái cảm giác thanh bình này đáng giá bao nhiêu, và bạn phải đi xa bao nhiêu mới gặp. Có những nơi trên dãi đất này, nó đẹp không phải vì cảnh đẹp. Bên ngoài thềm nhà đó cũng là xóm làng mênh mông, đi lòng vòng cả buổi bạn không gặp một nét mặt thăm dò, không nhìn thấy sự dè dặt, thù hằn, không có ai dõi mắt theo, không một tiếng động nào chát chúa. Bình yên lẩn khuất trong từng nắm mưa lâm thâm, trong bộ điệu lừng khừng nửa trôi nửa dừng của mấy chiếc tắc rán giữa sông, trong cái barie chỗ vọng gác biên giới được anh lính biên phòng nào lơ đãng kéo chếch lên, như không còn gì ngăn cách ta và bạn, trong mưa này. Vài bà già làm công quả trong chánh điện chùa Nổi đang rị mọ lau mấy cái chân đèn, bỗng có bà dừng tay bồn chồn bới củ tỏi lại búng tóc sương, khi nghe tiếng ho từ ngôi nhà sàn bên kia màn mưa - chỗ ông thầy trụ trì chùa đang ở. Chẳng hiểu sao bạn nghĩ tới một mối tình thầm, man mác, trắc trở. Chắc tại mưa khiến xui…
Lúc trở về ngang qua cái nhà mà mình khi nãy ghé qua, thấy bộ vạc trống trơn. Chắc là ông già nghe lạnh nên tỉnh dậy mất rồi. Vĩnh Hưng như một giấc mơ, chỉ mưa là thật…
(*) …
______________________________________________________
Nguyễn Ngọc Tư
Đám mây đen ướt sũng nước nằm chắn ngang phía con đường đang vút tới, như một cánh cửa đóng sập xuống. Vĩnh Hưng đằng trước. Cột cây số nói vậy. Nhưng sấm chớp thì nói đi nữa sẽ gặp mưa ướt mèm, có đáng không?
Bạn đã đối diện với câu hỏi đó hàng trăm lần trong đời, "Có đáng không?". Gã đó có đáng cho ta ba chấm (*) không, chuyện đổ vỡ nhỏ đó có đáng cho ta buồn không, thất bại đó có đáng cho ta ngã gục không… Và "có đáng không" nhiều lúc được hiểu như "nơi đó có gì hay mà ta phải cực thân dữ vậy?". Đó là những khi bạn trên đường gió bụi, phải dắt chiếc xe cán đinh thất thểu đi tìm chỗ vá, phải nằm queo trong căn phòng trọ mốc meo không điện không nước cửa không chốt gài, phải thấy mình đang ngun ngút bốc hơi trong nắng lửa, và gió cát tát vào mắt…
Do dự vặn vẹo làm bạn mệt phờ, nó muốn bạn bỏ dở cuộc đi, ru ầu ơ chăn gối ấm ví dầu tắm nước nóng… Có khi nó thắng. Cũng có khi bạn kháng cự bằng tất cả những gì bạn có, đây này đồi chè đây này suối nước nóng, và những cánh đồng triền miên hoa cải, nhưng nhiều lúc bạn chỉ có mỗi cái tên, một chấm nhỏ trên bản đồ. Và từng ấy cũng đủ. Những Khâu Băng, Rừng Lạnh, Khau Phạ, Cành Nàng, Đồng Bụt, Thứ Mười Một… Những cái tên gợi cảm, xa xăm, sâu thẳm như được gọi lên từ một miền trời khác. Những cái tên khiến bạn thèm ăn chúng, hít thở chúng. Những cái tên mời mọc bạn lên đường và giữ bạn trên đường.
Và bạn chưa bao giờ thất vọng, ngay cả nơi đó khô rốc gió Lào, lèo tèo vài hàng quán nhỏ, bụi mù đỏ và không một bóng cây. Có lẽ thất vọng thường đi kèm lời hứa, nhưng bạn hầu như chẳng nhận được lời hứa nào. Chúng chỉ như bảo, tôi đây, đến với tôi đi, tôi có gì á, tới đây rồi biết. Như Vĩnh Hưng, không thể hiện chút gì về mình ngoài cái tên cheo leo nơi biên giới. Ở chỗ cách Vĩnh Hưng bảy cây số, thực sự cái bạn đang có chỉ mưa là mưa. Không, tận hai cơn mưa, chúng kẹp bạn ở giữa. Tạt vô một căn nhà bên đường trốn ướt, bạn vuốt nước mưa trên mặt, thấy Có Đáng Không nhăn nhở chập chờn.
Nhưng nó biến mất tăm, kể từ bạn ngó ông già đang nằm ngủ bộ vạc trước nhà. Chân buông thõng xuống, cái quần cộc rộng lồng gió phất phơ, hồn nhiên để lộ những cơ bắp chảy nhão. Ông già ngáy đều, nghe trong mưa có tiếng lật phật của môi. Bộ điệu nhẹ nhỏm như thể giấc ngủ đến rất tình cờ, như thể ông già đang ngồi đợi ngắm mưa thì buồn ngủ quá nhẹ nhàng lăn ra vạc, bỏ trời đất bơ vơ.
Cửa nhà mở toang. Ghé đụt mưa cả buổi chỉ có một chị ló đầu ra ngó, cười tươi rồi lại biến mất, bên trong tiếng trẻ con ríu ran. Ông già nằm không cục cựa, giấc mơ trưa trôi giữa cơn run rẩy của đất trời. Con chó nằm cạnh cái tủ thờ chỉ ngóc đầu lên ngó rồi gối đầu lên chân lim dim. Mấy cây bàng xòe tán che kín mặt sân, lá rụng chở mưa xuống đất cho mưa đỡ đau.
Bạn nín thở rón rén bỏ đi. Bạn sợ chút nữa đây con chó sẽ sủa những âm thanh hằn học và ông già bị đánh thức, trẻ con trong nhà sẽ ùa ra hỏi hau háu ủa dì ở đâu mà đi tới đây, Vĩnh Hưng chán thí mồ mà chơi gì? Tụi nhỏ sẽ không bao giờ tin bạn tìm được thiên đường ở đây, ngay nhà chúng.
Tụi nhỏ không bao giờ hiểu cái cảm giác thanh bình này đáng giá bao nhiêu, và bạn phải đi xa bao nhiêu mới gặp. Có những nơi trên dãi đất này, nó đẹp không phải vì cảnh đẹp. Bên ngoài thềm nhà đó cũng là xóm làng mênh mông, đi lòng vòng cả buổi bạn không gặp một nét mặt thăm dò, không nhìn thấy sự dè dặt, thù hằn, không có ai dõi mắt theo, không một tiếng động nào chát chúa. Bình yên lẩn khuất trong từng nắm mưa lâm thâm, trong bộ điệu lừng khừng nửa trôi nửa dừng của mấy chiếc tắc rán giữa sông, trong cái barie chỗ vọng gác biên giới được anh lính biên phòng nào lơ đãng kéo chếch lên, như không còn gì ngăn cách ta và bạn, trong mưa này. Vài bà già làm công quả trong chánh điện chùa Nổi đang rị mọ lau mấy cái chân đèn, bỗng có bà dừng tay bồn chồn bới củ tỏi lại búng tóc sương, khi nghe tiếng ho từ ngôi nhà sàn bên kia màn mưa - chỗ ông thầy trụ trì chùa đang ở. Chẳng hiểu sao bạn nghĩ tới một mối tình thầm, man mác, trắc trở. Chắc tại mưa khiến xui…
Lúc trở về ngang qua cái nhà mà mình khi nãy ghé qua, thấy bộ vạc trống trơn. Chắc là ông già nghe lạnh nên tỉnh dậy mất rồi. Vĩnh Hưng như một giấc mơ, chỉ mưa là thật…
(*) …
______________________________________________________
Đâu phải chuyện lăng xê
Hà Dương
(HNM) - Một cuộc tọa đàm trực diện vào vấn đề "nhạy cảm" của đời sống văn học "PR trong văn học" thu hút ý kiến từ chuyên gia cho tới sinh viên trẻ. Một cuốn sách "Kỹ năng viết trong quan hệ công chúng" trở thành giáo trình đầu tiên cho Khoa Quan hệ công chúng của một trường ĐH. Và hơn cả là một đời sống văn học với dấu ấn PR ngày càng rõ nét, bất kể người ta hiểu về nó đến đâu… Tất cả khiến người ta cần nhìn nhận về PR trong văn học một cách khách quan hơn.
PR có xấu?
Nhà văn trẻ DiLi từng chia sẻ tại cuộc tọa đàm về "PR trong văn học": "Cho đến giờ, phần lớn công chúng vẫn hiểu biết lờ mờ về PR, thậm chí cứ nghĩ PR là xấu. Người ta từng liên tưởng từ "Marketing" với hình ảnh nhân viên quảng cáo bột giặt đi đến từng nhà phát quà, giờ lại nghĩ PR rầm rộ trên báo chí là gây xì căng đan".
Cũng dễ hiểu cho câu chuyện nhầm lẫn này khi khái niệm PR mới "nhập cảnh" vào nước ta độ chục năm trở lại đây. Không hiểu đầy đủ dẫn tới lạm dụng hoặc tẩy chay là việc đều có thể xảy ra. Không riêng gì văn học, các ngành nghệ thuật khác cũng đều phải làm quen với nhiều khái niệm nghề nghiệp mới như D.O.P - giám đốc hình ảnh (điện ảnh), như curator - người tổ chức triển lãm, làm cầu nối giữa tác giả với công chúng (mỹ thuật)… PR là khái niệm liên quan tới rất nhiều lĩnh vực, từ văn hóa, giáo dục, y tế cho tới kinh tế nhưng với riêng văn học, vai trò của PR có độ "nhạy cảm" nhất định. Quan niệm từ xưa là tác giả chỉ làm công việc sáng tác, ai lại đi tự giới thiệu tác phẩm của mình. Nhà văn vốn là người viết, nay sinh mệnh tác phẩm lại phụ thuộc vào một trang A4 của người làm PR… Rồi tác phẩm nhàng nhàng, lạm dụng sex thô thiển, nhưng được lăng xê khiến sách nối bản ầm ầm, cũng làm những người viết chân chính nhìn PR một cách e dè hơn.
