Hiển thị các bài đăng có nhãn Tác giả Lá diêu bông. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tác giả Lá diêu bông. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 3 tháng 2, 2011

Hoàng Cầm - những Tết cuối cùng

Nguyễn Thuỵ Kha

- Tết 2008, nhà thơ Hoàng Cầm đã yếu nhiều. Mặc dù nhà nhiếp ảnh Nguyễn Đình Toán rất kiên nhẫn nhắc và đợi, nhưng những bài viết và thơ Tết của Hoàng Cầm đã thưa vắng hẳn trên các báo. Chúng tôi không ai bảo ai, đều tự cảm thấy “Ông Hoàng thơ tình” đã đến thời kỳ chuẩn bị chuyển cõi.

Thường cứ đến đêm 12 tháng Giêng trước hội Lim, anh em thân với Hoàng Cầm đều tới tụ tập trên căn gác cao nhất của nhà 43 Lý Quốc Sư (Hà Nội) để mừng sinh nhật ông. Năm ấy, Hoàng Cầm đã 87 tuổi ta. Anh em lại quây quần. Bỗng xuất hiện một ca sĩ trẻ măng. Tuy là người Yên Bái nhưng cô gái lại được người ông nội của mình dạy hát quan họ từ nhỏ. Bởi vậy, khi nghe thấy Hoàng Cầm là người xứ quan họ, cô đã hát nhiều làn điệu quan họ để mừng sinh nhật nhà thơ. Nghe cái giọng trong trẻo cất lên: “Còn duyên kẻ đón người đưa / Hết duyên đi sớm về trưa mặc lòng” sao cứ thấy nghèn nghẹn trong ngực. Cô gái đang còn quá duyên, còn chúng tôi và cả Hoàng Cầm hình như đã sắp hết duyên. Hết duyên thì hết duyên, cứ hát, cứ cụng chén cho say nồng ngày xuân. Tôi vừa nghe vừa ngẫu hứng ngay mấy câu thơ tặng ông:

