Hiển thị các bài đăng có nhãn Bên kia sông Đuống. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bên kia sông Đuống. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 30 tháng 5, 2010

Một số bài thơ Hoàng Cầm

Hoàng Cầm, Tên khai sinh: Bùi Tằng Việt, sinh ngày 22 tháng 2 năm 1922, tại Bắc Giang, quê gốc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Hiện sống ở Hà Nội. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1957), mất ngày 6.5.2010 tại Hà Nội.

Tác phẩm xuất bản: “Hận ngày xanh” (phóng tác theo Lamartine 1940); “Bông sen trắng” (phóng tác theo Andersen 1940); “Cây đèn thần” (phóng tác theo “Nghìn lẻ một đêm”, 1941); “Tỉnh giấc mơ vua” (phóng tác theo “Nghìn lẻ một đêm”, 1942); “Thoi mộng” (truyện vừa, 1941); “Hận Nam Quan” (kịch thơ, 1944, 1942); Bốn truyện ngắn (đăng tiểu thuyết thứ bảy từ 1930 đến 1943);

“Ông cụ Liên” (kịch nói, 1952); “Đêm Lào Cai” (kịch nói 3 hồi, 1957); “Tiếng hát quan họ” (trường ca, in chung trong tập Cửa Biển, 1956);

“Những niềm tin” (thơ dịch của Bonalan Kanfa - Algérie, 1965); “Men đá vàng” (truyện thơ, 1989); “Tương lai” (kịch thơ, 1995); “Kiều Loan” (kịch thơ 3 hồi, 1992); “Mưa Thuận Thành” (tập thơ, 1991); “Lá diêu bông” (tập thơ, 1993); “Bên kia sông Đuống” (tập thơ chọn lọc, 1993); “Về Kinh Bắc” (tập thơ, 1994); “99 tình khúc” (tập thơ tình, 1995) và một số tập thơ, văn khác.

Mưa Thuận Thành

Nhớ mưa Thuận Thành
Long lanh mắt ướt
Là mưa ái phi
Tơ tằm óng chuốt
Ngón tay trắng nuột
Nâng bồng Thiên Thai

Mưa chạm ngõ ngoài
Chùm cau tóc xoã
Miệng cười kẽ lá
Mưa nhoà gương soi

Phủ Chúa mưa lơi
Cung Vua mưa chơi
Lên ngôi Hoàng hậu
Cứ mưa Thuận Thành
Giọt mưa chưa đậu
Vai trần Ỷ lan

Mưa còn khép nép
Nhẹ rung tơ đàn
Lách qua cửa hẹp
Mưa càng chứa chan

Ngoài bến Luy Lâu
Tóc mưa nghiêng đầu
Vành khăn lỏng lẻo
Hạt mưa chèo bẻo
Nhạt nắng xiên khoai
Hạt mưa hoa nhài
Tàn đêm kỹ nữ
Hạt mưa sành sứ
Vỡ gạch Bát Tràng
Hai mảnh đa mang

Chiều khô lá ngải
Mưa gái thương chồng
Ướt đầm nắng quái
Sang đò cạn sông

Mưa chuông chùa lặn
Về bến trai tơ
Chùa Dâu ni cô
Sao còn thẩn thơ
Sao còn ngơ ngẩn
Không về kinh đô

Mưa ngồi cổng vắng
Mưa nằm lẳng lặng
Hỏi gì xin thưa
Nhớ lụa mưa lùa
Sồi non yếm tơ

Thuận Thành đang mưa...
+++

Bên kia sông Đuống
(Trích)

Em ơi! Buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì

Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ

Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay
Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

..........
Ai về bên kia sông Đuống
Cho ta gửi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên
Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai

Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu
Những nàng môi cắn chỉ quết trầu
Những cụ già phơ phơ tóc trắng
Những em xột xoạt quần nâu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?

Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu toả nắng
Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen
Bãi Tràm chỉ người dăng tơ nghẽn lối
Những nàng dệt sợi
Đi bán lụa màu
Những người thợ nhuộm
Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?
..........
Đêm đi sâu quá lòng sông Đuống
Bộ đội bên sông đã trở về
Con bắt đầu xuất kích
Trại giặc bắt đầu run trong sương
………
Bao giờ về bên kia sông Đuống
Anh lại tìm em
Em mặc yếm thắm
Em thắt lụa hồng
Em đi trảy hội non sông
Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh

Việt Bắc tháng 4.1948

+++

Cuộc lưu đày vương giả
(Nhớ chuyện Công chúa Huyền Trân, đời nhà Trần)

Một đi biền biệt về Nam
Như rơi một đoá hoa vàng giữa xuân
Ý hoàng gia dám ngại ngần
Một vì nghiệp đế trăm lần dân thương
Lên xe có kịp mẹ ôm?
Người yêu có kịp lệ buồn chia xa?
Một thân thui thủi quan hà
Bốn phương mây trắng nắng nhoà quê hương
Khóc sao dềnh sóng đại dương?
Hận sao nghi ngút Trường Sơn nghìn trùng?
Đi bao giờ tới cõi không?
Đồ Bàn đâu biết tận cùng hư vô?
Hai châu Ô Lý hoang sơ
Nâng chân Công chúa sạt bờ chiến chinh
Biên cương rộng mơ thanh bình
Hỏi sao hoàng hậu Chiêm Thành hoá câm?
Tên phố giờ cũng xa xăm
Còn ai sẻ nỗi đau thầm nghìn xưa?

Mùa lạnh 2005

++

Theo đuổi

Em ơi thử đếm mấy giêng hai
Đêm hội Lim về
đê quai rảo bước
Đuổi tà lụa nhạt
ánh trăng đầm thấm đường sương

Ấy bởi thương em
vườn khô bỏ ngỏ
Gió vào ra bưởi trụi hồng thui
Ấy bởi thương em
mái nhà um cỏ
Chim vào ra vách đứng cột ngồi

Em về đồng chiêm đất rạn chân chim
Em đi mưa ngâu nước ngập đồi chè
Hồ nghe đêm hội ới a
Lại xót mắt em mi trường khép bóng
Lòng tay êm mái rừng tơ xa
Lại xót tay anh đêm trường ru võng
Rừng chân mây chưa động sấm quê nhà

Chân em dài đi không biết mỏi
Má em hồng em lại nổi
đồng mùa nước lụt mênh mông
Lưng thon thon cắm sào em đợi
Đào giếng sâu rồi
đừng lấp vội đầu xanh

Lý lý ơi khát khô cả giọng
Tình tình ơi chớ động mành thưa

Chìa vôi quệt gió hững hờ
Bờ ao sáo tắm bây giờ…
… hở em.


Quả vườn ổi

Nằm trên bãi cát thư tâm
Sông nước sinh thuyền Em đẩy tới
Có gió có buồm có dòng có lái
Trách gì ai xô giạt đến bờ hoang

Em mười hai tuổi tìm theo Chị
Qua cầu bà Sấm bến cô Mưa
Đi…
ngày tháng lui
tìm không thấy
Giải yếm lòng chai mải phất cờ
Cách nhà ba bước vào vườn ổi
chị xoạc cành ngang
em gốc cây
- Xin Chị một quả chín!
- Quả chín quá tầm tay
- Xin Chị một quả ương!
- Quả ương chim khoét thủng

Lẽo đẽo Em đi vườn mai sau
Cúi nhặt chiều mưa dăm quả rụng.