Theo cuốn "Kỹ năng viết trong quan hệ công chúng" (Trường ĐH Hòa Bình, do Nguyễn Diệu Linh biên soạn) thì PR (Public Relation - quan hệ công chúng) đã xuất hiện ở phương Tây từ thế kỷ XIX. Công cụ chủ yếu của PR là các văn bản: thông cáo báo chí, bài báo chuyên đề, tờ rơi, diễn văn và các loại báo cáo. Văn bản đó đại diện cho tổ chức truyền tải thông điệp đến công chúng và giới truyền thông nhằm tạo sự hiểu biết hai chiều; bảo vệ, phát triển hình ảnh, uy tín của tổ chức và thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của công chúng. PR chuyên nghiệp cần những chuyên viên được đào tạo bài bản về viết, tổ chức sự kiện, giao tiếp, ngoại ngữ…
PR là một nghề hội tụ nhiều yếu tố, mà đã là nghề thì phải được tồn tại bình đẳng như nhiều nghề khác, có chuyên nghiệp không chuyên, có người làm tốt, làm không tốt. Tuy nhiên, đào tạo bài bản phải có thời gian, trong khi đời sống văn học đang vận động, chẳng đợi ai. Vậy thì cũng nên nhìn PR trong văn học giản dị trên cơ sở hiểu đúng bản chất nghề này: "Đó là một việc nghiêm túc để giới thiệu tác phẩm tới với công chúng".
Nhìn lại sự chuyển động của xuất bản suốt những năm qua, khi các đơn vị làm sách tư nhân phát triển mạnh mẽ, góp phần tạo ra đời sống văn học sôi động thì có thể lúc đầu PR nảy sinh từ mục tiêu kinh doanh, nhưng không vì thế mà bản chất nghề nghiệp của PR thay đổi. Đời sống thông tin phong phú, đa dạng, đa chiều như hiện nay đã tạo ra môi trường mới, đòi hỏi hoạt động giới thiệu tác phẩm văn học phải vận động, thay đổi từ việc nhỏ như in một trang bìa ấn tượng, tổ chức tốt giới thiệu tác phẩm, thậm chí là đổi mới việc tổ chức xét, trao giải thưởng văn học… Tác phẩm văn học, ngoài ý nghĩa lớn lao của một sản phẩm văn hóa tinh thần, nó còn là một sản phẩm đặc biệt của thị trường, có trách nhiệm trong phát triển kinh tế hội nhập văn hóa quốc tế. Điều này đã được đề cập sâu tại hội thảo "Văn học nghệ thuật trong cơ chế thị trường và hội nhập" do Hội đồng Lý luận phê bình Văn học nghệ thuật TƯ tổ chức năm 2009.
Công thức bút chì - Pencils
Cảm nhận được dòng chuyển động mới, nhiều nhà văn trẻ đã ý thức được hiệu quả của việc giới thiệu tác phẩm của mình tới công chúng. Báo chí đưa tin nhà văn Nguyễn Ngọc Tư viết trên mạng giới thiệu tập truyện ngắn "Khói trời lộng lẫy" một cách rất dí dỏm rằng: "Bạn có thể không thích em í ngay bây giờ nhưng vào một cơn gió nào đó khiến bạn bỗng dưng muốn sến, em í rất hợp với tâm trạng bạn lúc đó. Sến pha chút quê quê và dịu dàng thủ thỉ i ỉ ì i. Bạn được trao quyền chủ động phụ rẫy còn em í chỉ biết cúc cung chung thủy và chung thủy đến hết đời... Đấy, em í đang ở trên kệ và hết sức gọi mời, "nào, hãy cưới tôi đi" .
Nhà văn trẻ Xuân Thủy cũng nêu rõ quan điểm: PR trong văn học giúp người đọc hiểu rõ về tác giả, tác phẩm hơn, tạo những cơ hội để tác phẩm đến được với công chúng. Còn việc nó ở lại bao lâu thì lại tùy thuộc vào sức lay động của tác phẩm đó. Nhà văn DiLi cho rằng: "Sự lăng xê tác phẩm thái quá gây phản cảm và phản PR".
TS Nguyễn Mạnh Hùng, Giám đốc Thái Hà Books chỉ ra một thực tế là các nhà văn nước ngoài được ưa chuộng hơn trong nước, trong khi Việt Nam có nhiều tác giả giỏi, viết hay lại chưa được biết tới. Và ông nêu ra công thức "Pencils", trong đó mỗi chữ cái là chữ mở đầu cho một từ tiếng Anh có liên quan đến PR trong văn học, đó là P (quan hệ công chúng), E (tổ chức sự kiện), N (tin tức, thông tin), C (hướng tới cộng đồng), I (công cụ nhận dạng - thương hiệu) L (vận động hành lang) và S (đầu tư xã hội như giao lưu, tặng sách…). Một cách nói về PR thú vị, nhưng có lẽ người viết xin được bổ sung một ý đó là nhấn mạnh yếu tố "N" (news - tin tức) - chữ cái trọng tâm trong công thức này. Thông tin chân thực về tác giả, quá trình sáng tác, tác phẩm… có giá trị rất lớn, giúp người đọc gần hơn với câu chuyện, với người kể chuyện. Nó gây được thiện cảm chứ không phản cảm với những lời lăng xê đơn thuần.
_______________________________________________________
(HNM) - Một cuộc tọa đàm trực diện vào vấn đề "nhạy cảm" của đời sống văn học "PR trong văn học" thu hút ý kiến từ chuyên gia cho tới sinh viên trẻ. Một cuốn sách "Kỹ năng viết trong quan hệ công chúng" trở thành giáo trình đầu tiên cho Khoa Quan hệ công chúng của một trường ĐH. Và hơn cả là một đời sống văn học với dấu ấn PR ngày càng rõ nét, bất kể người ta hiểu về nó đến đâu… Tất cả khiến người ta cần nhìn nhận về PR trong văn học một cách khách quan hơn.
PR có xấu?
Nhà văn trẻ DiLi từng chia sẻ tại cuộc tọa đàm về "PR trong văn học": "Cho đến giờ, phần lớn công chúng vẫn hiểu biết lờ mờ về PR, thậm chí cứ nghĩ PR là xấu. Người ta từng liên tưởng từ "Marketing" với hình ảnh nhân viên quảng cáo bột giặt đi đến từng nhà phát quà, giờ lại nghĩ PR rầm rộ trên báo chí là gây xì căng đan".
Cũng dễ hiểu cho câu chuyện nhầm lẫn này khi khái niệm PR mới "nhập cảnh" vào nước ta độ chục năm trở lại đây. Không hiểu đầy đủ dẫn tới lạm dụng hoặc tẩy chay là việc đều có thể xảy ra. Không riêng gì văn học, các ngành nghệ thuật khác cũng đều phải làm quen với nhiều khái niệm nghề nghiệp mới như D.O.P - giám đốc hình ảnh (điện ảnh), như curator - người tổ chức triển lãm, làm cầu nối giữa tác giả với công chúng (mỹ thuật)… PR là khái niệm liên quan tới rất nhiều lĩnh vực, từ văn hóa, giáo dục, y tế cho tới kinh tế nhưng với riêng văn học, vai trò của PR có độ "nhạy cảm" nhất định. Quan niệm từ xưa là tác giả chỉ làm công việc sáng tác, ai lại đi tự giới thiệu tác phẩm của mình. Nhà văn vốn là người viết, nay sinh mệnh tác phẩm lại phụ thuộc vào một trang A4 của người làm PR… Rồi tác phẩm nhàng nhàng, lạm dụng sex thô thiển, nhưng được lăng xê khiến sách nối bản ầm ầm, cũng làm những người viết chân chính nhìn PR một cách e dè hơn.
Theo cuốn "Kỹ năng viết trong quan hệ công chúng" (Trường ĐH Hòa Bình, do Nguyễn Diệu Linh biên soạn) thì PR (Public Relation - quan hệ công chúng) đã xuất hiện ở phương Tây từ thế kỷ XIX. Công cụ chủ yếu của PR là các văn bản: thông cáo báo chí, bài báo chuyên đề, tờ rơi, diễn văn và các loại báo cáo. Văn bản đó đại diện cho tổ chức truyền tải thông điệp đến công chúng và giới truyền thông nhằm tạo sự hiểu biết hai chiều; bảo vệ, phát triển hình ảnh, uy tín của tổ chức và thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của công chúng. PR chuyên nghiệp cần những chuyên viên được đào tạo bài bản về viết, tổ chức sự kiện, giao tiếp, ngoại ngữ…
PR là một nghề hội tụ nhiều yếu tố, mà đã là nghề thì phải được tồn tại bình đẳng như nhiều nghề khác, có chuyên nghiệp không chuyên, có người làm tốt, làm không tốt. Tuy nhiên, đào tạo bài bản phải có thời gian, trong khi đời sống văn học đang vận động, chẳng đợi ai. Vậy thì cũng nên nhìn PR trong văn học giản dị trên cơ sở hiểu đúng bản chất nghề này: "Đó là một việc nghiêm túc để giới thiệu tác phẩm tới với công chúng".
Nhìn lại sự chuyển động của xuất bản suốt những năm qua, khi các đơn vị làm sách tư nhân phát triển mạnh mẽ, góp phần tạo ra đời sống văn học sôi động thì có thể lúc đầu PR nảy sinh từ mục tiêu kinh doanh, nhưng không vì thế mà bản chất nghề nghiệp của PR thay đổi. Đời sống thông tin phong phú, đa dạng, đa chiều như hiện nay đã tạo ra môi trường mới, đòi hỏi hoạt động giới thiệu tác phẩm văn học phải vận động, thay đổi từ việc nhỏ như in một trang bìa ấn tượng, tổ chức tốt giới thiệu tác phẩm, thậm chí là đổi mới việc tổ chức xét, trao giải thưởng văn học… Tác phẩm văn học, ngoài ý nghĩa lớn lao của một sản phẩm văn hóa tinh thần, nó còn là một sản phẩm đặc biệt của thị trường, có trách nhiệm trong phát triển kinh tế hội nhập văn hóa quốc tế. Điều này đã được đề cập sâu tại hội thảo "Văn học nghệ thuật trong cơ chế thị trường và hội nhập" do Hội đồng Lý luận phê bình Văn học nghệ thuật TƯ tổ chức năm 2009.
Công thức bút chì - Pencils
Cảm nhận được dòng chuyển động mới, nhiều nhà văn trẻ đã ý thức được hiệu quả của việc giới thiệu tác phẩm của mình tới công chúng. Báo chí đưa tin nhà văn Nguyễn Ngọc Tư viết trên mạng giới thiệu tập truyện ngắn "Khói trời lộng lẫy" một cách rất dí dỏm rằng: "Bạn có thể không thích em í ngay bây giờ nhưng vào một cơn gió nào đó khiến bạn bỗng dưng muốn sến, em í rất hợp với tâm trạng bạn lúc đó. Sến pha chút quê quê và dịu dàng thủ thỉ i ỉ ì i. Bạn được trao quyền chủ động phụ rẫy còn em í chỉ biết cúc cung chung thủy và chung thủy đến hết đời... Đấy, em í đang ở trên kệ và hết sức gọi mời, "nào, hãy cưới tôi đi" .