Đêm quan họ trước hội Lim / Mình liền chị trẻ là em bất ngờ / Liền anh già ngắc già ngơ / Đêm sinh nhật lạ như thơ Hoàng Cầm / Vang, rền, nền, nảy duyên thầm / Cứ nỉ non những bổng trầm ối a.
Tết 2009, Hoàng Cầm càng yếu hơn. Nhà thơ Vân Đình Hùng có sáng kiến mời nhóm ca trù Hải Phòng lên hát mừng sinh nhật ông. Chị Lưu Nga từ Mỹ về cũng đến dự. Giữa Hoàng Cầm với nữ nghệ sĩ ngâm thơ (mẹ ca sĩ Bằng Kiều) Lưu Nga thì khỏi nói. Chị đã ngâm những bài thơ Hoàng Cầm hay đến xé lòng, đến thành tuyệt phẩm. Nhìn Hoàng Cầm ngồi nghe ca trù say sưa, chợt nghĩ đến những Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân… Lại tưởng tượng ra những buổi ca trù với Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Tuân, Văn Cao… Bao vui buồn của văn nghệ Việt Nam đôi khi cũng chỉ còn đọng lại long lanh, mong manh trên tiếng đàn đáy mơ hồ và day dứt. Hoàng Cầm khẽ đưa tay gạt ngang mắt. Ông vốn là người hay xúc động. Nhưng càng già, niềm xúc động càng mau hơn thì phải. “Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách ...” sao có gì cứ nứt dần, cứ vỡ dần ngăn cách giữa tuổi tác và hy vọng. Lưu Nga lại như lên đồng. “Quả vườn ổi” vút lên thắt ngang đêm một nỗi niềm quặn lòng: “Chị xoạc cành ngang em gốc cây”. Chị bây giờ đã ở phương nao? Mắt Hoàng Cầm lại long lanh. Hình như những Tết cũ khốn khó đang vởn lên trong trí nhớ già nua của ông. Có Tết, đến gần Giao thừa, nhà Hoàng Cầm vẫn chưa có cành đào vì không có tiền mua. Chừng tuyệt vọng thì tự nhiên ông nhận được một món quà do một cố nhân gửi tặng. Ở đáy của niềm tuyệt vọng, con người thi sĩ Hoàng Cầm vụt đứng lên. Ông vội ra chợ hoa Hàng Lược mang về một cành đào to tướng cho... bõ thèm.
Tết 2010, Hoàng Cầm yếu hẳn. Ông đã nửa nhớ, nửa quên, nửa âm, nửa dương. Vào giữa 2009, Hoàng Cầm được tin bà Tuyết Khanh - người vợ thứ hai, mẹ của con gái Kiều Loan của ông - đã từ trần. Một thương buồn dâng lên khôn nguôi. Dù gần đây, vở “Kiều Loan” đã được Nhà hát Tuổi Trẻ dàn dựng lại qua đạo diễn Anh Tú và người vào vai Kiều Loan rất đạt là Quách Thu Phương, nhưng quan hệ giữa ông và bà Tuyết Khanh vẫn không được cải thiện. Từ ngày ông không theo bà về Hà Nội để cùng nuôi nấng Kiều Loan, mà vẫn rong ruổi dọc đường trường kỳ kháng chiến, bà đã giận ông. Đến ngày thống nhất, bà ở Sài Gòn ít năm nhưng vẫn không chịu cho ông xin lỗi làm lành. Vết thương chẳng bao giờ kín miệng. Cứ thế nhói nhức trong lòng cả hai người.
Những ngày gần Tết, có bữa ông chợt tỉnh. Ông thèm nói chuyện với một ai đó thật vu vơ, thật lỏng lơi. Tôi đã gọi máy cho một người hâm mộ thơ ông ở Đaklak, Hoàng Cầm cứ thế vui vẻ, đọc thơ, trò chuyện những điều không nghĩ trước tới chừng hai giờ đồng hồ. Tôi ngồi bên vừa nghe ông nói chuyện qua máy di động vừa thương cảm tận đáy lòng. Rồi sắp đến lúc ông sẽ phải rời xa tất cả những người thân yêu nhập vào cõi vô vi của thế giới bên kia.
Lại đến đêm 12 tháng Giêng trước Hội Lim. Có vẻ như Hoàng Cầm chợt cháy lên những ngày cuối. Ông tươi cười mệt mỏi giữa anh em. Lúc thì khoác vai nhà thơ, dịch giả Dương Tường. Lúc thì nắm tay nhà phê bình Ngô Thảo. Lúc thì đùa cợt với nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo: “Anh nào là anh Tạo ấy nhỉ? Anh ở đâu rồi. Sao tôi không thấy anh”, mặc dù Nguyễn Trọng Tạo ngồi ngay bên, nghe ông đùa mà thấy lòng đắng lại. Không khí quây quần có vẻ trầm lắng hơn mọi năm. Bà Lưu Nga cũng không về được. Tôi bấm máy cho ông gặp nhạc sĩ Phạm Duy. Ông không nói được. Một cơn mệt dâng lên đột ngột.
Vài tháng sau, đầu mùa hè. Một tối, tôi nghe điện thoại nhà reo lên. Cậu con trai ông thông báo ông mệt nặng. Tôi vội vã chạy từ Hàng Bông sang nhà ông ở 43 Lý Quốc Sư. Gia đình và bạn bè đưa ông vào bệnh viện Hữu Nghị. Gần một tuần sau, Hoàng Cầm ra đi giữa bao niềm thương tiếc. Trước ông vài tháng, nhà thơ Hữu Loan cũng mất ở Nga Sơn, Thanh Hoá.
Thời gian trôi thật nhanh. Mùa xuân 2011 đã về bên ngưỡng cửa. Theo hẹn ước, đêm 12 tháng Giêng, chúng tôi cùng gia đình vẫn quây quần đón sinh nhật lần thứ 90 như ông vẫn đang còn trên dương thế. Chỉ là “như” thôi, nhưng sự thật là tất cả chúng ta sẽ có một Tết đầu tiên vắng Hoàng Cầm. Đúng là Tết đầu tiên vắng Hữu Loan và Hoàng Cầm. Có lẽ chỉ gặp nhau qua làn hương khói thơm phức nhớ thương. Nhớ vô cùng ngày nào rong ruổi Kinh Bắc làm phim chân dung về ông vào dịp Hội Lim 1993. Cuộc rong ruổi để tôi vẽ ra ông:
Xe ngựa hoàng hôn lọc cọc bình minh / Men thương, lơ thơ Cầu, nghiêng Đuống / Ba con sông bồi đắp Luy Lâu / Những mối tình suốt đời luống cuống / Chỗ nào cũng gặp em ruộng sâu / Khom lưng cấy gặt / Chỗ nào cũng Kinh Bắc ngọt ngào / Nuôi dưỡng thơ và bắt ta phải chết / Và từ từ hồi sinh ...

_________________________________________________

Thứ Bảy, 8 tháng 5, 2010

Thi sĩ Hoàng Cầm - Nghĩ lúc nằm im

Nguyễn Thị Ngọc Hải

trò chuyện với
Nguyễn Thị Ngọc Hải

Hoàng Cầm – người thơ mang vị thuốc đắng ấy bây giờ lúc ngồi lúc nằm. Nếu không, phải chống tay thế này. Ngã gãy mất xương đùi trái. Đã 86 tuổi, bây giờ chàng thi sĩ đa tình và tài hoa xứ Kinh Bắc nằm yên một chỗ. Nhưng hễ có bạn bè lên thì vẫn nụ cười “ như mùa thu toả nắng”.

Bây giờ chắc ông khó mà đưa em nào buồn về bên kia sông Đuống như ngày xưa nữa rồi?

(Cười) Gãy chân đã 5 năm. Bác sĩ bảo mổ. Không. Thôi, què thế cũng được rồi. 24/24 giờ xoay xỏa mãi một kiểu nằm ở cái giường. Đám Thuỵ Kha, Trọng Tạo bảo thơ nó vận vào đó. Suốt đời “nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ” như sông Đuống. Vậy mà tôi vừa về quê năm ngoái đấy.

Đi đứng thế nào ạ?