+++

Về với ta
Ta con bê vàng lạc dáng chiều xanh
đi mãi tìm sim chẳng chín
Ta lên đồi thông nằm miếu Hai Cô
gặm cỏ mưa phùn

Dóng dả gọi về đồng sương
đôi ba người lận đận
Đêm nay mẹ chẳng về chuồng
Ta con chào mào khát nước
Về vườn xưa hạt nhãn đã đâm mầm
Cây ổi giơ xương
chống đỡ mùa đông
xập về đánh úp
Ô này tám đỏ ra hoa

Ta con chim cu
về gù rặng tre
đưa nắng ấu thơ
về sân đất trắng
đưa mây lành những phương trời lạ
về tụ nóc cây rơm

Ta ru em
Lớn lên em đừng tìm mẹ
phía cơn mưa
Ta con phù du ao trời chật chội
đứng cánh bèo đo gió lặng tìm sao

Uống nước mắt con vành khuyên nhớ tổ
vừa rụng chiều nay
dềnh mặt nước hương sen

Ta soi
chỉ còn ta đạp lùi tinh tú
Ngủ say rồi
đôi cá đòng đong

+++

Ngủ vỉa hè

Thường đêm đày đoạ tấm thân
Để trong đói khát được gần em hơn

Dưới hiên mê chập ngủ chờn
Nghe anh xẩm nối giọng đờn đứt dây
Sương khuya mèo rú mái tây
Thôi Oanh Oanh rẽ lối này được không?

Bỗng dưng nước mắt ròng ròng
Hoá ra em trói chặt vòng tay anh
Đêm đi chậm quá không đành
Xích lô máy lạnh tung hoành…cơn đau…

Nhà em đâu? Anh ngủ đâu?
Ổ gà hạnh phúc giục mau gập ghềnh
Xe đời bẹp bánh chông chênh
- Vá cho tôi!
- Nắn lại vành mê si

__________________________________________________

_____________________________________________________________

Thứ Sáu, 14 tháng 5, 2010

Còn ve vé mãi một giống Hoàng Cầm xanh

Xuân Ba


TP - Kịch thi văn sĩ Hoàng Công Khanh ra đi hăm hai thì hăm ba tháng ba âm đùng cái, cũng kịch thi kiêm thi sĩ Hoàng Cầm về cõi.

Lạ thế, mới lử lả hai cơn nóng tiết lập hạ mà Chiếu kịch thơ Bắc Hà quạnh hẳn đi hai gò hai đống! Chút an ủi là nhị vị đây đều về cõi ở tuổi quá cửu tuần...

Chợt nhớ hai câu của Nguyễn Khuyến Tuổi là tuổi của gia tiên/ thế nên thày được hưởng niên lâu ngày. Tuổi của gia tiên, tuổi của trời. Giời cho hay giời hành đây, chả biết?

Thuở trai xanh tung ra những Bến nước Ngũ Bồ những Cung phi Điểm Bích giăng ra những Kiều Loan những Sông Đuống cùng váy Đình Bảng buông chùng cửa võng những lá diêu bông... rồi ông Xanh lại giành cho hơn nửa thế kỷ nữa của thời gian sống để mà hành tiếp nhị vị họ Hoàng, bắt phải hậm hụi vượt qua những gò những đống những cái mốc ấy! May mà giời lại thương, lại cho.

Hai thi sĩ kịch thi họ Hoàng, hai con tằm già đó chả chịu rợp lẫn cớm dưới những mốc giới sáng tạo ấy mà vẫn nhả vẫn dệt thêm những đường tơ óng ả ngõ hầu rung động tiếp những tâm của tao nhân mặc khách lẫn người đời.

Tôi có ông bạn làm nghề điêu khắc tên là Khúc Quốc Ân. Không biết lọ mọ được bao nhiêu vốn mà gần 20 năm trước đã cho dựng ở mạn Láng Hạ một mái nhà sàn. Bên bếp lửa nhà sàn Láng Hạ những năm rét ấy, ánh lửa thêm nồng đượm thêm nhảy nhót bởi có những bàn tay xòe ra của những Hoàng Cầm, Kim Lân, Đỗ Chu, Nguyễn Khải...

Một bận cả đám được rinh sang Thuận Thành quê Khúc Quốc Ân. Đêm rét Thuận Thành ấy không có mưa, lòng ngôi nhà cổ của họ Khúc ngay ngắn mấy vuông chiếu đã qua đi một phần đêm của chương trình quan họ cổ.

Hoàng Cầm tóc nõn bông xoải người trên chiếu. Xoải là kiểu nửa nằm nửa ngồi theo thế nghiêng một tay chống đầu. Nghĩ cứ cười thầm, đám các em các cháu quan họ gọi ông con trai Hoàng Kỳ (hồi đó cũng trên lục tuần) của thi sĩ Hoàng Cầm là chú nhưng lại xưng em ngọt lịm với tác giả Mưa Thuận Thành.

Ánh mắt thi sĩ lim dim sang mạn những Thúy Hường, Thúy Cải thuở ấy đương nhấn nhá những âm sắc vang rền nền nẩy. Chả có cái chi thoát được sự soi của nhà văn Kim Lân cả khi ông gục gặc cái đầu sang mé tôi tuổi ấy mà mắt cứ ve vé xanh thế thì có chết không cơ chứ!

Tôi giật mình choàng tỉnh trước sự bình phẩm bất ngờ của lão Hạc! Hữu Loan thì bảo thơ Hoàng Cầm đĩ. Tô Hoài có bận dim mắt (những khi ấy không biết cụ khen hay cụ thoắt nhớ một thời trai) rằng Hoàng Cầm là cái... giống phong tình! vv... Nhưng cụm từ ve vé xanh dường như là sự toát yếu chất sống cùng chất thơ của thi sĩ Hoàng Cầm?

Ngót chục năm trước, tôi có viết loạt bài về người đàn bà đa tình và cuốn hồi ký truân chuyên. Đó là người đẹp Trịnh Thị Phụng tức Minh Phụng quê ở xứ Đông những năm bốn mươi thế kỷ trước từng nổi danh trên sân khấu Hà Thành trong những đêm diễn hiếm hoi.

Nổi nhất là đêm diễn kịch thơ Kiều Loan của thi sĩ Hoàng Cầm. Đêm ấy, nhà văn Nguyễn Tuân đã vét sạch túi rồi lại mua chịu một phần hoa trước cửa nhà hát lớn Hà Nội để mua tặng diễn viên Minh Phụng.

Sau này, người con gái đa tình đa tài ấy đã bỏ nghề sân khấu đi giang hồ. Giọng hát cùng ánh mắt của mỹ nhân từng làm ngả nghiêng các salông sang trọng của nhiều nhà buôn đến chính khách. Nhưng mỹ nhân ấy số phận khá truân chuyên. Phần cuối cuộc đời lặng lẽ, trải qua nghèo khó và mất ở Sài Gòn.

Trước khi mất bà Trịnh Thị Phụng đã hoàn thành cuốn hồi ký cuộc đời mình và ký thác việc giữ gìn cũng như xuất bản cho nhà gia phả học Dã Lan Nguyễn Đức Dụ. Đó là một nhà phả học nổi tiếng của Việt Nam có tên trong nhiều công trình phả trạng học của thế giới, nay cũng đã mất.

Trước khi mất, cụ Dã Lan Nguyễn Đức Dụ lại ký thác tiếp cho vài người khác trong đó có nhà nghiên cứu sử học Hoàng Lê và GS sử học Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học.

Tôi may mắn tình cờ được GS Văn Tạo cho mượn cuốn hồi ký dạng bản thảo ấy. Và mùa xuân Canh Dần, may mắn cuốn hồi ký của mỹ nhân Trịnh Thị Phụng tức Minh Phụng, có tên là Vàng son huyết lệ đã được NXB Phụ nữ cho ấn hành với số lượng lớn nghe nói bán khá chạy...