Nhà văn trẻ Xuân Thủy cũng nêu rõ quan điểm: PR trong văn học giúp người đọc hiểu rõ về tác giả, tác phẩm hơn, tạo những cơ hội để tác phẩm đến được với công chúng. Còn việc nó ở lại bao lâu thì lại tùy thuộc vào sức lay động của tác phẩm đó. Nhà văn DiLi cho rằng: "Sự lăng xê tác phẩm thái quá gây phản cảm và phản PR".
TS Nguyễn Mạnh Hùng, Giám đốc Thái Hà Books chỉ ra một thực tế là các nhà văn nước ngoài được ưa chuộng hơn trong nước, trong khi Việt Nam có nhiều tác giả giỏi, viết hay lại chưa được biết tới. Và ông nêu ra công thức "Pencils", trong đó mỗi chữ cái là chữ mở đầu cho một từ tiếng Anh có liên quan đến PR trong văn học, đó là P (quan hệ công chúng), E (tổ chức sự kiện), N (tin tức, thông tin), C (hướng tới cộng đồng), I (công cụ nhận dạng - thương hiệu) L (vận động hành lang) và S (đầu tư xã hội như giao lưu, tặng sách…). Một cách nói về PR thú vị, nhưng có lẽ người viết xin được bổ sung một ý đó là nhấn mạnh yếu tố "N" (news - tin tức) - chữ cái trọng tâm trong công thức này. Thông tin chân thực về tác giả, quá trình sáng tác, tác phẩm… có giá trị rất lớn, giúp người đọc gần hơn với câu chuyện, với người kể chuyện. Nó gây được thiện cảm chứ không phản cảm với những lời lăng xê đơn thuần.
_______________________________________________________
Hiện tình sáng tác tiểu thuyết qua một trường hợp
Trần Thiện Khanh
Tôi luôn quan niệm rằng sự đổi mới bất cứ thể loại nào cũng phụ thuộc vào tư duy của người viết. Sự đổi mới chất liệu và cấu trúc tiểu thuyết bao giờ cũng phản ánh một sự đổi mới khác, là đổi mới tư duy thể loại. Phải có bước đổi mới về tư duy trước thì mới có đổi mới về sản phẩm sáng tạo. Đổi mới tư duy ở chủ thể sáng tạo vừa có tính cá nhân, vừa có quan hệ chặt chẽ với tồn tại xã hội, với thiết chế văn hoá, tư tưởng.
Nhiều người nhầm tưởng rằng nền văn học Việt Nam chỉ cần hiện đại hóa một lần, và nhiệm vụ đó đã xong xuôi từ những năm đầu thế kỉ XX. Nhưng theo chúng tôi, chừng mười năm trở lại đây, nền văn học Việt Nam lại rơi vào một trạng thái khủng hoảng nữa: khủng hoảng về tính hiện đại, mà ở bề đáy sâu của nó là sự khủng hoảng về lối viết và ý thức hệ. Nhân vật chính của thời đại văn học là thể loại, liên tục bị triệu vời ra trước công chúng, nó bị tra vấn từ nhiều phía, ví như tính hiện đại, tính nghệ thuật… của nó được giấu ở đâu trong cái thế giới ngôn từ mà bản thân sự tạo sinh nó không thể thoát khỏi sự chi phối mang tính thực dụng của thị trường, hay giờ đây tính văn học thực sự của nó biểu hiện ra sao và đã đạt đến mức nào rồi. Chúng ta đang tìm kiếm một định nghĩa mới cho tính hiện đại. Công chúng không ngừng đòi hỏi cần phải định nghĩa lại tính văn học đã được gán cho một văn bản nào đấy, và cần phải xem xét lại sự ồn ào của bất cứ hiện tượng văn học nào xuất hiện trong hoàn cảnh thông tin phát triển mạnh mẽ. Sự đóng góp, sự chuyển động của mỗi thể loại trong sự tương ứng với sự vận động của nền văn hóa - xã hội hiện nay, như thế, là đang bị đặt thành một vấn đề quan trọng của sinh hoạt văn chương.
Cách nay 7 năm, vẫn trong một khoái cảm đặc biệt của sự trị vì thể loại truyện ngắn, Nguyễn Huy Thiệp đã tự tin bàn về thời của tiểu thuyết như một thước đo sự thức thời cùng tầm cỡ của nhà văn đương đại, thế nhưng chỉ một thời gian sau, chính những tiểu thuyết thương mại của ông (Tiểu long nữ, Gạ tình lấy điểm,) đã đem lại sự “phiền lòng” nhất cho các nhà phê bình văn học và độc giả nói chung. Sự phiền phức đeo bám đến mức, cứ nói đến tiểu thuyết Việt Nam đương đại, người ta không tránh khỏi cảm giác buồn phiền về hiện tượng tiểu thuyết ba xu đang chực khuynh loát thị phần văn học.
Sẽ ngộ nhận nếu xem tiểu thuyết Việt Nam đã tiến hành xong một cuộc bàn giao thế hệ, rằng tiểu thuyết đã rơi vào tay của những người viết trẻ, tiểu thuyết đang bon theo những ngôn ngữ mới, những văn phong và nhất là được tạo thành bởi những suy tư chiêm nghiệm sâu sắc, những lối viết chưa từng được biết đến. Thực ra, vào đúng lúc các dịch vụ văn học nghệ thuật phát triển mạnh, nhiều nhà văn thế hệ trước - do có sự bảo trợ của một thứ quan hệ, và quyền lực nào đấy - đã kịp giành cho mình một không gian văn học đáng kể, để cứ vào những thời điểm thích hợp, họ sẽ tiến hành những nghi thức văn chương thiêng liêng mà họ đã và đang theo đuổi. Nghĩa là, cho đến giờ, những lối viết cũ vẫn còn sức mạnh nhào nặn ra nhiều sự kiện, hiện tượng văn học, mà giới truyền thông vẫn quen gọi một cách có vẻ trang trọng - là những tác phẩm “có dư luận” hơn cả, những “nhà văn có tên tuổi” đáng đọc nhất hiện nay. Ở một nhánh khác, đó là sự hành ngôn của người viết trẻ trong xu thế đại chúng rất phổ biến: mặc dù đã có một đối tượng đọc tiêu thụ nhất định, nhưng nhìn chung họ vẫn chưa tạo được một tác phẩm nào thực sự nổi bật về chất lượng nghệ thuật. Những cây bút trẻ được tung hô nhiều là vậy nhưng văn phẩm của anh ta thì còn kém giá trị, cả về chiều sâu tư tưởng lẫn nghệ thuật tự sự. Nhìn sang những tiểu thuyết đoạt giải thưởng thường niên, và các cuộc thi sáng tác tiểu thuyết những năm gần đây, cũng thấy ngay, những “tiểu thuyết có ngôi” phần lớn vẫn là một thứ quà tặng kỉ niệm, một văn bản được tấn phong, một thứ biểu tượng, chẳng hạn cho một mĩ học ngôn từ không còn mới mẻ gì nữa, và cho cái nhãn quan giá trị còn nhiều bất ổn của những người tham gia phát xét chúng. Có một nghịch lí thế này: những “trung tâm” chính thống có quyền lực xác lập các đẳng cấp, công nhận các giá trị văn học lại là những nơi đang làm cho hình ảnh văn học ngày càng mờ nhạt trong lòng công chúng, là những nơi tượng trưng đầy đủ và rõ nhất cho sự “già cỗi”, thậm chí cho những quan hệ có vẻ phi văn học. Sinh hoạt văn học hôm nay, trong đó bao gồm cả sự đọc, sáng tạo tiểu thuyết cứ dần dần được rút gọn vào những sự kiện nào có mưu toan chòng ghẹo luân lý truyền thống hoặc là sự chống lại những cách thức hợp lý hóa mang tính độc đoán. Sự tiêu dùng, diễn giải tiểu thuyết trong cái thế giới phẳng của văn học nhiều năm nay, đã đánh dấu lên văn bản những biến cố phi văn chương, phi nghệ thuật. Chúng - những “tiểu thuyết có ngôi” và là con đẻ của truyền thông hiện nay - chưa làm yên lòng “tinh thần đổi mới của tiểu thuyết”.
Trước đây, qua tiểu luận dài Thời của tiểu thuyết, Nguyễn Huy Thiệp giãi bày, nhu cầu tự thân của việc đến với tiểu thuyết ở mình, là một sự giải thoát khỏi những bế tắc, những quẩn quanh của truyện ngắn. Tôi xem cái ý đồ muốn thoát sự bế tắc của thể loại này bằng cách ve vãn thể loại khác kiểu ấy, là một tham vọng mạo hiểm, một nỗ lực chống sự thờ ơ của thị trường, một kiểu vãn hồi quyền lực sáng tạo. Quan niệm cho rằng viết truyện ngắn chỉ là một cách học nghề, một kiểu làm “bài tập văn chương”; và chuyển sang tiểu thuyết mới là trưởng thành và hợp thời, là một cách sáng tác “đứng đắn” nhất để khẳng định kích cỡ, đẳng cấp của họ… rõ ràng phản ánh một chủ trương cực đoan, một nhầm lẫn, và “đua đòi” của nhà văn. Tôi nghĩ mỗi nhà văn có cái tạng riêng, có sở trường riêng, kích cỡ riêng, mà nếu đi ra ngoài những cái đó sáng tác sẽ nhạt nhẽo, sẽ phải độn, phải kéo dài ra rất nhiều. Đất phong hầu đã được cấp sổ đỏ của Nguyễn Huy Thiệp là ở truyện ngắn. Sự “nhầm lẫn” đi liền với tham vọng khuyếch trương quyền lực sáng tạo của “nhà văn có tuổi” được thể hiện trong việc chọn dùng “thể loại lớn” như thế, và bổ sung cho nó là sự xuất hiện tâm lí “thử sức” với một thể loại sang trọng, tâm lí thích “chơi” với “thể loại dài hơi” bề thế, thậm chí nôn nóng của nhiều người trẻ (chưa chín về tài năng và dồi dào vốn sống),… là một trong những nguyên nhân tạo ra những tiểu thuyết không có nhiều giá trị, và khó đọc.