Ngồi xe lăn. Ô tô thuê. Về làng Lạc Thổ - Đông Hồ, còn một ông anh con bác ruột. Vài người bạn cũng thành cụ cả rồi. Yếu. Gặp nhau mừng lắm. Tôi về cùng các con dự giỗ tổ họ Bùi.

Bên kia sông Đuống vẫn xanh bãi mía bờ dâu, những cô hàng xén, những nàng dệt sợi đi bán lụa màu, những em sột soạt quần nâu.. giờ thay đổi nhiều lắm phải không ạ? Có còn “dấu vết” gì không?

Làng ấy nửa buôn bán nửa nông nghiệp, xưa nay vẫn thế. Đi chợ này chợ khác, không hẳn thuần tuý là cái làng Việt Nam. Tranh Đông Hồ thì xóm bên cạnh Tết vẫn làm. Vẫn con lợn con gà, đám cưới chuột.

Vậy làng còn đẹp như trong thơ không?

Nó đẹp hay không tự mình. Lúc nào tôi cũng thấy nó đẹp. Nhưng bến đò không còn cảm giác quê hương. Hai bên bờ đã khác. Văn minh hơn. Bến đò nay xây cầu sắt hẳn hoi, tiện cho dân. Mất thơ mộng, chả có cảm xúc gì. Chỉ thấy văn minh.

Thưa, thấy văn minh là cảm xúc…

Trước bến đò không nhà tầng bên sông, chỉ đi bộ xuống. Bây giờ thông thống cả. Mất đi không khí quê cũ. Chỉ cần một ngôi nhà ngói chen vào là hỏng rồi. Mất cái gì không biết, chỉ thấy mất. Đã gọi là bến mà, phải chờ phải đậu. Xưa có quán tạm để người chờ vào đó uống nước. Bây giờ có cầu, tất nhiên bến đò mất đi không phải chờ, vào đó uống nước làm quái gì. Văn minh phá không khí. Trẻ không có kỷ niệm. Càng già kỷ niệm càng gay gắt.

Trẻ lại có kỷ niệm khác chứ thưa ông. Nói họ không có kỷ niệm e là họ không đồng ý?

Kỷ niệm là cái đã qua, bao giờ cũng trôi về thuở ấu thơ ấy chứ. Bọn trẻ có kỷ niệm giống nhau hết cả. Thí dụ một anh 20 thì kỷ niệm của anh ta hồi 7-8 tuổi làm gì có nữa. Lúc đó bắt đầu đổi mới rồi. Không có thời gian, lấy đâu ra kỷ niệm. Mà họ giống nhau: Cùng được bố mẹ nuôi, sống ở thành phố,

Nhưng bây giờ tâm tưởng họ khác, phong phú nhiều bề, bận rộn, căng thẳng lắm chứ đâu có thong dong suy ngẫm kỷ niệm?

Cứ lấy thí dụ con cái thân thiết của gia đình mỗi nhà mà xem. Tâm tưởng thì chúng nó nghèo lắm đấy. Con tôi chẳng hạn, ngoan giỏi, yêu kính bố. Nhưng tập thơ tôi in ra. Sáng dậy nó còn ngủ. Tôi để cuốn thơ đầu giường, ngay mang tai nó, dậy nhất định thấy liền. Nó: Ờ, hay quá. Bố mới xuất bản ạ. Rồi giở lướt ra: In đẹp đấy nhỉ. Rồi để lại chỗ cũ, không cầm đi theo. Không có gì nó quý.

Vậy nó “quý” gì?

Bố có khách, nó quý người khách lắm. Họ nói chuyện thơ là nó thích, dù nó bận không nghe. Nó quý bạn thơ của bố mà chưa biết quý thơ. Đứa nào cũng phải tính làm ăn. Có tiền nuôi vợ con khá lên. Thời đại nó thế mất rồi. Giỗ vợ tôi mà đông khách khứa, bạn bè thăm bố, nó phấn khởi. Nhưng nghĩ ít. Hay là nó nghĩ gì không biết.

Con cháu có thuộc thơ ông không – cả nước phải học, vừa rồi cũng lại “Bên kia sông Đuống” là đề thi Văn mà?

Con cháu tôi đều đức độ, không phải loại vô học nhưng nó không quan tâm lắm dù cũng đã học qua rồi, bài của bố nó là tác giả. Nhưng đứa cháu lại thuộc, con chị học bên Hà Lan thì sưu tầm cẩn thận lắm.

Bài “Bên kia sông Đuống” dài lắm, đọc lên khi nào cũng nao lòng. Ông còn thuộc khômg?
Đây này, tôi sẽ đọc …(Ông đọc liền tới hơn 100 câu thì ngừng), như thế là mệt rồi. Giọng bây giờ nó cũng hỏng rồi. Hay gì. Trước sang sảng, nay có lúc khản hẳn.

Mặc dù có nhiều tác phẩm, ông có thể kể lại những cảm xúc nao lòng em oi buồn làm chi, anh đưa em về sông Đuống… làm rung động nhiều thế hệ?