Trở lại thời gian tiếp cận với cuốn Vàng son huyết lệ dạng bản thảo, tôi gạn thêm thi sĩ Hoàng Cầm hoàn cảnh vở kịch Kiều Loan ra mắt lần đầu ở Hà Nội cũng như đêm diễn đầu tiên lẫn người thủ vai chính. Điều kỳ diệu là thi sĩ sau một hồi suy nghĩ đã tuồn tuột kể ra nhiều điều...

Tôi nói kỳ diệu là bởi hồi ức của thi sĩ Hoàng Cầm sau nửa thế kỷ vẫn rành rọt và hầu hết đều trùng với những chi tiết trong cuốn hồi ký mặc dầu thi sĩ không hề biết trên đời đã có một cuốn Vàng son huyết lệ dạng bản thảo.

Tôi cũng được biết thêm, không phải sau buổi công diễn đầu tiên ấy thi sĩ mới biết Minh Phụng. Có điều sau buổi công diễn ấy, Hoàng Cầm mới giới thiệu với bạn bè để làm quen với diễn viên sắc tài thủ vai chính trong đó có nhà văn Nguyễn Tuân.
Tiện buổi gặp, tôi cũng trích để trình thi sĩ tâm sự của người bạn gái năm xưa
... Tin tưởng ký thác anh Dã Lan Nguyễn Đức Dụ cuốn hồi ký độc nhất của tôi. Sau này anh hoàn toàn sử dụng vào một thời điểm thích hợp để mai sau con cháu chúng ta biết rõ thăng trầm của một người sương phụ đại bất hạnh. Saigon 24-4 năm Tân Dậu tức là ngày 27-5-1981. 8 giờ sáng, viết trong lúc đang lâm trọng bệnh...

Và tâm sự của nhà phả trạng học Dã Lan Nguyễn Đức Dụ Bốn trăm trang hồi ký! Thú thật tôi chưa từng thấy tập bút ký nào như thế không phải độ dầy mà lạ! Có điều các chính khách hay những danh nhân khác thường hay nói tốt cho mình nhiều hơn chớ mấy ai như chị lại đem phô bày hết những cái xấu xa trụy lạc của mình ra.

Tôi rất thán phục chị phải can đảm lắm mới viết ra như thế. Minh Phụng quả không hổ thẹn dòng dõi Nho gia. Chị là một phụ nữ đủ tài sắc. Tuy chị là gái nhảy chả tên tuổi gì nhưng để lại một tập bút ký như thế với mấy trăm bài thơ là đủ cho đời sau nhắc đến chị rồi.

Đọc những dòng ấy, thi sĩ mắt nheo nheo, giọng bồi hồi rồi bảo tôi đưa cho ông cuốn sổ. Một lát ông lại buông sổ, vớ lấy cái điếu. Đóm đã châm nhưng lập tức ông dụi chưa hút... Với nét chữ khoát hoạt cố hữu, lại có phần bay bướm nữa là khác. Thi sĩ giáng giữa trang hai câu Trăm loài súng sính có đôi/ Loài tình thui thủi đi về một- không. Hoàng Cầm.

Tôi lờ mờ hiểu hình như thi sĩ bất ngờ bật ra hai câu ấy ngay lúc ấy và cho suốt mãi những năm sau này, ông chưa kịp giăng kịp nối thêm cái kỷ niệm cùng cuốn hồi ký như ông nói đã gợi cho thi sĩ rất nhiều dự cảm... Dự cảm? Có lẽ chả bao giờ nữa!
Hoàng Cầm, vị thuốc đông y đắng lắm nhưng tính lại bình có tác dụng công phạt nhiều thứ... Có lẽ với không ít người, thơ Hoàng Cầm hàng bao năm nay đã góp nên những bình ổn cân bằng. Mà công trạng ấy có lẽ vẫn dằng dặc cùng năm tháng? Vậy nên cứ ve vé mãi một giống xanh Hoàng Cầm như ý cụ Kim Lân chăng?

Đêm 6 - 5 tức 23 tháng Ba, Canh Dần

_____________________________________________________

Thứ Bảy, 8 tháng 5, 2010

Thi sĩ Hoàng Cầm - Nghĩ lúc nằm im

Nguyễn Thị Ngọc Hải

trò chuyện với
Nguyễn Thị Ngọc Hải

Hoàng Cầm – người thơ mang vị thuốc đắng ấy bây giờ lúc ngồi lúc nằm. Nếu không, phải chống tay thế này. Ngã gãy mất xương đùi trái. Đã 86 tuổi, bây giờ chàng thi sĩ đa tình và tài hoa xứ Kinh Bắc nằm yên một chỗ. Nhưng hễ có bạn bè lên thì vẫn nụ cười “ như mùa thu toả nắng”.

Bây giờ chắc ông khó mà đưa em nào buồn về bên kia sông Đuống như ngày xưa nữa rồi?

(Cười) Gãy chân đã 5 năm. Bác sĩ bảo mổ. Không. Thôi, què thế cũng được rồi. 24/24 giờ xoay xỏa mãi một kiểu nằm ở cái giường. Đám Thuỵ Kha, Trọng Tạo bảo thơ nó vận vào đó. Suốt đời “nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ” như sông Đuống. Vậy mà tôi vừa về quê năm ngoái đấy.

Đi đứng thế nào ạ?

Ngồi xe lăn. Ô tô thuê. Về làng Lạc Thổ - Đông Hồ, còn một ông anh con bác ruột. Vài người bạn cũng thành cụ cả rồi. Yếu. Gặp nhau mừng lắm. Tôi về cùng các con dự giỗ tổ họ Bùi.

Bên kia sông Đuống vẫn xanh bãi mía bờ dâu, những cô hàng xén, những nàng dệt sợi đi bán lụa màu, những em sột soạt quần nâu.. giờ thay đổi nhiều lắm phải không ạ? Có còn “dấu vết” gì không?

Làng ấy nửa buôn bán nửa nông nghiệp, xưa nay vẫn thế. Đi chợ này chợ khác, không hẳn thuần tuý là cái làng Việt Nam. Tranh Đông Hồ thì xóm bên cạnh Tết vẫn làm. Vẫn con lợn con gà, đám cưới chuột.

Vậy làng còn đẹp như trong thơ không?

Nó đẹp hay không tự mình. Lúc nào tôi cũng thấy nó đẹp. Nhưng bến đò không còn cảm giác quê hương. Hai bên bờ đã khác. Văn minh hơn. Bến đò nay xây cầu sắt hẳn hoi, tiện cho dân. Mất thơ mộng, chả có cảm xúc gì. Chỉ thấy văn minh.

Thưa, thấy văn minh là cảm xúc…

Trước bến đò không nhà tầng bên sông, chỉ đi bộ xuống. Bây giờ thông thống cả. Mất đi không khí quê cũ. Chỉ cần một ngôi nhà ngói chen vào là hỏng rồi. Mất cái gì không biết, chỉ thấy mất. Đã gọi là bến mà, phải chờ phải đậu. Xưa có quán tạm để người chờ vào đó uống nước. Bây giờ có cầu, tất nhiên bến đò mất đi không phải chờ, vào đó uống nước làm quái gì. Văn minh phá không khí. Trẻ không có kỷ niệm. Càng già kỷ niệm càng gay gắt.

Trẻ lại có kỷ niệm khác chứ thưa ông. Nói họ không có kỷ niệm e là họ không đồng ý?

Kỷ niệm là cái đã qua, bao giờ cũng trôi về thuở ấu thơ ấy chứ. Bọn trẻ có kỷ niệm giống nhau hết cả. Thí dụ một anh 20 thì kỷ niệm của anh ta hồi 7-8 tuổi làm gì có nữa. Lúc đó bắt đầu đổi mới rồi. Không có thời gian, lấy đâu ra kỷ niệm. Mà họ giống nhau: Cùng được bố mẹ nuôi, sống ở thành phố,

Nhưng bây giờ tâm tưởng họ khác, phong phú nhiều bề, bận rộn, căng thẳng lắm chứ đâu có thong dong suy ngẫm kỷ niệm?