Cũng từ các sáng tác như Tiểu long nữ, Gạ tình lấy điểm của Nguyễn Huy Thiệp, chúng ta còn thấy: thái độ thỏa hiệp và dễ dãi viết theo đơn đặt hàng, cùng những mưu toan thực dụng của nhà văn hiện nay (như tạo ra thứ hàng chợ, một thứ văn chương giải trí... chỉ cốt giành được một lượng độc giả tiêu thụ nào đó, và để PR cho bản thân) góp phần không nhỏ làm cho tiểu thuyết Việt Nam 10 năm qua có rất ít thành tựu nghệ thuật. Tiểu thuyết của ta đang thiếu vắng những suy tư lớn, theo nghĩa, người ta có thể tìm thấy ở đấy sự trưởng thành của nhà văn, sự cần thiết của văn học và sự chuyển đổi của một giai đoạn sáng tác.
Trước biết bao nhiêu thứ mồi, một nhà văn có bản lĩnh như Nguyễn Huy Thiệp còn nhanh chóng bị “sa ngã”, thì chuyện những tác giả trẻ nào đó khó tránh được những cám dỗ không phải là vô lý. Để lý giải được, vì sao khoảng 6-7 năm trở lại đây, tiểu thuyết chứ không phải truyện ngắn lại trở thành một xu hướng lựa chọn của nhiều cây bút trẻ (trên dưới chục người), tôi nghĩ chúng ta nên quan tâm nhiều hơn tới yếu tố thị trường và động cơ thực dụng của họ. Cụ thể, cần tính tới nhu cầu tiêu thụ của nhiều đơn vị kinh doanh sách; những giá trị ảo mà mạng Internet, báo chí truyền thông và những kẻ môi giới nghệ thuật đem lại; ham muốn được nổi tiếng và có mức nhuận bút khá hơn của kẻ sáng tác… hơn là xem xét từ tình yêu văn chương, như một sự dấn thân trong sáng tác. Ở thời điểm bây giờ, câu chuyện “tâm huyết” hay sự dấn thân trong văn chương nếu không cho thấy một sự ngây thơ hoặc cuồng tín nào đó thì cũng là một khẩu hiệu được trưng ra chủ yếu để tạo thương hiệu cho nhà văn. Những “nhà văn có thương hiệu”, được báo chí nhắc đến thường xuyên hoặc xuất hiện nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng, là những người cần được đọc một cách thận trọng nhất.
Tôi luôn quan niệm rằng sự đổi mới bất cứ thể loại nào cũng phụ thuộc vào tư duycủa người viết. Sự đổi mới chất liệu và cấu trúc tiểu thuyết bao giờ cũng phản ánh một sự đổi mới khác, là đổi mới tư duy thể loại. Phải có bước đổi mới về tư duy trước thì mới có đổi mới về sản phẩm sáng tạo. Đổi mới tư duy ở chủ thể sáng tạo vừa có tính cá nhân, vừa có quan hệ chặt chẽ với tồn tại xã hội, với thiết chế văn hoá, tư tưởng. Quan niệm về thể loại vừa tạo ra tính chỉnh thể cho văn bản, vừa tạo ra sự khác biệt mang tính qui luật nào đó, nó biểu hiện nguyên tắc sáng tạo và vận động của thế giới nghệ thuật. Bất kì tác phẩm nào cũng chịu sự chi phối của quan niệm thể loại nào đấy. Dù nhà văn có phát biểu công khai rõ ràng quan điểm văn chương hay không, thì anh ta cũng có sẵn một quan niệm, một cách hình dung nào đấy về sản phẩm mà mình sẽ làm ra. “Con người có một kiểu lao động riêng: anh ta tạo nên một sản phẩm theo cái mô hình trong óc anh ta”(Phan Ngọc). Sở dĩ người viết tiểu thuyết chưa đem đến một sản phẩm mới vì họ không có một mô hình sáng tạo mới nào, không có một mô hình “thể loại” cho riêng mình. Lúc đó họ chỉ cố gắng làm theo cái khung thể loại đã có sẵn, họ sáng tác tự phát theo một bản năng tự sự. Quan niệm về thể loại, hiểu cho đúng, nghiêng về sự tự ý thức của chủ thể về cái mô hình sáng tạo của mình. Những nhà văn có tài là những người có một mô hình riêng cho sự sáng tạo. Tiểu thuyết chẳng thể mới, nếu người nghệ sĩ không có ý thức tự giác sáng tạo cho nó một diện mạo, cấu trúc mới. Chỉ những nhà văn có quan niệm riêng về thể loại, mới có thể thực hiện sự cách tân thể loại đó. Tình trạng làng nhàng của tiểu thuyết hiện nay, nhất là ở những tác giả trẻ, ngoài những vấn đề như vốn sống, sự ảnh hưởng của cơ chế thị trường,… thì nguyên nhân cơ bản là ở lối viết, ở tư duy thể loại, ở tài năng tự sự của họ và tri thức của họ về văn học nghệ thuật. Không có thần đồng trong sáng tác tiểu thuyết.
Thời nay có lẽ chưa phải là thời của tiểu thuyết. Thực ra cũng chẳng có thể loại nào đặc trưng cho cái thời này. Vậy giả dụ nhận định rằng đã có một sự đổi mới tư duy về thể loại trên diện rộng, thí dụ như tư duy tiểu thuyết, trong nền văn học Việt Nam đương đại, là một cách thành lập vấn đề gợi nhiều hoài nghi. Đó là một “trò chơi thông tin”, một câu chuyện ảo tưởng và lãng mạn mà chúng ta thường xuyên nghe được. Đúng hơn, là một cách chồng lên văn bản những ngôn ngữ đẹp biểu đạt niềm mong mỏi của chúng ta.
__________________________________________________
Tôi luôn quan niệm rằng sự đổi mới bất cứ thể loại nào cũng phụ thuộc vào tư duy của người viết. Sự đổi mới chất liệu và cấu trúc tiểu thuyết bao giờ cũng phản ánh một sự đổi mới khác, là đổi mới tư duy thể loại. Phải có bước đổi mới về tư duy trước thì mới có đổi mới về sản phẩm sáng tạo. Đổi mới tư duy ở chủ thể sáng tạo vừa có tính cá nhân, vừa có quan hệ chặt chẽ với tồn tại xã hội, với thiết chế văn hoá, tư tưởng.
Nhiều người nhầm tưởng rằng nền văn học Việt Nam chỉ cần hiện đại hóa một lần, và nhiệm vụ đó đã xong xuôi từ những năm đầu thế kỉ XX. Nhưng theo chúng tôi, chừng mười năm trở lại đây, nền văn học Việt Nam lại rơi vào một trạng thái khủng hoảng nữa: khủng hoảng về tính hiện đại, mà ở bề đáy sâu của nó là sự khủng hoảng về lối viết và ý thức hệ. Nhân vật chính của thời đại văn học là thể loại, liên tục bị triệu vời ra trước công chúng, nó bị tra vấn từ nhiều phía, ví như tính hiện đại, tính nghệ thuật… của nó được giấu ở đâu trong cái thế giới ngôn từ mà bản thân sự tạo sinh nó không thể thoát khỏi sự chi phối mang tính thực dụng của thị trường, hay giờ đây tính văn học thực sự của nó biểu hiện ra sao và đã đạt đến mức nào rồi. Chúng ta đang tìm kiếm một định nghĩa mới cho tính hiện đại. Công chúng không ngừng đòi hỏi cần phải định nghĩa lại tính văn học đã được gán cho một văn bản nào đấy, và cần phải xem xét lại sự ồn ào của bất cứ hiện tượng văn học nào xuất hiện trong hoàn cảnh thông tin phát triển mạnh mẽ. Sự đóng góp, sự chuyển động của mỗi thể loại trong sự tương ứng với sự vận động của nền văn hóa - xã hội hiện nay, như thế, là đang bị đặt thành một vấn đề quan trọng của sinh hoạt văn chương.
Cách nay 7 năm, vẫn trong một khoái cảm đặc biệt của sự trị vì thể loại truyện ngắn, Nguyễn Huy Thiệp đã tự tin bàn về thời của tiểu thuyết như một thước đo sự thức thời cùng tầm cỡ của nhà văn đương đại, thế nhưng chỉ một thời gian sau, chính những tiểu thuyết thương mại của ông (Tiểu long nữ, Gạ tình lấy điểm,) đã đem lại sự “phiền lòng” nhất cho các nhà phê bình văn học và độc giả nói chung. Sự phiền phức đeo bám đến mức, cứ nói đến tiểu thuyết Việt Nam đương đại, người ta không tránh khỏi cảm giác buồn phiền về hiện tượng tiểu thuyết ba xu đang chực khuynh loát thị phần văn học.
Sẽ ngộ nhận nếu xem tiểu thuyết Việt Nam đã tiến hành xong một cuộc bàn giao thế hệ, rằng tiểu thuyết đã rơi vào tay của những người viết trẻ, tiểu thuyết đang bon theo những ngôn ngữ mới, những văn phong và nhất là được tạo thành bởi những suy tư chiêm nghiệm sâu sắc, những lối viết chưa từng được biết đến. Thực ra, vào đúng lúc các dịch vụ văn học nghệ thuật phát triển mạnh, nhiều nhà văn thế hệ trước - do có sự bảo trợ của một thứ quan hệ, và quyền lực nào đấy - đã kịp giành cho mình một không gian văn học đáng kể, để cứ vào những thời điểm thích hợp, họ sẽ tiến hành những nghi thức văn chương thiêng liêng mà họ đã và đang theo đuổi. Nghĩa là, cho đến giờ, những lối viết cũ vẫn còn sức mạnh nhào nặn ra nhiều sự kiện, hiện tượng văn học, mà giới truyền thông vẫn quen gọi một cách có vẻ trang trọng - là những tác phẩm “có dư luận” hơn cả, những “nhà văn có tên tuổi” đáng đọc nhất hiện nay. Ở một nhánh khác, đó là sự hành ngôn của người viết trẻ trong xu thế đại chúng rất phổ biến: mặc dù đã có một đối tượng đọc tiêu thụ nhất định, nhưng nhìn chung họ vẫn chưa tạo được một tác phẩm nào thực sự nổi bật về chất lượng nghệ thuật. Những cây bút trẻ được tung hô nhiều là vậy nhưng văn phẩm của anh ta thì còn kém giá trị, cả về chiều sâu tư tưởng lẫn nghệ thuật tự sự. Nhìn sang những tiểu thuyết đoạt giải thưởng thường niên, và các cuộc thi sáng tác tiểu thuyết những năm gần đây, cũng thấy ngay, những “tiểu thuyết có ngôi” phần lớn vẫn là một thứ quà tặng kỉ niệm, một văn bản được tấn phong, một thứ biểu tượng, chẳng hạn cho một mĩ học ngôn từ không còn mới mẻ gì nữa, và cho cái nhãn quan giá trị còn nhiều bất ổn của những người tham gia phát xét chúng. Có một nghịch lí thế này: những “trung tâm” chính thống có quyền lực xác lập các đẳng cấp, công nhận các giá trị văn học lại là những nơi đang làm cho hình ảnh văn học ngày càng mờ nhạt trong lòng công chúng, là những nơi tượng trưng đầy đủ và rõ nhất cho sự “già cỗi”, thậm chí cho những quan hệ có vẻ phi văn học. Sinh hoạt văn học hôm nay, trong đó bao gồm cả sự đọc, sáng tạo tiểu thuyết cứ dần dần được rút gọn vào những sự kiện nào có mưu toan chòng ghẹo luân lý truyền thống hoặc là sự chống lại những cách thức hợp lý hóa mang tính độc đoán. Sự tiêu dùng, diễn giải tiểu thuyết trong cái thế giới phẳng của văn học nhiều năm nay, đã đánh dấu lên văn bản những biến cố phi văn chương, phi nghệ thuật. Chúng - những “tiểu thuyết có ngôi” và là con đẻ của truyền thông hiện nay - chưa làm yên lòng “tinh thần đổi mới của tiểu thuyết”.