Chuyện này nghiên cứu văn học có phân tích nhiều nhưng tôi vẫn sẽ nói thêm cái cảm giác của một đêm khuya năm 1948 ở khu 12 Phú Bình Thái Nguyên. Mấy anh cán bộ Nam sông Đuống lên báo cáo tình hình Pháp chiến. Tư lệnh Lê Quảng Ba mời tôi sang nghe.
Lúc đó tôi thành lập một đội văn công nhỏ. Tôi nghe họ báo cáo ở Thuận Thành, Lang Tài, La Lương, nó bắt bao người, bắt bao nhà. Đêm về nghe rõ ràng giọng chính mình vang lên mấy câu đầu “Em ơi buồn làm chi…” nó trào ra rất nhanh. Không phải nghĩ nữa. Âm điệu chữ nghĩa cứ tuôn ra. Thương quê mình quá.

Nghe nói hồi đó ông cứ phải ngồi đọc cho các cán bộ ở Côn Đảo, Phú Quốc, Campuchia về hội nghị ở Việt Bắc chép bài thơ đó. Sau nó được in ở báo Cứu Quốc. Ông còn giữ tờ báo đó không?

Chiến tranh loạn lạc, làm gì còn.

Theo ông, cái gì làm cho khung cảnh một làng quê ông sống mãi trong mọi tâm hồn?

Gắn lòng với dân tộc, thương quê. Cái gì nói lên được quê hương và những người quê hương sẽ trường tồn. Đó là một quy luật.

Nhưng có thời hình như nó bị cấm?

Lúc đó tôi nghĩ: cứ cấm đi, chỉ 10 năm nó sẽ sống lại… Ai không gì dìm cho nó “chết” được.

Ông sống rất lâu ở Hà Nội, nhưng lại không làm thơ về Hà Nội?

Tôi ở từ năm 1941-1942 khi diễn vở “Kiều Loan”. Lúc đó mới biết Hà Nội nó ở chỗ nào. Không biết thích gì ở Hà Nội. Vì nó ít kỷ niệm, hoặc kỷ niệm không đáng nhớ lắm. Cũng đi học, đi thi…

Bây giờ những tứ thơ còn đến với thi sĩ nữa không?

Thơ đầy bụng nhưng không viết được. Chỉ 3 phút là tư tưởng loãng, rối dần. Biết thôi hết rồi.

Thì ghi âm, hoặc gọi con cháu ghi giùm, không thì phí quá.
Phải nhớ, là rắc rối rồi.

Vậy phải nằm suốt ngày, nhà thơ nghĩ gì?

Không có một việc gì để làm cả. Nghĩ về dĩ vãng, công việc, vợ con, bạn bè. Chỉ thoáng thôi. Nhớ giờ không sâu nữa.

Kể cả nhiều mối tình đã từng say đắm, thi sĩ đa tình cũng quên hết sao?

13 người gia nhân – kể những người có “thành tích” tên tuổi. Linh tinh không dễ. Hầu như họ ở Sài Gòn hoặc tản mạn đi đâu hết.

Ông nằm trên tầng lầu cao nhất của ngôi nhà gần sát nhà thờ lớn. Hàng ngày nghe tiếng chuông có gợi nhiều buồn vui, dĩ vãng?

Chuông nhà thờ ở thàmh phố không thể nào sánh với chuông chùa vùng quê. Xâm xẩm chiều buông, tiếng chuông chùa quê Việt Nam nó ghê lắm. Từng tiếng một, tắt hẳn dư âm mới tiếp tiếng khác, chìm dần, đưa vào cõi không. Vời vợi rồi chìm hết. Nghe tiếng chuông chùa ở nhà quê mới hay. Chùa Quán Sứ cũng có, nhưng nó ở thành phố, không thực không khí Việt Nam. Muốn hưởng cái hay phải ở nhà quê yên tĩnh. Mà phải nghèo.

Sao vậy ạ?

Nghèo – cảm thấy hư vô không còn gì cả. Tiếng chuông chùa lên là thôi, tan dần, mới thật là Phật. Chuông nhà thờ buồn chiều một tí, nhưng chuông chùa ở nhà quê đưa người ta hiểu đúng thế nào là hư vô.

Nằm “trên trời” thế này ông có theo thời sự không ạ?

Đọc báo. Xem TV cả ngày phát chán. Giá lên. Có cảm giác nhân loại này TV Việt Nam nói nhiều nhất thế giới. Thấy nói thừa nhiều quá. Mà các ông đi thăm chỗ này chỗ kia, chả thấy nói ông ấy làm gì, bàn gì không biết.

Cuộc sống sinh hoạt hiện nay của ông thế nào ạ?

Ăn cháo với thịt băm. Củ cải dầm ăn được. Còn thuốc lào thì không kể được. Anh Nguyễn Đình Toán còn nhớ đấy. Năm 1993 vào Huế, ông Hải Bằng về nhà chặt tre làm điếu đem đến không kịp. Chúng tôi ra đến Quảng Trị nhờ trẻ con đi mua điếu không có. Một lần ra sân bay, Toán uống bia xong đục cái vỏ lon bia làm điếu.

Hút vậy hại sức khoẻ lắm.

Câu ấy ai cũng nói. Nhưng nó theo cả đời rồi. Mình phải cầm đóm lấy mới ngon, Để người châm hộ không ngon.