Cứ lấy thí dụ con cái thân thiết của gia đình mỗi nhà mà xem. Tâm tưởng thì chúng nó nghèo lắm đấy. Con tôi chẳng hạn, ngoan giỏi, yêu kính bố. Nhưng tập thơ tôi in ra. Sáng dậy nó còn ngủ. Tôi để cuốn thơ đầu giường, ngay mang tai nó, dậy nhất định thấy liền. Nó: Ờ, hay quá. Bố mới xuất bản ạ. Rồi giở lướt ra: In đẹp đấy nhỉ. Rồi để lại chỗ cũ, không cầm đi theo. Không có gì nó quý.

Vậy nó “quý” gì?

Bố có khách, nó quý người khách lắm. Họ nói chuyện thơ là nó thích, dù nó bận không nghe. Nó quý bạn thơ của bố mà chưa biết quý thơ. Đứa nào cũng phải tính làm ăn. Có tiền nuôi vợ con khá lên. Thời đại nó thế mất rồi. Giỗ vợ tôi mà đông khách khứa, bạn bè thăm bố, nó phấn khởi. Nhưng nghĩ ít. Hay là nó nghĩ gì không biết.

Con cháu có thuộc thơ ông không – cả nước phải học, vừa rồi cũng lại “Bên kia sông Đuống” là đề thi Văn mà?

Con cháu tôi đều đức độ, không phải loại vô học nhưng nó không quan tâm lắm dù cũng đã học qua rồi, bài của bố nó là tác giả. Nhưng đứa cháu lại thuộc, con chị học bên Hà Lan thì sưu tầm cẩn thận lắm.

Bài “Bên kia sông Đuống” dài lắm, đọc lên khi nào cũng nao lòng. Ông còn thuộc khômg?
Đây này, tôi sẽ đọc …(Ông đọc liền tới hơn 100 câu thì ngừng), như thế là mệt rồi. Giọng bây giờ nó cũng hỏng rồi. Hay gì. Trước sang sảng, nay có lúc khản hẳn.

Mặc dù có nhiều tác phẩm, ông có thể kể lại những cảm xúc nao lòng em oi buồn làm chi, anh đưa em về sông Đuống… làm rung động nhiều thế hệ?

Chuyện này nghiên cứu văn học có phân tích nhiều nhưng tôi vẫn sẽ nói thêm cái cảm giác của một đêm khuya năm 1948 ở khu 12 Phú Bình Thái Nguyên. Mấy anh cán bộ Nam sông Đuống lên báo cáo tình hình Pháp chiến. Tư lệnh Lê Quảng Ba mời tôi sang nghe.
Lúc đó tôi thành lập một đội văn công nhỏ. Tôi nghe họ báo cáo ở Thuận Thành, Lang Tài, La Lương, nó bắt bao người, bắt bao nhà. Đêm về nghe rõ ràng giọng chính mình vang lên mấy câu đầu “Em ơi buồn làm chi…” nó trào ra rất nhanh. Không phải nghĩ nữa. Âm điệu chữ nghĩa cứ tuôn ra. Thương quê mình quá.

Nghe nói hồi đó ông cứ phải ngồi đọc cho các cán bộ ở Côn Đảo, Phú Quốc, Campuchia về hội nghị ở Việt Bắc chép bài thơ đó. Sau nó được in ở báo Cứu Quốc. Ông còn giữ tờ báo đó không?

Chiến tranh loạn lạc, làm gì còn.

Theo ông, cái gì làm cho khung cảnh một làng quê ông sống mãi trong mọi tâm hồn?

Gắn lòng với dân tộc, thương quê. Cái gì nói lên được quê hương và những người quê hương sẽ trường tồn. Đó là một quy luật.

Nhưng có thời hình như nó bị cấm?

Lúc đó tôi nghĩ: cứ cấm đi, chỉ 10 năm nó sẽ sống lại… Ai không gì dìm cho nó “chết” được.

Ông sống rất lâu ở Hà Nội, nhưng lại không làm thơ về Hà Nội?

Tôi ở từ năm 1941-1942 khi diễn vở “Kiều Loan”. Lúc đó mới biết Hà Nội nó ở chỗ nào. Không biết thích gì ở Hà Nội. Vì nó ít kỷ niệm, hoặc kỷ niệm không đáng nhớ lắm. Cũng đi học, đi thi…

Bây giờ những tứ thơ còn đến với thi sĩ nữa không?

Thơ đầy bụng nhưng không viết được. Chỉ 3 phút là tư tưởng loãng, rối dần. Biết thôi hết rồi.

Thì ghi âm, hoặc gọi con cháu ghi giùm, không thì phí quá.
Phải nhớ, là rắc rối rồi.

Vậy phải nằm suốt ngày, nhà thơ nghĩ gì?

Không có một việc gì để làm cả. Nghĩ về dĩ vãng, công việc, vợ con, bạn bè. Chỉ thoáng thôi. Nhớ giờ không sâu nữa.

Kể cả nhiều mối tình đã từng say đắm, thi sĩ đa tình cũng quên hết sao?

13 người gia nhân – kể những người có “thành tích” tên tuổi. Linh tinh không dễ. Hầu như họ ở Sài Gòn hoặc tản mạn đi đâu hết.

Ông nằm trên tầng lầu cao nhất của ngôi nhà gần sát nhà thờ lớn. Hàng ngày nghe tiếng chuông có gợi nhiều buồn vui, dĩ vãng?

Chuông nhà thờ ở thàmh phố không thể nào sánh với chuông chùa vùng quê. Xâm xẩm chiều buông, tiếng chuông chùa quê Việt Nam nó ghê lắm. Từng tiếng một, tắt hẳn dư âm mới tiếp tiếng khác, chìm dần, đưa vào cõi không. Vời vợi rồi chìm hết. Nghe tiếng chuông chùa ở nhà quê mới hay. Chùa Quán Sứ cũng có, nhưng nó ở thành phố, không thực không khí Việt Nam. Muốn hưởng cái hay phải ở nhà quê yên tĩnh. Mà phải nghèo.

Sao vậy ạ?

Nghèo – cảm thấy hư vô không còn gì cả. Tiếng chuông chùa lên là thôi, tan dần, mới thật là Phật. Chuông nhà thờ buồn chiều một tí, nhưng chuông chùa ở nhà quê đưa người ta hiểu đúng thế nào là hư vô.

Nằm “trên trời” thế này ông có theo thời sự không ạ?

Đọc báo. Xem TV cả ngày phát chán. Giá lên. Có cảm giác nhân loại này TV Việt Nam nói nhiều nhất thế giới. Thấy nói thừa nhiều quá. Mà các ông đi thăm chỗ này chỗ kia, chả thấy nói ông ấy làm gì, bàn gì không biết.

Cuộc sống sinh hoạt hiện nay của ông thế nào ạ?

Ăn cháo với thịt băm. Củ cải dầm ăn được. Còn thuốc lào thì không kể được. Anh Nguyễn Đình Toán còn nhớ đấy. Năm 1993 vào Huế, ông Hải Bằng về nhà chặt tre làm điếu đem đến không kịp. Chúng tôi ra đến Quảng Trị nhờ trẻ con đi mua điếu không có. Một lần ra sân bay, Toán uống bia xong đục cái vỏ lon bia làm điếu.

Hút vậy hại sức khoẻ lắm.

Câu ấy ai cũng nói. Nhưng nó theo cả đời rồi. Mình phải cầm đóm lấy mới ngon, Để người châm hộ không ngon.

Thật ra sống đủ rồi, không muốn sống đau ốm, thế nên cho trách giời một tí.