Trước đây, qua tiểu luận dài Thời của tiểu thuyết, Nguyễn Huy Thiệp giãi bày, nhu cầu tự thân của việc đến với tiểu thuyết ở mình, là một sự giải thoát khỏi những bế tắc, những quẩn quanh của truyện ngắn. Tôi xem cái ý đồ muốn thoát sự bế tắc của thể loại này bằng cách ve vãn thể loại khác kiểu ấy, là một tham vọng mạo hiểm, một nỗ lực chống sự thờ ơ của thị trường, một kiểu vãn hồi quyền lực sáng tạo. Quan niệm cho rằng viết truyện ngắn chỉ là một cách học nghề, một kiểu làm “bài tập văn chương”; và chuyển sang tiểu thuyết mới là trưởng thành và hợp thời, là một cách sáng tác “đứng đắn” nhất để khẳng định kích cỡ, đẳng cấp của họ… rõ ràng phản ánh một chủ trương cực đoan, một nhầm lẫn, và “đua đòi” của nhà văn. Tôi nghĩ mỗi nhà văn có cái tạng riêng, có sở trường riêng, kích cỡ riêng, mà nếu đi ra ngoài những cái đó sáng tác sẽ nhạt nhẽo, sẽ phải độn, phải kéo dài ra rất nhiều. Đất phong hầu đã được cấp sổ đỏ của Nguyễn Huy Thiệp là ở truyện ngắn. Sự “nhầm lẫn” đi liền với tham vọng khuyếch trương quyền lực sáng tạo của “nhà văn có tuổi” được thể hiện trong việc chọn dùng “thể loại lớn” như thế, và bổ sung cho nó là sự xuất hiện tâm lí “thử sức” với một thể loại sang trọng, tâm lí thích “chơi” với “thể loại dài hơi” bề thế, thậm chí nôn nóng của nhiều người trẻ (chưa chín về tài năng và dồi dào vốn sống),… là một trong những nguyên nhân tạo ra những tiểu thuyết không có nhiều giá trị, và khó đọc.
Cũng từ các sáng tác như Tiểu long nữ, Gạ tình lấy điểm của Nguyễn Huy Thiệp, chúng ta còn thấy: thái độ thỏa hiệp và dễ dãi viết theo đơn đặt hàng, cùng những mưu toan thực dụng của nhà văn hiện nay (như tạo ra thứ hàng chợ, một thứ văn chương giải trí... chỉ cốt giành được một lượng độc giả tiêu thụ nào đó, và để PR cho bản thân) góp phần không nhỏ làm cho tiểu thuyết Việt Nam 10 năm qua có rất ít thành tựu nghệ thuật. Tiểu thuyết của ta đang thiếu vắng những suy tư lớn, theo nghĩa, người ta có thể tìm thấy ở đấy sự trưởng thành của nhà văn, sự cần thiết của văn học và sự chuyển đổi của một giai đoạn sáng tác.
Trước biết bao nhiêu thứ mồi, một nhà văn có bản lĩnh như Nguyễn Huy Thiệp còn nhanh chóng bị “sa ngã”, thì chuyện những tác giả trẻ nào đó khó tránh được những cám dỗ không phải là vô lý. Để lý giải được, vì sao khoảng 6-7 năm trở lại đây, tiểu thuyết chứ không phải truyện ngắn lại trở thành một xu hướng lựa chọn của nhiều cây bút trẻ (trên dưới chục người), tôi nghĩ chúng ta nên quan tâm nhiều hơn tới yếu tố thị trường và động cơ thực dụng của họ. Cụ thể, cần tính tới nhu cầu tiêu thụ của nhiều đơn vị kinh doanh sách; những giá trị ảo mà mạng Internet, báo chí truyền thông và những kẻ môi giới nghệ thuật đem lại; ham muốn được nổi tiếng và có mức nhuận bút khá hơn của kẻ sáng tác… hơn là xem xét từ tình yêu văn chương, như một sự dấn thân trong sáng tác. Ở thời điểm bây giờ, câu chuyện “tâm huyết” hay sự dấn thân trong văn chương nếu không cho thấy một sự ngây thơ hoặc cuồng tín nào đó thì cũng là một khẩu hiệu được trưng ra chủ yếu để tạo thương hiệu cho nhà văn. Những “nhà văn có thương hiệu”, được báo chí nhắc đến thường xuyên hoặc xuất hiện nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng, là những người cần được đọc một cách thận trọng nhất.
Tôi luôn quan niệm rằng sự đổi mới bất cứ thể loại nào cũng phụ thuộc vào tư duycủa người viết. Sự đổi mới chất liệu và cấu trúc tiểu thuyết bao giờ cũng phản ánh một sự đổi mới khác, là đổi mới tư duy thể loại. Phải có bước đổi mới về tư duy trước thì mới có đổi mới về sản phẩm sáng tạo. Đổi mới tư duy ở chủ thể sáng tạo vừa có tính cá nhân, vừa có quan hệ chặt chẽ với tồn tại xã hội, với thiết chế văn hoá, tư tưởng. Quan niệm về thể loại vừa tạo ra tính chỉnh thể cho văn bản, vừa tạo ra sự khác biệt mang tính qui luật nào đó, nó biểu hiện nguyên tắc sáng tạo và vận động của thế giới nghệ thuật. Bất kì tác phẩm nào cũng chịu sự chi phối của quan niệm thể loại nào đấy. Dù nhà văn có phát biểu công khai rõ ràng quan điểm văn chương hay không, thì anh ta cũng có sẵn một quan niệm, một cách hình dung nào đấy về sản phẩm mà mình sẽ làm ra. “Con người có một kiểu lao động riêng: anh ta tạo nên một sản phẩm theo cái mô hình trong óc anh ta”(Phan Ngọc). Sở dĩ người viết tiểu thuyết chưa đem đến một sản phẩm mới vì họ không có một mô hình sáng tạo mới nào, không có một mô hình “thể loại” cho riêng mình. Lúc đó họ chỉ cố gắng làm theo cái khung thể loại đã có sẵn, họ sáng tác tự phát theo một bản năng tự sự. Quan niệm về thể loại, hiểu cho đúng, nghiêng về sự tự ý thức của chủ thể về cái mô hình sáng tạo của mình. Những nhà văn có tài là những người có một mô hình riêng cho sự sáng tạo. Tiểu thuyết chẳng thể mới, nếu người nghệ sĩ không có ý thức tự giác sáng tạo cho nó một diện mạo, cấu trúc mới. Chỉ những nhà văn có quan niệm riêng về thể loại, mới có thể thực hiện sự cách tân thể loại đó. Tình trạng làng nhàng của tiểu thuyết hiện nay, nhất là ở những tác giả trẻ, ngoài những vấn đề như vốn sống, sự ảnh hưởng của cơ chế thị trường,… thì nguyên nhân cơ bản là ở lối viết, ở tư duy thể loại, ở tài năng tự sự của họ và tri thức của họ về văn học nghệ thuật. Không có thần đồng trong sáng tác tiểu thuyết.
Thời nay có lẽ chưa phải là thời của tiểu thuyết. Thực ra cũng chẳng có thể loại nào đặc trưng cho cái thời này. Vậy giả dụ nhận định rằng đã có một sự đổi mới tư duy về thể loại trên diện rộng, thí dụ như tư duy tiểu thuyết, trong nền văn học Việt Nam đương đại, là một cách thành lập vấn đề gợi nhiều hoài nghi. Đó là một “trò chơi thông tin”, một câu chuyện ảo tưởng và lãng mạn mà chúng ta thường xuyên nghe được. Đúng hơn, là một cách chồng lên văn bản những ngôn ngữ đẹp biểu đạt niềm mong mỏi của chúng ta.
__________________________________________________
Nguyễn Tài Cẩn trên nền Thi Học Việt Nam
Đặng Tiến
Thuật ngữ Thi Học dùng ở đây để biểu đạt những kiến thức, suy nghĩ về Thơ, qua nhiều dạng thức và trong quá trình của nó. Chữ Pháp là Poétique, hiểu theo nghĩa hẹp và cổ điển, áp dụng chủ yếu vào văn vần. Dùng theo nghĩa rộng và hiện đại, theo quan điểm của Valéry, được Jakobson phát triển về sau, từ Poétique được dịch là Thi Pháp, chỉ chức năng thẩm mỹ của ngôn từ, và nới rộng ra những hệ thống ký hiệu khác, là lý thuyết về tính nghệ thuật nói chung. Thi Học, giới hạn trong phạm vi thi ca, là một bộ phận nhỏ của Thi Pháp.
Bài này giới thiệu những đóng góp vào nền Thi Học Việt Nam của nhà ngữ học Nguyễn Tài Cẩn, sinh tại Nghệ An năm 1926, qua tác phẩm mới xuất bản : Một số chứng tích về ngôn ngữ văn tự và văn hoá 1, viết tắt là Một số chứng tích. Chúng tôi cũng sẽ nhắc qua 7 tác phẩm trước đây của anh, và nhấn mạnh vào những trước tác xuất bản gần đây nhất.