Thật ra sống đủ rồi, không muốn sống đau ốm, thế nên cho trách giời một tí.

_____________________________________________

Thứ Sáu, 7 tháng 5, 2010

Thi sĩ Hoàng Cầm quay về lãng đãng bến sông xa

LÊ THIẾU NHƠN

Nghe tin đồng nghiệp báo thi sĩ Hoàng Cầm vừa trút hơi thở cuối cùng vào lúc 9 giờ sáng ngày 6-5-2010, trong tôi nhen lên chút cảm giác nghèn nghẹn. Không phải sự ngạc nhiên, cũng không phải sự nuối tiếc, mà giống sự đắng đót rối bời. Cách đây 5 năm, tôi ghé thăm đã thấy sức khỏe ông rất yếu. Hình ảnh tác giả của những bài thơ lừng lẫy nằm co ro trong tấm chăn mỏng nơi một căn gác nhỏ, khiến tôi không khỏi xót xa.

Đành rằng, trời cho sống thêm một ngày là phúc đức thêm một ngày, nhưng cuộc chống chọi giữa Hoàng Cầm và không gian cô độc vắng lặng xung quanh có lẽ đã quá sức chịu đựng của ông. Gặp khách tri âm, Hoàng Cầm gắng gượng ngồi dậy đọc thơ, đôi mắt ươn ướt thỉnh thoảng ứa lệ và chất giọng ngọt mềm đứt quãng của ông cứ ám ảnh tôi về buổi hoàng hôn tài hoa sầu muộn.

Hôm tao ngộ ấy, Hoàng Cầm lặp đi lặp lại câu nói “Bây giờ một ngày dài quá!” vẫn làm tôi xao xác mỗi lần nhớ lại. Và từ đó đến nay, cũng chính câu nói gần như nỗi tuyệt vọng kia đã ngăn bàn chân tôi mỗi khi có dịp ra Hà Nội dự định ghé qua số 43 Lý Quốc Sư tìm ông. Thực sự tôi ái ngại nếu thoáng gặp nét mặt nửa mê nửa tỉnh của ông trong chập chờn câu thơ “sao xót xa như rụng bàn tay” mà ông đã viết từ năm 1948!

Năm 26 tuổi, bài thơ “Bên kia sông Đuống” đã đưa chàng trai Bùi Tằng Việt, có bút danh Hoàng Cầm, lên hàng thi sĩ tiêu biểu nhất trong kháng chiến chống Pháp. 62 năm trôi qua, bao thế hệ người Việt đã được nâng niu, được sưởi ấm bằng những lời thơ nồng nàn: “Ai về bên kia sông Đuống/ Cho ta gửi tấm the đen/ Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên… Ai về bên kia sông Đuống/ Có nhớ từng khuôn mặt búp sen/ Những cô hàng xén răng đen/ Cười như mùa thu tỏa nắng… Chưa bán được một đồng/ Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong/ Bước cao thấp trên bờ tre hun hút/ Có con cò trắng bay vùn vụt/ Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu?/Mẹ ta lòng đói dạ sầu/ Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ”. Và công chúng có quyền tin rằng, bài thơ “Bên kia sông Đuống” sẽ tiếp tục thay mặt Hoàng Cầm ở lại với nhân gian.

Không chỉ kiến tạo sông Đuống “một dòng lấp lánh, nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ”, Hoàng Cầm còn sáng tác ra một thứ lá không có trên đời, mà ngày nay đã trở thành biểu tượng tình yêu: Lá Diêu Bông! Nhạc sĩ Trần Tiến mượn chiếc lá độc đáo này để kêu gọi kế hoạch hóa gia đình “lấy chồng sớm làm gì, để lời ru thêm buồn”, còn thần thái “Lá Diêu Bông” của Hoàng Cầm tiệm cận một thứ tình yêu khác, mê hoặc hơn, quyến rũ hơn, huyền ảo hơn: “Từ thuở ấy/ Em cầm chiếc lá/ đi đầu non cuối bể/ Gió quê vi vút gọi/ Diêu bông hời…ới diêu bông…!”.

Hoàng Cầm luôn tin thơ đến từ một xứ sở mầu nhiệm. Ông không ngần ngại thổ lộ rằng, những bài thơ thành công nhất của ông đều nhờ ghi chép lại từng câu, từng chữ như vọng về từ một giọng đọc bí ẩn. Phương pháp làm thơ kỳ diệu của Hoàng Cầm có lẽ tôi và nhiều người không thể cắt nghĩa được rõ ràng. Tuy nhiên, đọc chính thơ ông, chúng ta dễ dàng nhận ra những mối tình đeo đẳng suốt cuộc đời nhà thơ.
Phía sau mỗi bài thơ của Hoàng Cầm đều mờ tỏ bóng hình một người phụ nữ nết na, cam chịu. Mối tình chị - em không chỉ xuất hiện trong “Lá Diêu Bông” mà vẫn “dan díu” trong nhiều bài thơ khác của Hoàng Cầm.