_____________________________________________

Thứ Sáu, 7 tháng 5, 2010

Thi sĩ Hoàng Cầm quay về lãng đãng bến sông xa

LÊ THIẾU NHƠN

Nghe tin đồng nghiệp báo thi sĩ Hoàng Cầm vừa trút hơi thở cuối cùng vào lúc 9 giờ sáng ngày 6-5-2010, trong tôi nhen lên chút cảm giác nghèn nghẹn. Không phải sự ngạc nhiên, cũng không phải sự nuối tiếc, mà giống sự đắng đót rối bời. Cách đây 5 năm, tôi ghé thăm đã thấy sức khỏe ông rất yếu. Hình ảnh tác giả của những bài thơ lừng lẫy nằm co ro trong tấm chăn mỏng nơi một căn gác nhỏ, khiến tôi không khỏi xót xa.

Đành rằng, trời cho sống thêm một ngày là phúc đức thêm một ngày, nhưng cuộc chống chọi giữa Hoàng Cầm và không gian cô độc vắng lặng xung quanh có lẽ đã quá sức chịu đựng của ông. Gặp khách tri âm, Hoàng Cầm gắng gượng ngồi dậy đọc thơ, đôi mắt ươn ướt thỉnh thoảng ứa lệ và chất giọng ngọt mềm đứt quãng của ông cứ ám ảnh tôi về buổi hoàng hôn tài hoa sầu muộn.

Hôm tao ngộ ấy, Hoàng Cầm lặp đi lặp lại câu nói “Bây giờ một ngày dài quá!” vẫn làm tôi xao xác mỗi lần nhớ lại. Và từ đó đến nay, cũng chính câu nói gần như nỗi tuyệt vọng kia đã ngăn bàn chân tôi mỗi khi có dịp ra Hà Nội dự định ghé qua số 43 Lý Quốc Sư tìm ông. Thực sự tôi ái ngại nếu thoáng gặp nét mặt nửa mê nửa tỉnh của ông trong chập chờn câu thơ “sao xót xa như rụng bàn tay” mà ông đã viết từ năm 1948!

Năm 26 tuổi, bài thơ “Bên kia sông Đuống” đã đưa chàng trai Bùi Tằng Việt, có bút danh Hoàng Cầm, lên hàng thi sĩ tiêu biểu nhất trong kháng chiến chống Pháp. 62 năm trôi qua, bao thế hệ người Việt đã được nâng niu, được sưởi ấm bằng những lời thơ nồng nàn: “Ai về bên kia sông Đuống/ Cho ta gửi tấm the đen/ Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên… Ai về bên kia sông Đuống/ Có nhớ từng khuôn mặt búp sen/ Những cô hàng xén răng đen/ Cười như mùa thu tỏa nắng… Chưa bán được một đồng/ Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong/ Bước cao thấp trên bờ tre hun hút/ Có con cò trắng bay vùn vụt/ Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu?/Mẹ ta lòng đói dạ sầu/ Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ”. Và công chúng có quyền tin rằng, bài thơ “Bên kia sông Đuống” sẽ tiếp tục thay mặt Hoàng Cầm ở lại với nhân gian.

Không chỉ kiến tạo sông Đuống “một dòng lấp lánh, nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ”, Hoàng Cầm còn sáng tác ra một thứ lá không có trên đời, mà ngày nay đã trở thành biểu tượng tình yêu: Lá Diêu Bông! Nhạc sĩ Trần Tiến mượn chiếc lá độc đáo này để kêu gọi kế hoạch hóa gia đình “lấy chồng sớm làm gì, để lời ru thêm buồn”, còn thần thái “Lá Diêu Bông” của Hoàng Cầm tiệm cận một thứ tình yêu khác, mê hoặc hơn, quyến rũ hơn, huyền ảo hơn: “Từ thuở ấy/ Em cầm chiếc lá/ đi đầu non cuối bể/ Gió quê vi vút gọi/ Diêu bông hời…ới diêu bông…!”.

Hoàng Cầm luôn tin thơ đến từ một xứ sở mầu nhiệm. Ông không ngần ngại thổ lộ rằng, những bài thơ thành công nhất của ông đều nhờ ghi chép lại từng câu, từng chữ như vọng về từ một giọng đọc bí ẩn. Phương pháp làm thơ kỳ diệu của Hoàng Cầm có lẽ tôi và nhiều người không thể cắt nghĩa được rõ ràng. Tuy nhiên, đọc chính thơ ông, chúng ta dễ dàng nhận ra những mối tình đeo đẳng suốt cuộc đời nhà thơ.
Phía sau mỗi bài thơ của Hoàng Cầm đều mờ tỏ bóng hình một người phụ nữ nết na, cam chịu. Mối tình chị - em không chỉ xuất hiện trong “Lá Diêu Bông” mà vẫn “dan díu” trong nhiều bài thơ khác của Hoàng Cầm.

Thật lạ, mối tình chị - em luôn bật ra những câu thơ đẹp ngơ ngác và buồn day dứt thường trực tự tấm lòng si mê của Hoàng Cầm, khi níu kéo khoảnh khắc “Chị em xanh” nức nở: “Vậy thì Em ngắt quãng tân hôn/ Theo Chị lùa mưa đuổi nắng buồn/ Hai đứa lung linh lơi yếm áo/ Thuyền trăng dềnh sã cánh cô đơn”, khi ngoảnh lại trò chơi “Cây tam cúc” thảng thốt: “Nghé cây bài tìm hơi tóc ấm/ Em đừng lớn nữa Chị đừng đi/ Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa/ Ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì”.

Với vóc dáng mảnh mai và mái tóc bạc trắng, Hoàng Cầm nhẹ nhàng bước qua 89 tuổi đời, nhiều vinh hiển mà cũng lắm thiệt thòi. Mỗi người có một cách nhìn về ông, nhưng ai cũng phải thừa nhận số phận lãng du và phiêu bồng của ông đã góp cho hành trang tinh thần chúng ta những câu thơ đắm đuối.

Lúc xa vắng “Về với ta”, Hoàng Cầm tự nhủ: “Ta con phù du ao trời chật chội/ đứng cánh bèo đo gió lặng tìm sao”. Nhưng trái tim ngây ngất của ông chưa bao giờ dửng dưng với cõi người bằng thái độ “Nếu anh còn trẻ” giăng mắc duyên nợ: “Nếu có ngày mai anh trở gót/ Quay về lãng đãng bến sông xa/ Thì em còn đấy hay đâu mất?/Cuối xóm buồn teo một tiếng gà…”.

Sinh ra và lớn lên ở miền quê quan họ, Hoàng Cầm đã đi cùng dân tộc suốt chiều dài “Bên kia sông Đuống”, và biết đâu hôm nay bước sang một thế giới khác ông sẽ tìm được “Lá Diêu Bông” mà ông hằng mường tượng? Bởi lẽ, với Hoàng Cầm, sự sống luôn “Nguyên hình ảo vọng” chấp chới hiện thực và huyễn mộng: “Khi lửa khói tàn đêm, dòng sông êm ái/ Tôi lại gặp em, tưởng tháng năm dài chững lại/ Em vẫn thế… thon cây mềm trái/ Tóc hong chiều còn óng tuổi mơ xanh”.

___________________________________________

Ơi Diêu Bông!

Lê Thọ Bình

"Khác ông chúa thơ tình Xuân Diệu “Yêu là chết trong lòng một ít”, thì với thi sĩ Hoàng Cầm yêu là sống. Và dường như ông sinh ra là để đi kiếm tìm. Một cuộc kiếm tìm tình yêu bất tận"

Cuộc đời ông là chuỗi những thăng trầm, hạnh phúc, khổ đau. Nhưng rồi ông vẫn sống một cách nhi nhiên, tự tại đến hồn nhiên. Hoàng Cầm là thế bởi ông “… khờ khạo lắm, ngu ngơ lắm/ Chỉ biết yêu thôi chẳng biết gì” (như ông chúa thơ tình có lần đã nói).