Một số chứng tích, 430 trang, gồm 34 bài báo đã đăng rải rác trong và ngoài nước, dưới nhiều đề tài ngữ học và văn bản học, phản ánh những quan tâm của anh về văn hoá từ 40 năm nay. Nhất là về ngôn ngữ Thơ.
Thành phần thiết yếu trong Thơ là cách gieo vần, đã được Nguyễn Tài Cẩn đặc biệt chú tâm : “ cách đọc Hán Việt (thế kỷ VIII và IX) (...) cho phép các nhà thơ Việt đi ngược lại thi pháp Hán tạo ra một lối gieo vần riêng biệt cho Việt Nam ” (tr. 422) dựa theo những nguyên âm thuận tai, như ở ca dao tục ngữ, chứ không theo khuôn mẫu Quảng Vận của Trung Quốc ; lối gieo vần này không phải lúc nào cũng thành công, “ thơ chữ Hán nhưng đọc lên nghe có âm hưởng thuần Việt (...) ngay những trường hợp không thật hài hoà cũng được chấp nhận. Và chính những trường hợp này đã ảnh hưởng đến cả cách gieo vần trong thơ thuần Việt, và đôi khi ảnh hưởng (ngược lại) đến cả cách đọc Hán Việt ” (tr. 421). Nói khác đi, ngữ học soi sáng cho thi học, nhưng có lúc, thơ ca minh hoạ cho ngữ học. Tác giả đã dựa vào thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, như anh đã trình bày rõ trong một tác phẩm khác về Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370), có thể xem như là công trình nghiên cứu cặn kẽ nhất về bước đầu của ngành Thi Học Việt Nam 2. Trong sách này, anh có nhắc lại bài thơ Việt Nam áp dụng sớm nhất lối cách tân này là bài Cảm hoài của Vương Hải Thiềm (1046-1100) kết hợp vần ca, qua với ma, giai, ngoài khuôn khổ Quảng Vận phương Bắc.
Ngoài đề tài gieo vần, công trình của Nguyễn Tài Cẩn về ngữ âm lịch sử 3, nguồn gốc cách đọc Hán Việt 4 giúp các nhà nghiên cứu thơ cổ điển Việt Nam lý luận, bình giải xác thực hơn. Ví dụ chúng ta biết rõ tiếng Hán có 4 thanh (bình, thượng, khứ, nhập) chuyển sang tiếng Hán Việt thành 8 thanh (ngang, huyền, hỏi, ngã, sắc khứ, sắc nhập, nặng khứ, nặng nhập) 4. Nền ngữ âm học hiện đại xác nhận điều này 5. Nhờ đó chúng ta có cơ sở cụ thể nhìn rõ đặc tính, nhạc tính, của thơ Việt so với nền thơ gần với chúng ta nhất là thơ Trung Quốc. Chưa kể là Nguyễn Tài Cẩn vạch cho chúng ta thấy nguồn gốc và quá trình của từng phụ âm, từng nguyên âm, là những thành tố cơ bản của Thơ.
*
Trong Một số chứng tích, Nguyễn Tài Cẩn còn lưu tâm về Câu Thơ. Như câu thơ sáu chữ xen giữa thể thất ngôn của Nguyễn Trung Ngạn, trong một cấu trúc không thấy ở thơ Trung Quốc (tr. 308). Kỹ thuật này mở đường cho thơ Nôm Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm về sau, tạo nên nét đặc thù của nền thơ Việt Nam so với thơ Đường, thơ Tống.
Anh đã dành một chương dài cho câu thơ lục bát, phân tích cấu trúc nội tại của nó, từ vần điệu, thanh điệu đến nhịp điệu, đi đến những “ bước ” hai tiếng, trong đó xen kẽ những tiếng chính và phụ theo từng vị trí. Và một cặp lục bát, theo anh, có thể biến hoá thành 256 trường hợp khác nhau (tr. 331).
Thông thường, trong thơ các nước và theo lý thuyết, Vần là cách bắt nhịp và phân định ranh giới. Nhưng trong thi luật Việt Nam, vần lưng không đủ cơ sở làm đường ranh giới cắt đôi đơn vị chứa đựng chúng (tr. 320). Âu cũng là nét khu biệt của Thơ Việt Nam trong khoa Thi Học đối chiếu. Trong tinh thần đối chiếu, Nguyễn Tài Cẩn đã lưu tâm đến thể Ca Trù, một thể loại dân gian Việt Nam, được Nguyễn Khuyến sử dụng để làm thơ chữ Hán, uốn nắn câu thơ Đào Tiềm, Lý Bạch, thành thơ Việt, qua hai bài Bùi Viên cựu trạch và Bùi Viên đối ẩm. Sau đó, Nguyễn Khuyến tự dịch ra quốc âm, cũng trong thể ca trù. Nguyễn Tài Cẩn tỏ ra thích thú khi viết về thể hát nói, làm người đọc tiếc rằng anh không đi xa hơn : thế hệ nghiên cứu sau này sẽ không còn những rung cảm như anh khi viết về một thể loại đã mai một ; và trong địa hạt thẩm mĩ Hán Việt đối chiếu, sẽ khó có người vừa uyên bác vừa mẫn cảm như anh, dù rằng thao tác này là trách nhiệm của người làm văn học, đúng hơn là của người làm ngữ học.
*
Anh đã để tâm đến Câu Đối, qua câu đối quốc ngữ hiện đại : Tết tới túng tiền tiêu, tính toán toan tìm tay tử tế, mà anh phân tích và tìm câu đối lại. Đây là bài viết mua vui, nhưng cũng là một gợi ý về Thi Học : câu đối là cách khai thác triệt để hình thức của ngôn từ. Ra câu đối, mục đích chính không phải là đối thoại, mà là để bắt bí người khác, để cho đối phương không thể, hoặc khó có thể trả lời. Ra câu đối, là áp đảo đối phương bằng bạo lực của ngôn từ, dựa trên bạo lực của quyền thế : người trên, kẻ mạnh, thách thức người dưới, kẻ yếu — ít khi có đối thoại bình đẳng và dân chủ. Sử dụng quyền thế, người ra câu đối (thường là ông quan) đã đẩy chức năng thẩm mỹ của ngôn từ đến tận cùng của tình huống.
Do đó, hơn cả Thi Ca, Câu Đối minh hoạ rõ nét chức năng thi pháp của ngôn từ, theo lý thuyết Jakobson. Câu Đối xuất sắc vì tính cách hóc hiểm, kết hợp ngôn từ với tình huống, chứ không phải xuất sắc vì tư tưởng cao siêu :Da trắng vỗ bì bạch là một điển hình.
Nguyễn Tài Cẩn đã đối lại : Rừng sâu mưa lâm thâm, rất chỉnh ; tuy không sát với tình huống, câu đáp có giá trị văn học, là một câu thơ hay, man mác u hoài trong vũ trụ mông mênh.
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu cũng vậy thôi, nó nói lên thân phận nhỏ nhoi của con người trong lịch sử đa đoan, không nhất thiết phải quan hệ với chuyện Ngô Thời Nhậm -Đặng Trần Thường mà tình huống, thật sự, cũng chưa chắc đã có thực. Những câu đối được truyền tụng, xuất sắc vì văn bản ; còn tình huống, đôi khi người đời sau bịa đặt, nguỵ tạo một hoạt cảnh, trở thành “ giai thoại ”. Các giai thoại văn học về câu đối, thường tái lập ưu thế cho kẻ yếu, tạo cho họ nét thông minh, nhạy bén, dũng cảm, nhưng đây là chuyện xã hội hơn là ngôn ngữ.
Khi luận về Câu Đối, anh Cẩn cao hứng, nhưng vì cả tâm tình và tư duy anh bị điều kiện hoá trong thi pháp, nên anh vẫn tiếp tục đóng góp vào lập thuyết mà không ngờ là mình lập thuyết.
*
Từ vựng học, cách sử dụng ngữ vựng, tham dự vào việc phân biệt thơ và văn xuôi : một từ có thể mang giá trị khác nhau trong thơ hay văn xuôi. Trong địa hạt này, Nguyễn Tài Cẩn đã đem lại những kiến thức lịch đại quan trọng, như trong công trình nghiên cứu thơ chữ Hán và chữ Nôm Nguyễn Trãi, hay khi anh phân biệt thơ Nguyễn Trãi với thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, trên 27 bài tồn nghi, không rõ của người nọ hay người kia. Anh đã mang lại hai thành tựu : phương pháp khảo sát và phẩm chất những khám phá.
Về phương pháp khảo sát từ vựng, anh đưa ra thống kê : trong 250 bài thơ quốc âm, Nguyễn Trãi dùng 11 067 lượt từ, trong đó có 2 235 từ khác nhau (tr. 197), và những từ lặp lại nhiều lần : nguyệt (62), xuân (55), thu (39),thế (đời) (42). Nguyễn Trãi chỉ dùng từ rau một lần trong sáu lần nói đến rau, những lần khác dùng từ chính xác :muống, niềng niệng, mồng tơi,... Tỷ lệ từ đơn âm rất cao : 71,2 %, số từ đa âm còn lại, phần lớn là từ thuần Việt :phơ phơ, thơn thớt,... Tóm lại, rất ít từ Hán Việt. Để phân biệt thơ Nguyễn Trãi với thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, anh đề nghị dựa trên cách dùng từ và kết hợp từ trong câu, tức cái ngôn ngữ riêng biệt của mỗi tác giả, những chi tiết góp phần làm nên cái gọi là idiolecte (tr. 221) (anh dùng tiếng Pháp trong văn bản). Ví dụ : ở Nguyễn Trãi ao là nơi trồng rau nuôi cá, ở Nguyễn Bỉnh Khiêm là nơi tắm mát.
Phương pháp này tỉ mỉ, khoa học và khách quan. Nó gạt ra hai lối biện luận văn học mà ngày nay ta vẫn còn thấy rơi rớt đâu đó : một là lối tán tụng theo ấn tượng và gây ấn tượng, dựa trên khả năng thêu hoa dệt gấm của người biên khảo ; hai là lối phản ảnh : dùng gia thế, sự nghiệp, giai cấp, lập trường, đường lối,... để giải thích, đồng thời “ đánh giá ” (tr. 220). Phương pháp của Nguyễn Tài Cẩn đáp ứng lại sự “ thèm thuồng ” của một Nguyễn Tuân : “ Tôi vẫn thèm đọc những bài phê bình bàn bạc thêm về văn chương, về phong cách văn tự, về thủ pháp văn học, về nhãn quan mĩ học của tác giả, sau khi mình đã nhận định xong cái phần chất lượng tư tưởng của họ ” 6. Câu này Nguyễn Tuân viết năm 1960, lúc đó chưa đọc Nguyễn Tài Cẩn.