Thật lạ, mối tình chị - em luôn bật ra những câu thơ đẹp ngơ ngác và buồn day dứt thường trực tự tấm lòng si mê của Hoàng Cầm, khi níu kéo khoảnh khắc “Chị em xanh” nức nở: “Vậy thì Em ngắt quãng tân hôn/ Theo Chị lùa mưa đuổi nắng buồn/ Hai đứa lung linh lơi yếm áo/ Thuyền trăng dềnh sã cánh cô đơn”, khi ngoảnh lại trò chơi “Cây tam cúc” thảng thốt: “Nghé cây bài tìm hơi tóc ấm/ Em đừng lớn nữa Chị đừng đi/ Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa/ Ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì”.

Với vóc dáng mảnh mai và mái tóc bạc trắng, Hoàng Cầm nhẹ nhàng bước qua 89 tuổi đời, nhiều vinh hiển mà cũng lắm thiệt thòi. Mỗi người có một cách nhìn về ông, nhưng ai cũng phải thừa nhận số phận lãng du và phiêu bồng của ông đã góp cho hành trang tinh thần chúng ta những câu thơ đắm đuối.

Lúc xa vắng “Về với ta”, Hoàng Cầm tự nhủ: “Ta con phù du ao trời chật chội/ đứng cánh bèo đo gió lặng tìm sao”. Nhưng trái tim ngây ngất của ông chưa bao giờ dửng dưng với cõi người bằng thái độ “Nếu anh còn trẻ” giăng mắc duyên nợ: “Nếu có ngày mai anh trở gót/ Quay về lãng đãng bến sông xa/ Thì em còn đấy hay đâu mất?/Cuối xóm buồn teo một tiếng gà…”.

Sinh ra và lớn lên ở miền quê quan họ, Hoàng Cầm đã đi cùng dân tộc suốt chiều dài “Bên kia sông Đuống”, và biết đâu hôm nay bước sang một thế giới khác ông sẽ tìm được “Lá Diêu Bông” mà ông hằng mường tượng? Bởi lẽ, với Hoàng Cầm, sự sống luôn “Nguyên hình ảo vọng” chấp chới hiện thực và huyễn mộng: “Khi lửa khói tàn đêm, dòng sông êm ái/ Tôi lại gặp em, tưởng tháng năm dài chững lại/ Em vẫn thế… thon cây mềm trái/ Tóc hong chiều còn óng tuổi mơ xanh”.

___________________________________________

Ơi Diêu Bông!

Lê Thọ Bình

"Khác ông chúa thơ tình Xuân Diệu “Yêu là chết trong lòng một ít”, thì với thi sĩ Hoàng Cầm yêu là sống. Và dường như ông sinh ra là để đi kiếm tìm. Một cuộc kiếm tìm tình yêu bất tận"

Cuộc đời ông là chuỗi những thăng trầm, hạnh phúc, khổ đau. Nhưng rồi ông vẫn sống một cách nhi nhiên, tự tại đến hồn nhiên. Hoàng Cầm là thế bởi ông “… khờ khạo lắm, ngu ngơ lắm/ Chỉ biết yêu thôi chẳng biết gì” (như ông chúa thơ tình có lần đã nói).

Ông nằm đó, nghiêng nghiêng như… sông Đuống

Lần cuối cùng tôi đến thăm ông là vào một buổi chiều trước Tết Canh Dần. Trời Hà Nội se se lạnh. Căn phòng nhỏ trên tầng 5 của ngôi nhà nhỏ ở 43 Lý Quốc Sư. Ông nằm đó, phủ một chiếc chăn mỏng, nghiêng nghiêng trên chiếc giường nhỏ, thân hình nhỏ thó, mỏng tang, mái tóc bạc trắng như cước xoã dài trên gối.

Tôi đã không còn thấy cái hình ảnh quen thuộc: chiếc bàn con đặt cạnh giường ông, ngổn ngang giấy trắng. Giấy trắng đắp hờ qua chiếc chăn con những vần thơ mới trầm tư, hướng về một cõi không nào đó.
Năm nay, ở gần tuổi 90, ông đã mệt nặng. Ông nằm miên man, đôi mắt “vốn vẫn luôn cười” nay chan chứa nỗi u sầu hững hờ khép mở. Mặc cho ngoài kia cuộc sống đang ồn ào, sôi sục, mặc cho thiên hạ dan díu nhau đi sắm Tết, mặc cho cuộc sống bon chen trong bể trầm luân của kiếp người. Ngày lại ngày chàng thi sĩ đa tình, hồn nhiên mà lãng du ấy đang chìm đắm trong cõi miên viễn, trong những giấc mơ, những hoài niệm tưởng chừng không dứt, và trong cả sự câm lặng một cách vô thường của thời gian.

Chúng tôi chào ông, đùa: “Bây giờ mà có em nào xinh đẹp đang buồn thì liệu có còn đủ sức để mà tỷ tê: “Em ơi buồn làm chi” để mà “… đưa em về sông Đuống/ Ngày xưa… cát trắng phẳng lì” nữa không?