Ông nằm đó, nghiêng nghiêng như… sông Đuống

Lần cuối cùng tôi đến thăm ông là vào một buổi chiều trước Tết Canh Dần. Trời Hà Nội se se lạnh. Căn phòng nhỏ trên tầng 5 của ngôi nhà nhỏ ở 43 Lý Quốc Sư. Ông nằm đó, phủ một chiếc chăn mỏng, nghiêng nghiêng trên chiếc giường nhỏ, thân hình nhỏ thó, mỏng tang, mái tóc bạc trắng như cước xoã dài trên gối.

Tôi đã không còn thấy cái hình ảnh quen thuộc: chiếc bàn con đặt cạnh giường ông, ngổn ngang giấy trắng. Giấy trắng đắp hờ qua chiếc chăn con những vần thơ mới trầm tư, hướng về một cõi không nào đó.
Năm nay, ở gần tuổi 90, ông đã mệt nặng. Ông nằm miên man, đôi mắt “vốn vẫn luôn cười” nay chan chứa nỗi u sầu hững hờ khép mở. Mặc cho ngoài kia cuộc sống đang ồn ào, sôi sục, mặc cho thiên hạ dan díu nhau đi sắm Tết, mặc cho cuộc sống bon chen trong bể trầm luân của kiếp người. Ngày lại ngày chàng thi sĩ đa tình, hồn nhiên mà lãng du ấy đang chìm đắm trong cõi miên viễn, trong những giấc mơ, những hoài niệm tưởng chừng không dứt, và trong cả sự câm lặng một cách vô thường của thời gian.

Chúng tôi chào ông, đùa: “Bây giờ mà có em nào xinh đẹp đang buồn thì liệu có còn đủ sức để mà tỷ tê: “Em ơi buồn làm chi” để mà “… đưa em về sông Đuống/ Ngày xưa… cát trắng phẳng lì” nữa không?

Thi sĩ của những tuyệt phẩm thơ “Bên kia sông Đuống”, “Lá diêu bông”, “Mưa Thuận Thành”… nhè nhẹ trở mình một cách đầy khó khăn, đôi mắt u sầu bổng ánh lên. Đôi môi đỏ trên làn da sáng mịn khẽ nhếch lên mỉm cười: “Chục năm nay què chân nên chỉ xoay xở trên cái giường này. Toàn nằm nghiêng. Chúng nó bảo thơ nó vận vào đó. Suốt đời “Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ” như sông Đuống ấy. Ông nói vậy rồi lại mỉm cười, trở mình, nằm nghiêng nghiêng trong chiếc chăn len mỏng. Nơi khoé mắt sâu của ông những giọt nước long lanh trào ra.

Vẫn biết “sinh, lão, bệnh, tử” là lẽ thường tình của kiếp người, nhưng nhìn chàng thi sĩ hồn nhiên cũng lắm mà giang hồ lịch duyệt cũng nhiều của một thời ngang dọc ấy, nay bất lực nửa tỉnh nửa mê trong miên man ngày, miên man đêm của những năm trời nằm trên giường bệnh, tôi thực sự cảm thấy xót xa.

Giời bắt tội yêu sớm quá!

Nói đến Hoàng Cầm là nói đến tình si. Ông bảo ông sớm có cái buồn cô đơn khi mới lên 5, lên 7. “Giời bắt tội tôi yêu sớm quá”- có lần ông bảo thế. Rồi ông kể về mối tình đầu của ông. “Ngày ấy tôi mới 8 tuổi, một hôm tôi từ chỗ trọ học trên thị xã Phủ Lạng Thương về nhà chiều thứ 7.

Chưa kịp bước vào trong nhà đã thấy một cô gái đang cúi bên chiếc bồ hàng xén của mẹ tôi. Khi cô ấy ngẩng đầu nhìn ra đường, thì cậu bé là tôi choáng váng tâm hồn. Người con gái ấy tên là Vinh, hơn tôi 8 tuổi.

Thứ 7 sau, về nhà, tôi trao bức thư tỏ tình đầu tiên viết bằng thơ lục bát dài hơn một trang giấy kẻ học sinh, trên vẽ hoa bướm, một vài ngọn núi, dòng sông, với dòng chữ viết bằng mực tím nắn nót: "Em gửi chị Vinh của em”. Và chị Vinh chính là người chị trong bài thơ sau này tôi viết: “Lá diêu bông”.

Bố mất sớm, nhà rất nghèo, chị ở cùng mẹ và một đứa em lên 5 tuổi. Họ cất một gian nhà ở phố để bán hàng kiếm ăn. Kể từ giây phút định mệnh tôi nhìn thấy chị, tôi mê man chị chẳng còn biết trời đất, ất giáp, quên cả đến học hành, sách vở, suốt ngày chỉ ngong ngóng sang bên kia đường, xe xế nhà tôi khoảng 20 mét, nơi thiên thần của tôi ngồi bán quán nghèo, phố nhỏ đìu hiu, tỉnh nhỏ...
Tôi phải lòng chị, cứ thế giăng mắc tơ tình quanh chị suốt 4 năm trời, đến năm tôi 12 tuổi thì chị đi lấy chồng. Tôi mất tăm chị, đầu non cuối bể tôi đi tìm, không thấy. Biền biệt tăm cá bóng chim...
Tôi còn nhớ như in một buổi chiều mùa đông... Chị đi về phía cánh đồng chiều còn trơ cuống rạ. Những dãy núi xanh xanh mờ xa in hình như dao khắc trên nền trời cuối hoàng hôn. Bí mật, tôi lặng lẽ lần theo chị. Tôi thấy chị thẫn thờ tìm đồng chiều, cuống rạ. Rồi chị lẩm bẩm một mình, dầu chị biết chắc tôi lẵng nhẵng theo sau lưng: "Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông/ Từ nay ta gọi là chồng...". Tôi mãi mang theo hình ảnh đó và 25 năm sau, bài thơ "Lá Diêu Bông" mới ra đời”.

Bài thơ như một tiền định. Và cả cuộc đời ông là một cuộc kiếm tìm, kiếm tìm trong vô vọng một người đàn bà (như là chị Vinh) cho riêng mình. Ông đau đáu: “Tôi đã mòn tay đi tìm người đàn bà cho riêng mình, nhưng tôi chỉ có thể ôm mối tơ vương mà chiêm ngưỡng vẻ đẹp thánh thiện của nàng thơ mà không sao với tới nàng được. Tôi vẫn ví tình yêu tựa như vì sao cô đơn trên bầu trời. Tôi chỉ có thể ôm mối mộng mơ được chạm tay vào vì sao kia, cho dù tôi sẽ bị thứ ánh sáng huyền diệu nhưng khốc liệt của tình yêu thiêu đốt. Có lẽ vậy mà thơ tôi luôn phủ một lớp sương buồn”.

Nếu so sánh Hán Quang Võ đa tình, đa cảm... mẫn mê với thuở Lệ Quyên "thơm như hoa lan", giữa Ôn Như Hầu (tác giả Cung Oán Ngâm khúc) và Tự Đức (tác giả Ngự Chế Việt Sử tổng vịnh tập, luận ngữ Diễn ca) cách nhau một thế kỷ còn mập mờ tranh nhau hình ảnh Thị Bằng - "Đập cổ kính ra tìm bóng cũ/ Xếp tàn y lại để dành hơi" - thì "Lá Diêu Bông" có lẽ tha thiết, nặng tình, bi thương hơn bội phần. Nếu so với tuổi yêu đương, có lẽ Hoàng Cầm đứng đầu danh sách nghệ sĩ.