Phương pháp Nguyễn Tài Cẩn đề xuất, tự nó, đã mang phẩm chất về mặt khoa học và thẩm mĩ, nó có tầm quan trọng đặc biệt mà giới làm văn học ngày nay chưa chắc đã lãnh hội và đánh giá đúng mức. Còn những đóng góp cụ thể của anh thì vô cùng vô tận, chỉ người làm công tác học thuật khi đọc, mới thấu triệt được công ơn của anh trong việc tìm hiểu thi ca.
Trong thơ, mỗi một từ có giá trị riêng, và âm vang riêng, tuỳ thuộc vào cái vỏ âm thanh và nội dung đa nghĩa, gọi là nội hàm của nó. Bên cạnh đó, nó còn chịu ảnh hưởng giao thoa về ngữ âm và ngữ nghĩa của những chữ chung quanh. Ví dụ như chữ mùa giàu âm vang và có nhiều nghĩa : Mùa ổi, mùa Gió Chướng, Ba Mùa, Mùa Hè Chiều Thẳng Đứng, Mùa xưa, Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà ... Từ mùa do chữ “ vụ ” tiếng Hán, là một từ cổ Hán Việt, có trước thời kỳ Hán Việt thế kỷ VIII - IX. Thời xa xưa đó, hai chữ là một, theo Nguyễn Tài Cẩn : “ viết vụ đọc mùa ” 7. Như vậy mùa có nghĩa mùa màng :
Rồi mùa tóc rã rơm khô
Bạn về quê bạn, biết nơi mô mà tìm
Về sau, mới thêm nghĩa bốn mùa, thời tiết, thời gian, không gian và đèo thêm nội dung tình cảm, u hoài hay hy vọng. Tiếng Anh, Pháp season, saison, cùng một âm vang thi cảm, có lẽ cũng theo quy trình như vậy. Nguyễn Tài Cẩn tỏ ra tâm đắc với chuyện vụ/mùa này nên thường nhắc đi nhắc lại nguồn gốc trong nhiều tác phẩm. Và chúng ta thêm được một kiến thức, hiểu sâu sắc hơn âm vang của chữ mùa trong thi ca dân gian hay hiện đại, hay trong những bài hát của Văn Cao : Từng hẹn mùa xưa ... , ngày mùa vui thôn trang..., khi gió mùa thơm ngát....
*
Xếp theo hình thức bát quái, có thể đọc từ bất cứ chỗ nào, theo chiều kim đồng hồ hay ngược lại, từ ngoài vào, hay trong ra, bài thơ Vũ trung sơn thuỷ của Thiệu Trị được khảm xà cừ và trưng bày tại Bảo tàng Mĩ thuật cung đình Huế (điện Long An)
Trong Một số chứng tích có hai bài ước lược và bổ sung cuốn sách 8 Nguyễn Tài Cẩn đã viết về bài thơ chữ Hán của vua Thiệu Trị, bài thất ngôn bát cú tên Vũ Trung Sơn Thuỷ, đọc được 64 cách khác nhau, và anh cho rằng có thể khai triển thành 256 bài. Để người đọc tiện theo dõi anh đã dịch ra tiếng Việt, trong thể tám câu bảy chữ, mà lại đọc được ngần ấy cách, thành ngần ấy bài khác nhau. Âu cũng là một tuyệt chiêu.
Đây là thể thơ “ hồi văn ” đọc quanh co đi lại đều thành câu, thành bài ; đã hồi văn thì phải liên hoàn : lấy câu (hoặc chữ) cuối bài trước làm câu (hoặc chữ) đầu bài tiếp theo, v.v.
Bài thơ là một “ kỹ xảo ” của Thiệu Trị, nhưng trong lý thuyết Thi Học có giá trị đặc trưng : thơ là ngôn ngữ dẫm chân tại chỗ, không theo tuyến tính (linéaire). Khi đọc lên thành tiếng thì dĩ nhiên phải theo thời gian như mọi lời nói. Nhưng nếu chỉ đọc bằng mắt, thì từ ngữ có thể hoán chuyển ngược xuôi. Valéry đã nói đâu đó, đại khái : văn xuôi là đi tới, thơ là khiêu vũ (la poésie est à la prose, ce que la danse est à la marche), nghĩa là khua đôi chân mà không tiến tới đâu. Văn xuôi là mũi tên phóng về phía trước, thơ là đường kiếm biến hoá không cùng, nhưng vẫn tiến thoái trong vòng tròn của tầm tay.
________________________________________________
Thuật ngữ Thi Học dùng ở đây để biểu đạt những kiến thức, suy nghĩ về Thơ, qua nhiều dạng thức và trong quá trình của nó. Chữ Pháp là Poétique, hiểu theo nghĩa hẹp và cổ điển, áp dụng chủ yếu vào văn vần. Dùng theo nghĩa rộng và hiện đại, theo quan điểm của Valéry, được Jakobson phát triển về sau, từ Poétique được dịch là Thi Pháp, chỉ chức năng thẩm mỹ của ngôn từ, và nới rộng ra những hệ thống ký hiệu khác, là lý thuyết về tính nghệ thuật nói chung. Thi Học, giới hạn trong phạm vi thi ca, là một bộ phận nhỏ của Thi Pháp.
Bài này giới thiệu những đóng góp vào nền Thi Học Việt Nam của nhà ngữ học Nguyễn Tài Cẩn, sinh tại Nghệ An năm 1926, qua tác phẩm mới xuất bản : Một số chứng tích về ngôn ngữ văn tự và văn hoá 1, viết tắt là Một số chứng tích. Chúng tôi cũng sẽ nhắc qua 7 tác phẩm trước đây của anh, và nhấn mạnh vào những trước tác xuất bản gần đây nhất.
Một số chứng tích, 430 trang, gồm 34 bài báo đã đăng rải rác trong và ngoài nước, dưới nhiều đề tài ngữ học và văn bản học, phản ánh những quan tâm của anh về văn hoá từ 40 năm nay. Nhất là về ngôn ngữ Thơ.
Thành phần thiết yếu trong Thơ là cách gieo vần, đã được Nguyễn Tài Cẩn đặc biệt chú tâm : “ cách đọc Hán Việt (thế kỷ VIII và IX) (...) cho phép các nhà thơ Việt đi ngược lại thi pháp Hán tạo ra một lối gieo vần riêng biệt cho Việt Nam ” (tr. 422) dựa theo những nguyên âm thuận tai, như ở ca dao tục ngữ, chứ không theo khuôn mẫu Quảng Vận của Trung Quốc ; lối gieo vần này không phải lúc nào cũng thành công, “ thơ chữ Hán nhưng đọc lên nghe có âm hưởng thuần Việt (...) ngay những trường hợp không thật hài hoà cũng được chấp nhận. Và chính những trường hợp này đã ảnh hưởng đến cả cách gieo vần trong thơ thuần Việt, và đôi khi ảnh hưởng (ngược lại) đến cả cách đọc Hán Việt ” (tr. 421). Nói khác đi, ngữ học soi sáng cho thi học, nhưng có lúc, thơ ca minh hoạ cho ngữ học. Tác giả đã dựa vào thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, như anh đã trình bày rõ trong một tác phẩm khác về Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370), có thể xem như là công trình nghiên cứu cặn kẽ nhất về bước đầu của ngành Thi Học Việt Nam 2. Trong sách này, anh có nhắc lại bài thơ Việt Nam áp dụng sớm nhất lối cách tân này là bài Cảm hoài của Vương Hải Thiềm (1046-1100) kết hợp vần ca, qua với ma, giai, ngoài khuôn khổ Quảng Vận phương Bắc.
Ngoài đề tài gieo vần, công trình của Nguyễn Tài Cẩn về ngữ âm lịch sử 3, nguồn gốc cách đọc Hán Việt 4 giúp các nhà nghiên cứu thơ cổ điển Việt Nam lý luận, bình giải xác thực hơn. Ví dụ chúng ta biết rõ tiếng Hán có 4 thanh (bình, thượng, khứ, nhập) chuyển sang tiếng Hán Việt thành 8 thanh (ngang, huyền, hỏi, ngã, sắc khứ, sắc nhập, nặng khứ, nặng nhập) 4. Nền ngữ âm học hiện đại xác nhận điều này 5. Nhờ đó chúng ta có cơ sở cụ thể nhìn rõ đặc tính, nhạc tính, của thơ Việt so với nền thơ gần với chúng ta nhất là thơ Trung Quốc. Chưa kể là Nguyễn Tài Cẩn vạch cho chúng ta thấy nguồn gốc và quá trình của từng phụ âm, từng nguyên âm, là những thành tố cơ bản của Thơ.
*
Trong Một số chứng tích, Nguyễn Tài Cẩn còn lưu tâm về Câu Thơ. Như câu thơ sáu chữ xen giữa thể thất ngôn của Nguyễn Trung Ngạn, trong một cấu trúc không thấy ở thơ Trung Quốc (tr. 308). Kỹ thuật này mở đường cho thơ Nôm Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm về sau, tạo nên nét đặc thù của nền thơ Việt Nam so với thơ Đường, thơ Tống.
Anh đã dành một chương dài cho câu thơ lục bát, phân tích cấu trúc nội tại của nó, từ vần điệu, thanh điệu đến nhịp điệu, đi đến những “ bước ” hai tiếng, trong đó xen kẽ những tiếng chính và phụ theo từng vị trí. Và một cặp lục bát, theo anh, có thể biến hoá thành 256 trường hợp khác nhau (tr. 331).
Thông thường, trong thơ các nước và theo lý thuyết, Vần là cách bắt nhịp và phân định ranh giới. Nhưng trong thi luật Việt Nam, vần lưng không đủ cơ sở làm đường ranh giới cắt đôi đơn vị chứa đựng chúng (tr. 320). Âu cũng là nét khu biệt của Thơ Việt Nam trong khoa Thi Học đối chiếu. Trong tinh thần đối chiếu, Nguyễn Tài Cẩn đã lưu tâm đến thể Ca Trù, một thể loại dân gian Việt Nam, được Nguyễn Khuyến sử dụng để làm thơ chữ Hán, uốn nắn câu thơ Đào Tiềm, Lý Bạch, thành thơ Việt, qua hai bài Bùi Viên cựu trạch và Bùi Viên đối ẩm. Sau đó, Nguyễn Khuyến tự dịch ra quốc âm, cũng trong thể ca trù. Nguyễn Tài Cẩn tỏ ra thích thú khi viết về thể hát nói, làm người đọc tiếc rằng anh không đi xa hơn : thế hệ nghiên cứu sau này sẽ không còn những rung cảm như anh khi viết về một thể loại đã mai một ; và trong địa hạt thẩm mĩ Hán Việt đối chiếu, sẽ khó có người vừa uyên bác vừa mẫn cảm như anh, dù rằng thao tác này là trách nhiệm của người làm văn học, đúng hơn là của người làm ngữ học.