Thi sĩ của những tuyệt phẩm thơ “Bên kia sông Đuống”, “Lá diêu bông”, “Mưa Thuận Thành”… nhè nhẹ trở mình một cách đầy khó khăn, đôi mắt u sầu bổng ánh lên. Đôi môi đỏ trên làn da sáng mịn khẽ nhếch lên mỉm cười: “Chục năm nay què chân nên chỉ xoay xở trên cái giường này. Toàn nằm nghiêng. Chúng nó bảo thơ nó vận vào đó. Suốt đời “Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ” như sông Đuống ấy. Ông nói vậy rồi lại mỉm cười, trở mình, nằm nghiêng nghiêng trong chiếc chăn len mỏng. Nơi khoé mắt sâu của ông những giọt nước long lanh trào ra.

Vẫn biết “sinh, lão, bệnh, tử” là lẽ thường tình của kiếp người, nhưng nhìn chàng thi sĩ hồn nhiên cũng lắm mà giang hồ lịch duyệt cũng nhiều của một thời ngang dọc ấy, nay bất lực nửa tỉnh nửa mê trong miên man ngày, miên man đêm của những năm trời nằm trên giường bệnh, tôi thực sự cảm thấy xót xa.

Giời bắt tội yêu sớm quá!

Nói đến Hoàng Cầm là nói đến tình si. Ông bảo ông sớm có cái buồn cô đơn khi mới lên 5, lên 7. “Giời bắt tội tôi yêu sớm quá”- có lần ông bảo thế. Rồi ông kể về mối tình đầu của ông. “Ngày ấy tôi mới 8 tuổi, một hôm tôi từ chỗ trọ học trên thị xã Phủ Lạng Thương về nhà chiều thứ 7.

Chưa kịp bước vào trong nhà đã thấy một cô gái đang cúi bên chiếc bồ hàng xén của mẹ tôi. Khi cô ấy ngẩng đầu nhìn ra đường, thì cậu bé là tôi choáng váng tâm hồn. Người con gái ấy tên là Vinh, hơn tôi 8 tuổi.

Thứ 7 sau, về nhà, tôi trao bức thư tỏ tình đầu tiên viết bằng thơ lục bát dài hơn một trang giấy kẻ học sinh, trên vẽ hoa bướm, một vài ngọn núi, dòng sông, với dòng chữ viết bằng mực tím nắn nót: "Em gửi chị Vinh của em”. Và chị Vinh chính là người chị trong bài thơ sau này tôi viết: “Lá diêu bông”.

Bố mất sớm, nhà rất nghèo, chị ở cùng mẹ và một đứa em lên 5 tuổi. Họ cất một gian nhà ở phố để bán hàng kiếm ăn. Kể từ giây phút định mệnh tôi nhìn thấy chị, tôi mê man chị chẳng còn biết trời đất, ất giáp, quên cả đến học hành, sách vở, suốt ngày chỉ ngong ngóng sang bên kia đường, xe xế nhà tôi khoảng 20 mét, nơi thiên thần của tôi ngồi bán quán nghèo, phố nhỏ đìu hiu, tỉnh nhỏ...
Tôi phải lòng chị, cứ thế giăng mắc tơ tình quanh chị suốt 4 năm trời, đến năm tôi 12 tuổi thì chị đi lấy chồng. Tôi mất tăm chị, đầu non cuối bể tôi đi tìm, không thấy. Biền biệt tăm cá bóng chim...
Tôi còn nhớ như in một buổi chiều mùa đông... Chị đi về phía cánh đồng chiều còn trơ cuống rạ. Những dãy núi xanh xanh mờ xa in hình như dao khắc trên nền trời cuối hoàng hôn. Bí mật, tôi lặng lẽ lần theo chị. Tôi thấy chị thẫn thờ tìm đồng chiều, cuống rạ. Rồi chị lẩm bẩm một mình, dầu chị biết chắc tôi lẵng nhẵng theo sau lưng: "Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông/ Từ nay ta gọi là chồng...". Tôi mãi mang theo hình ảnh đó và 25 năm sau, bài thơ "Lá Diêu Bông" mới ra đời”.

Bài thơ như một tiền định. Và cả cuộc đời ông là một cuộc kiếm tìm, kiếm tìm trong vô vọng một người đàn bà (như là chị Vinh) cho riêng mình. Ông đau đáu: “Tôi đã mòn tay đi tìm người đàn bà cho riêng mình, nhưng tôi chỉ có thể ôm mối tơ vương mà chiêm ngưỡng vẻ đẹp thánh thiện của nàng thơ mà không sao với tới nàng được. Tôi vẫn ví tình yêu tựa như vì sao cô đơn trên bầu trời. Tôi chỉ có thể ôm mối mộng mơ được chạm tay vào vì sao kia, cho dù tôi sẽ bị thứ ánh sáng huyền diệu nhưng khốc liệt của tình yêu thiêu đốt. Có lẽ vậy mà thơ tôi luôn phủ một lớp sương buồn”.

Nếu so sánh Hán Quang Võ đa tình, đa cảm... mẫn mê với thuở Lệ Quyên "thơm như hoa lan", giữa Ôn Như Hầu (tác giả Cung Oán Ngâm khúc) và Tự Đức (tác giả Ngự Chế Việt Sử tổng vịnh tập, luận ngữ Diễn ca) cách nhau một thế kỷ còn mập mờ tranh nhau hình ảnh Thị Bằng - "Đập cổ kính ra tìm bóng cũ/ Xếp tàn y lại để dành hơi" - thì "Lá Diêu Bông" có lẽ tha thiết, nặng tình, bi thương hơn bội phần. Nếu so với tuổi yêu đương, có lẽ Hoàng Cầm đứng đầu danh sách nghệ sĩ.