Những người đàn bà có thật trong đời Hoàng Cầm

“Trong số những người đàn bà đi vào cuộc đời tôi, có năm cuộc tình mãi khắc ấn sâu nặng nhất trong tâm hồn tôi, trong đó có một người đàn bà đã giũ áo bụi trần đi tu. Hình bóng người đàn bà ấy vẫn hằn dấu trong những trang thơ của tôi ngày hôm nay "Cõi mê xưa đã trôi veo/ Nhớ chăng chẳng nhớ hồn theo bụi nào/ Có thời gái nhoẻn hồng đào... Đừng thương em nữa vui càng sinh đau/ Chuông thiền xa đổ nhịp mau/ Bóng anh thấp thoáng chìm sau mai vàng" (“Thư cuối năm của người yêu xưa”) - thi sĩ Hoàng Cầm có lần kể như vậy.

5 bóng hồng trong cuộc đời thật của thi sĩ Hoàng Cầm có thể là: chị Vinh - mối tình đầu đẹp nhất của cậu bé mười hai tuổi và giờ đây chỉ có thể nói về chị bằng một câu ngắn ngủi thật buồn: “hồng nhan bạc mệnh”. Một người chị khác, với mối tình “Cây tam cúc”, từng sống ở Thủ Đức đã từng “gọi đôi cây trầu cay má đỏ, / Kết xe hồng đưa Chị đến quê Em”.

Người vợ thứ hai của ông, bà Tuyết Khanh, người vào vai Kiều Loan, đã sinh hạ cho ông một nàng tố nữ đặt tên nhân vật vở kịch để kỷ niệm, cũng là mối tình lớn mà những thi sĩ đương thời thường hay trầm trồ thán phục, nhất là thuở trẻ bà còn là “mối tình si” của nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Do số phận trắc trở, bà sang định cư ở Mỹ. Còn bà Lê Hoàng Yến, người phụ nữ sau cùng và cũng là người đã sống với ông lâu nhất. Nhưng bà mất cũng đã mất mấy chục năm rồi.

Và Sông Đuống nghiêng nghiêng thật!

Bài thơ được nhiều người biết đến nhất là “Lá Diêu Bông”, nhưng “Bên kia sông Đuống” lại là kiệt tác của Hoàng Cầm.

“Trong một đêm mất ngủ khi nghe quê hương bị giặc Pháp tàn phá, giết chóc, đột nhiên trong thế giới thinh không vẳng bên tai tôi ba câu thơ: "Em ơi buồn làm chi/ Anh đưa em về sông Đuống/ Ngày xưa cát trắng phẳng lỳ”.

Tôi bèn ghi ngay lại và viết rất nhanh, sợ không theo kịp những thanh âm đang cuồn cuộn dâng lên trong tâm thức. Sớm tinh mơ, tôi đun ấm nước chè xanh gọi Nguyên Hồng lúc ấy đang tập thể dục ngoài sân vào nghe bài thơ. Nguyên Hồng không làm thơ nhưng rất thích nghe thơ. Tôi mới đọc được năm câu, Nguyên Hồng đã khóc nức khóc nở, khóc dấm dứt. Nguyên Hồng mếu máo bảo tôi viết ra làm ba bản để anh đi in. Bẵng đi hai tháng sau, bài thơ được đăng trên tờ “Cứu Quốc” - Hoàng Cầm kể lại như vậy.

Với “Bên kia sông Đuống” Hoàng Cầm thực sự là nhà thơ có thần cảm. Không ai ngoài ông nhìn được “Sông Đuống nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ”.

Câu thơ ám ảnh nhiều thế hệ người Việt Nam ta, đến nỗi sau này, nghe nói cái ông Giáo sư Phan Ngọc “điên khùng” kia đã làm một cuộc đạp xe mấy chục cây số bên hữu ngạn sông Đuống và thừa nhận với thi sĩ Hoàng Cầm là sông Đuống nằm nghiêng thật. Đó cũng chính là cảm giác của nhiều Việt kiều khi về nước, nhìn xuống sông Đuống từ trên máy bay.

Và nếu như về địa lý, sông Đuống có không nằm nghiêng đi chăng nữa, và có thể là không có thật với bất kỳ ai, nhưng với Hoàng Cầm, người mà mỗi bài thơ đều như được phát tích từ một huyền tưởng cổ tích, thì tôi tin lắm lắm là ông đã từng thấy sông Đuống nằm nghiêng thật, trong tâm khảm của ông. “Bên kia sông Đuống”, “Đêm liên hoan”, kịch thơ “Kiều Loan” chính là những thành công vang dội nhất của Hoàng Cầm thời chống Pháp.

9h30 ngày 6/05/2010 thi sĩ Hoàng Cầm đã yên nghỉ sau một cuộc hành trình- tìm kiếm có cả hạnh phúc lẫn khổ đau.

Không! Tôi không tin Hoàng Cầm đã yên nghỉ. Ở đâu đó, cũng có thể là bên kia sông Đuống, ông đang bắt đầu một cuộc tìm kiếm mới và tôi tin lắm lắm cuộc kiếm tìm này chỉ có hạnh phúc chứ không có khổ đau.

Vâng, Hoàng Cầm đó, “… cầm chiếc lá/ đi đầu non cuối bể/ Gió quê vi vút gọi/ Diêu Bông hỡi!../ - Ơi Diêu Bông!”.

__________________________________________

Thứ Năm, 6 tháng 5, 2010

Thi sĩ "Lá diêu bông" về trời

- 9h sáng ngày 6/5/2010, thi sĩ Hoàng Cầm đã qua đời tại bệnh viện Việt Xô, hưởng thọ 88 tuổi - Nhà văn Nguyễn Quang Lập thông tin với phóng viên Bee.

Thi sĩ Hoàng Cầm có tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh ngày 22/2/1922, tại xã Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; quê gốc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Ông xuất thân trong gia đình nhà nho lâu đời. Thân sinh ông thi không đỗ, về dạy chữ Hán và làm thuốc bắc ở Bắc Giang. Tên ông được đặt ghép từ địa danh quê hương: Phúc Tằng và Việt Yên.

Ông nổi tiếng với vở kịch thơ Hận Nam Quan, Kiều Loan và các bài thơ Lá diêu bông, Bên kia sông Đuống. Bài thơ Bên kia sông Đuống được chọn vào giảng dạy trong giáo trình trung học phổ thông.

Đầu năm 2007, ông được nhà nước Việt Nam tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật do Chủ tịch nước ký quyết định tặng riêng.

Bee xin đăng lại bài thơ "Lá diêu bông" của thi sĩ Hoàng Cầm như một nén tâm nhang tưởng nhớ tới ông hoàng thơ tình của xứ Kinh bắc:

Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thơ đi tìm
Đồng chiều
Cuống rạ

Chị bảo
Đứa nào tìm được Lá Diêu bông
Từ nay ta gọi là chồng

Hai ngày Em tìm thấy Lá
Chị chau mày
Đâu phải Lá Diêu bông

Mùa đông sau Em tìm thấy Lá
Chị lắc đầu
trông nắng vãn bên sông

Ngày cưới Chị
Em tìm thấy Lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim

Chị ba con
Em tìm thấy Lá
Xòe tay phủ mặt Chị không nhìn

Từ thuở ấy
Em cầm chiếc Lá
đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu bông hời...
...ới Diêu bông...!