*
Anh đã để tâm đến Câu Đối, qua câu đối quốc ngữ hiện đại : Tết tới túng tiền tiêu, tính toán toan tìm tay tử tế, mà anh phân tích và tìm câu đối lại. Đây là bài viết mua vui, nhưng cũng là một gợi ý về Thi Học : câu đối là cách khai thác triệt để hình thức của ngôn từ. Ra câu đối, mục đích chính không phải là đối thoại, mà là để bắt bí người khác, để cho đối phương không thể, hoặc khó có thể trả lời. Ra câu đối, là áp đảo đối phương bằng bạo lực của ngôn từ, dựa trên bạo lực của quyền thế : người trên, kẻ mạnh, thách thức người dưới, kẻ yếu — ít khi có đối thoại bình đẳng và dân chủ. Sử dụng quyền thế, người ra câu đối (thường là ông quan) đã đẩy chức năng thẩm mỹ của ngôn từ đến tận cùng của tình huống.
Do đó, hơn cả Thi Ca, Câu Đối minh hoạ rõ nét chức năng thi pháp của ngôn từ, theo lý thuyết Jakobson. Câu Đối xuất sắc vì tính cách hóc hiểm, kết hợp ngôn từ với tình huống, chứ không phải xuất sắc vì tư tưởng cao siêu :Da trắng vỗ bì bạch là một điển hình.
Nguyễn Tài Cẩn đã đối lại : Rừng sâu mưa lâm thâm, rất chỉnh ; tuy không sát với tình huống, câu đáp có giá trị văn học, là một câu thơ hay, man mác u hoài trong vũ trụ mông mênh.
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu cũng vậy thôi, nó nói lên thân phận nhỏ nhoi của con người trong lịch sử đa đoan, không nhất thiết phải quan hệ với chuyện Ngô Thời Nhậm -Đặng Trần Thường mà tình huống, thật sự, cũng chưa chắc đã có thực. Những câu đối được truyền tụng, xuất sắc vì văn bản ; còn tình huống, đôi khi người đời sau bịa đặt, nguỵ tạo một hoạt cảnh, trở thành “ giai thoại ”. Các giai thoại văn học về câu đối, thường tái lập ưu thế cho kẻ yếu, tạo cho họ nét thông minh, nhạy bén, dũng cảm, nhưng đây là chuyện xã hội hơn là ngôn ngữ.
Khi luận về Câu Đối, anh Cẩn cao hứng, nhưng vì cả tâm tình và tư duy anh bị điều kiện hoá trong thi pháp, nên anh vẫn tiếp tục đóng góp vào lập thuyết mà không ngờ là mình lập thuyết.
*
Từ vựng học, cách sử dụng ngữ vựng, tham dự vào việc phân biệt thơ và văn xuôi : một từ có thể mang giá trị khác nhau trong thơ hay văn xuôi. Trong địa hạt này, Nguyễn Tài Cẩn đã đem lại những kiến thức lịch đại quan trọng, như trong công trình nghiên cứu thơ chữ Hán và chữ Nôm Nguyễn Trãi, hay khi anh phân biệt thơ Nguyễn Trãi với thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, trên 27 bài tồn nghi, không rõ của người nọ hay người kia. Anh đã mang lại hai thành tựu : phương pháp khảo sát và phẩm chất những khám phá.
Về phương pháp khảo sát từ vựng, anh đưa ra thống kê : trong 250 bài thơ quốc âm, Nguyễn Trãi dùng 11 067 lượt từ, trong đó có 2 235 từ khác nhau (tr. 197), và những từ lặp lại nhiều lần : nguyệt (62), xuân (55), thu (39),thế (đời) (42). Nguyễn Trãi chỉ dùng từ rau một lần trong sáu lần nói đến rau, những lần khác dùng từ chính xác :muống, niềng niệng, mồng tơi,... Tỷ lệ từ đơn âm rất cao : 71,2 %, số từ đa âm còn lại, phần lớn là từ thuần Việt :phơ phơ, thơn thớt,... Tóm lại, rất ít từ Hán Việt. Để phân biệt thơ Nguyễn Trãi với thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, anh đề nghị dựa trên cách dùng từ và kết hợp từ trong câu, tức cái ngôn ngữ riêng biệt của mỗi tác giả, những chi tiết góp phần làm nên cái gọi là idiolecte (tr. 221) (anh dùng tiếng Pháp trong văn bản). Ví dụ : ở Nguyễn Trãi ao là nơi trồng rau nuôi cá, ở Nguyễn Bỉnh Khiêm là nơi tắm mát.
Phương pháp này tỉ mỉ, khoa học và khách quan. Nó gạt ra hai lối biện luận văn học mà ngày nay ta vẫn còn thấy rơi rớt đâu đó : một là lối tán tụng theo ấn tượng và gây ấn tượng, dựa trên khả năng thêu hoa dệt gấm của người biên khảo ; hai là lối phản ảnh : dùng gia thế, sự nghiệp, giai cấp, lập trường, đường lối,... để giải thích, đồng thời “ đánh giá ” (tr. 220). Phương pháp của Nguyễn Tài Cẩn đáp ứng lại sự “ thèm thuồng ” của một Nguyễn Tuân : “ Tôi vẫn thèm đọc những bài phê bình bàn bạc thêm về văn chương, về phong cách văn tự, về thủ pháp văn học, về nhãn quan mĩ học của tác giả, sau khi mình đã nhận định xong cái phần chất lượng tư tưởng của họ ” 6. Câu này Nguyễn Tuân viết năm 1960, lúc đó chưa đọc Nguyễn Tài Cẩn.
Phương pháp Nguyễn Tài Cẩn đề xuất, tự nó, đã mang phẩm chất về mặt khoa học và thẩm mĩ, nó có tầm quan trọng đặc biệt mà giới làm văn học ngày nay chưa chắc đã lãnh hội và đánh giá đúng mức. Còn những đóng góp cụ thể của anh thì vô cùng vô tận, chỉ người làm công tác học thuật khi đọc, mới thấu triệt được công ơn của anh trong việc tìm hiểu thi ca.
Trong thơ, mỗi một từ có giá trị riêng, và âm vang riêng, tuỳ thuộc vào cái vỏ âm thanh và nội dung đa nghĩa, gọi là nội hàm của nó. Bên cạnh đó, nó còn chịu ảnh hưởng giao thoa về ngữ âm và ngữ nghĩa của những chữ chung quanh. Ví dụ như chữ mùa giàu âm vang và có nhiều nghĩa : Mùa ổi, mùa Gió Chướng, Ba Mùa, Mùa Hè Chiều Thẳng Đứng, Mùa xưa, Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà ... Từ mùa do chữ “ vụ ” tiếng Hán, là một từ cổ Hán Việt, có trước thời kỳ Hán Việt thế kỷ VIII - IX. Thời xa xưa đó, hai chữ là một, theo Nguyễn Tài Cẩn : “ viết vụ đọc mùa ” 7. Như vậy mùa có nghĩa mùa màng :
Rồi mùa tóc rã rơm khô
Bạn về quê bạn, biết nơi mô mà tìm
Về sau, mới thêm nghĩa bốn mùa, thời tiết, thời gian, không gian và đèo thêm nội dung tình cảm, u hoài hay hy vọng. Tiếng Anh, Pháp season, saison, cùng một âm vang thi cảm, có lẽ cũng theo quy trình như vậy. Nguyễn Tài Cẩn tỏ ra tâm đắc với chuyện vụ/mùa này nên thường nhắc đi nhắc lại nguồn gốc trong nhiều tác phẩm. Và chúng ta thêm được một kiến thức, hiểu sâu sắc hơn âm vang của chữ mùa trong thi ca dân gian hay hiện đại, hay trong những bài hát của Văn Cao : Từng hẹn mùa xưa ... , ngày mùa vui thôn trang..., khi gió mùa thơm ngát....
*
Xếp theo hình thức bát quái, có thể đọc từ bất cứ chỗ nào, theo chiều kim đồng hồ hay ngược lại, từ ngoài vào, hay trong ra, bài thơ Vũ trung sơn thuỷ của Thiệu Trị được khảm xà cừ và trưng bày tại Bảo tàng Mĩ thuật cung đình Huế (điện Long An)
Trong Một số chứng tích có hai bài ước lược và bổ sung cuốn sách 8 Nguyễn Tài Cẩn đã viết về bài thơ chữ Hán của vua Thiệu Trị, bài thất ngôn bát cú tên Vũ Trung Sơn Thuỷ, đọc được 64 cách khác nhau, và anh cho rằng có thể khai triển thành 256 bài. Để người đọc tiện theo dõi anh đã dịch ra tiếng Việt, trong thể tám câu bảy chữ, mà lại đọc được ngần ấy cách, thành ngần ấy bài khác nhau. Âu cũng là một tuyệt chiêu.
Đây là thể thơ “ hồi văn ” đọc quanh co đi lại đều thành câu, thành bài ; đã hồi văn thì phải liên hoàn : lấy câu (hoặc chữ) cuối bài trước làm câu (hoặc chữ) đầu bài tiếp theo, v.v.
Bài thơ là một “ kỹ xảo ” của Thiệu Trị, nhưng trong lý thuyết Thi Học có giá trị đặc trưng : thơ là ngôn ngữ dẫm chân tại chỗ, không theo tuyến tính (linéaire). Khi đọc lên thành tiếng thì dĩ nhiên phải theo thời gian như mọi lời nói. Nhưng nếu chỉ đọc bằng mắt, thì từ ngữ có thể hoán chuyển ngược xuôi. Valéry đã nói đâu đó, đại khái : văn xuôi là đi tới, thơ là khiêu vũ (la poésie est à la prose, ce que la danse est à la marche), nghĩa là khua đôi chân mà không tiến tới đâu. Văn xuôi là mũi tên phóng về phía trước, thơ là đường kiếm biến hoá không cùng, nhưng vẫn tiến thoái trong vòng tròn của tầm tay.
________________________________________________
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)