PV
_________________________________________

"Người đàn bà đẹp" đẩy chiếc xe thơ Hoàng Cầm

Hà Thế Lực

- “Ngày hai bữa cơm nghèo, mấy tấm áo quần đã sờn rách, một lũ con nhỏ dại lau nhau đi học, chơi đùa, đau ốm, tất cả tôi trao gánh nặng cuộc đời ấy cho người vợ”.
Đó là những dòng Hoàng Cầm viết về người vợ cuối cùng của ông, bà Lê Hoàng Yến, khi nhớ lại những ngày gian nan thử thách thi nhân.


LTS: Vậy là thi sĩ Hoàng Cầm đã ra đi lúc 9h sáng 6/5/2010 tại Bệnh viện Việt Xô, Hà Nội. 88 năm sống yêu thương và được yêu thương, giờ Hoàng Cầm sắp được sum họp với bà Hoàng Yến, người vợ tần tảo đã cùng nhà thơ bước trong những ngày sóng gió. Bee xin đăng lại bài viết như một nén hương, cầu cho linh hồn ông an lạc chốn Thiên Thai.

“Em đâu? Ai xé hồn muôn mảnh”

Năm 1985, sau cuộc hành trình suốt 30 năm đằng đẵng trên cõi tạm với nhà thơ, bà Hoàng Yến tạm biệt ông để đi vào cõi vĩnh hằng. Khi ấy, bà mới ngoài sáu mươi tuổi, nhà thơ vẫn chưa được “phục hồi” và vẫn sống trong cảnh “vô cùng nghèo đói, phải chạy ăn từng bữa một, từng dúm gạo một” cho cái gia đình có đến hơn chục miệng ăn, như chính Hoàng Cầm kể lại.

Như chàng Ăng tê phải rời mặt đất, khi bà ra đi, Hoàng Cầm rơi vào những tháng ngày hoảng loạn và trầm cảm, như một thứ bệnh tâm thần. Nhà thơ kể lại: “Nghe một tiếng còi ôtô rít lên ở ngoài, đang ở trong nhà, thì tự nhiên tôi co rúm lại, chui xuống gầm giường. Thậm chí, nghe tiếng giày lộp cộp cũng thấy sợ”. Mãi đến năm 87, nhờ nhiều người bạn, ông mới dần dần hồi phục lại được sức khoẻ.

Bài thơ "Xa" ông viết khi bà mất rất cảm động:

Chim gì lảnh lót dãy tường rêu
Bấy nhiêu lá úa rơi ngơ ngác…
Em đâu? Ai xé hồn muôn mảnh
Tiếng mối tường bên xé tiếng mưa...
Đêm đêm hương khói, ngày không nói
Trang giấy vùng âm đắp ẩm êm


Tín đồ thơ và nàng thơ của Hoàng Cầm

Đầu ấp tay gối cùng nhà thơ suốt 30 năm, bà Lê Hoàng Yến đương nhiên là một tín đồ của thơ tình Hoàng Cầm. Bao nhiêu bản thảo của thơ ông, bà giữ hết. Các con bà vẫn nhớ những đêm mưa gió, nhà cửa hồi ấy lụp xụp, dột nát, bà lại lọ mọ chạy những bản thảo thơ ấy vào chỗ khô ráo.

Là tín đồ, đồng thời cũng là nàng thơ của Hoàng Cầm suốt mấy mươi năm, như nhà thơ tự nhận, ông viết về bà là nhiều nhất trong ba bà vợ. Đến lượt mình, bà lại ru hai đứa con trai bà sinh cho ông bằng những vần thơ bất hủ: “Bên kia sông Đuống”, “Lá diêu bông”, “Mưa Thuận Thành”…

Từng là một diễn viên, mê thơ Hoàng Cầm từ ngày còn trẻ, nhưng khi về ở với nhà thơ, bà Yến đã là một góa phụ. Thật ra, bà Yến và người vợ hai, của nhà thơ, bà Tuyết Khanh, cũng từng có những ghen tỵ từ trước đó: Yến và bà Tuyết Khanh đã cạnh tranh nhau để đóng vai nàng Kiều Loan trong vở kịch thơ cùng tên nổi tiếng của Hoàng Cầm.

Được chọn cho vai diễn ấy, nhưng rồi, chính bà Khanh lại bỏ nhà thơ để ra đi, và suốt mấy mươi năm sau đó, bà Yến đã cùng nhà thơ đi giữa sân khấu cuộc đời cho đến ngày từ giã cuộc sống. Đời làm vợ của bà có thể gói gọn lại trong một câu thơ của chính Hoàng Cầm: “Tôi có người vợ nghèo, đời vất vả gieo neo…”

“Nhiều người nói tôi lấy bà Yến chỉ vì bà đẹp quá”

Bà Hoàng Yến là người cuối cùng đến với Hoàng Cầm trong số ba người vợ chính thức. Thân sinh bà Yến vốn là một lang thuốc ở đất Hải Dương. Có lẽ, tính cách hiền thục và nhân hậu của bà Yến sau này, như mọi người quen biết kể lại, có ảnh hưởng nhiều từ cha mình.

Bà, trước khi lấy Hoàng Cầm, đã là một thiếu phụ lúc mới 31 tuổi. Năm 1940, lúc vừa mười tám, bà kết tóc se tơ cùng một thầy giáo hay làm từ thiện, ông Đào Thiện Phỏng. Ông Phỏng nhà khá giả, có hẳn một khu nhà ở đối diện Nhà Đấu xảo (Cũng văn hóa Việt Xô bây giờ), trong nhà có người giúp việc, nên người vợ 18 tuổi thậm chí còn “không bao giờ phải vào bếp” như một người con kể lại và hay theo chồng đi làm từ thiện.

Nhà có nhiều học sinh của ông Phỏng trọ học, nên về sau cho thuê hẳn và chuyển sang phố Lý Quốc Sư, cho đến khi ông Phỏng mất đột ngột vì nhồi máu cơ tim.

Lấy Hoàng Yến năm 1956, Hoàng Cầm, khi ấy là Trưởng đoàn Văn công Tổng cục Chính trị, vừa trở về từ chiến khu Việt Bắc sau kháng Pháp, với hành trang hôn nhân nặng gánh là hai đời vợ. Bà thứ nhất, Hoàng Thị Hoàn, được gia đình cưới cho nhà thơ, trước khi qua đời vì quá nhớ thương người chồng biền biệt những ngày chống Pháp, đã kịp sinh cho cho ông hai người con.

Còn bà thứ hai, Tuyết Khanh, lọt vào mắt xanh của nhà thơ khi bà vào vai Kiều Loan trong vở kịch thơ cùng tên của ông một cách xuất sắc đến mức Nguyễn Huy Tưởng và Vũ Hoàng Chương phải khen “nắc nỏm”. Sinh cho nhà thơ cô con gái Kiều Loan, bà bị ốm nặng, phải “rời chiến khu về thành” chữa bệnh, rồi cuộc đời xô đẩy, bà đi lấy chồng khác. Năm 1954, bà ôm con, theo chồng vào Nam, rồi tới năm 1975, sang Mỹ.

Bà Yến là Y tá của Bệnh viện Yersin (nay là Bệnh viện Việt Đức) trong thời kỳ kháng Pháp, lại xinh đẹp tới mức vẫn được mệnh danh là hoa khôi của bệnh viện dù đã 5 con với chồng cũ, cho nên, khi Hoàng Cầm xách balô về ở với bà, rất nhiều người nói là nhà thơ "bị lừa".

Còn theo như ông cựu Trưởng đoàn Văn công kể lại, thì ngay từ lúc đó, rất nhiều người là cấp trên đã không ưa cuộc hôn nhân này, vì bà Yến được xếp vào loại công chức cũ và họ nghĩ, nhà thơ lấy bà chỉ vì mê sắc đẹp. Và điều này, theo nhà thơ, chưa chắc đã không liên quan gì đến vụ Nhân văn – Giai phẩm sau này…

(Còn tiếp)
_____________________________________________