Những người đàn bà có thật trong đời Hoàng Cầm

“Trong số những người đàn bà đi vào cuộc đời tôi, có năm cuộc tình mãi khắc ấn sâu nặng nhất trong tâm hồn tôi, trong đó có một người đàn bà đã giũ áo bụi trần đi tu. Hình bóng người đàn bà ấy vẫn hằn dấu trong những trang thơ của tôi ngày hôm nay "Cõi mê xưa đã trôi veo/ Nhớ chăng chẳng nhớ hồn theo bụi nào/ Có thời gái nhoẻn hồng đào... Đừng thương em nữa vui càng sinh đau/ Chuông thiền xa đổ nhịp mau/ Bóng anh thấp thoáng chìm sau mai vàng" (“Thư cuối năm của người yêu xưa”) - thi sĩ Hoàng Cầm có lần kể như vậy.

5 bóng hồng trong cuộc đời thật của thi sĩ Hoàng Cầm có thể là: chị Vinh - mối tình đầu đẹp nhất của cậu bé mười hai tuổi và giờ đây chỉ có thể nói về chị bằng một câu ngắn ngủi thật buồn: “hồng nhan bạc mệnh”. Một người chị khác, với mối tình “Cây tam cúc”, từng sống ở Thủ Đức đã từng “gọi đôi cây trầu cay má đỏ, / Kết xe hồng đưa Chị đến quê Em”.

Người vợ thứ hai của ông, bà Tuyết Khanh, người vào vai Kiều Loan, đã sinh hạ cho ông một nàng tố nữ đặt tên nhân vật vở kịch để kỷ niệm, cũng là mối tình lớn mà những thi sĩ đương thời thường hay trầm trồ thán phục, nhất là thuở trẻ bà còn là “mối tình si” của nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Do số phận trắc trở, bà sang định cư ở Mỹ. Còn bà Lê Hoàng Yến, người phụ nữ sau cùng và cũng là người đã sống với ông lâu nhất. Nhưng bà mất cũng đã mất mấy chục năm rồi.

Và Sông Đuống nghiêng nghiêng thật!

Bài thơ được nhiều người biết đến nhất là “Lá Diêu Bông”, nhưng “Bên kia sông Đuống” lại là kiệt tác của Hoàng Cầm.

“Trong một đêm mất ngủ khi nghe quê hương bị giặc Pháp tàn phá, giết chóc, đột nhiên trong thế giới thinh không vẳng bên tai tôi ba câu thơ: "Em ơi buồn làm chi/ Anh đưa em về sông Đuống/ Ngày xưa cát trắng phẳng lỳ”.

Tôi bèn ghi ngay lại và viết rất nhanh, sợ không theo kịp những thanh âm đang cuồn cuộn dâng lên trong tâm thức. Sớm tinh mơ, tôi đun ấm nước chè xanh gọi Nguyên Hồng lúc ấy đang tập thể dục ngoài sân vào nghe bài thơ. Nguyên Hồng không làm thơ nhưng rất thích nghe thơ. Tôi mới đọc được năm câu, Nguyên Hồng đã khóc nức khóc nở, khóc dấm dứt. Nguyên Hồng mếu máo bảo tôi viết ra làm ba bản để anh đi in. Bẵng đi hai tháng sau, bài thơ được đăng trên tờ “Cứu Quốc” - Hoàng Cầm kể lại như vậy.

Với “Bên kia sông Đuống” Hoàng Cầm thực sự là nhà thơ có thần cảm. Không ai ngoài ông nhìn được “Sông Đuống nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ”.

Câu thơ ám ảnh nhiều thế hệ người Việt Nam ta, đến nỗi sau này, nghe nói cái ông Giáo sư Phan Ngọc “điên khùng” kia đã làm một cuộc đạp xe mấy chục cây số bên hữu ngạn sông Đuống và thừa nhận với thi sĩ Hoàng Cầm là sông Đuống nằm nghiêng thật. Đó cũng chính là cảm giác của nhiều Việt kiều khi về nước, nhìn xuống sông Đuống từ trên máy bay.

Và nếu như về địa lý, sông Đuống có không nằm nghiêng đi chăng nữa, và có thể là không có thật với bất kỳ ai, nhưng với Hoàng Cầm, người mà mỗi bài thơ đều như được phát tích từ một huyền tưởng cổ tích, thì tôi tin lắm lắm là ông đã từng thấy sông Đuống nằm nghiêng thật, trong tâm khảm của ông. “Bên kia sông Đuống”, “Đêm liên hoan”, kịch thơ “Kiều Loan” chính là những thành công vang dội nhất của Hoàng Cầm thời chống Pháp.

9h30 ngày 6/05/2010 thi sĩ Hoàng Cầm đã yên nghỉ sau một cuộc hành trình- tìm kiếm có cả hạnh phúc lẫn khổ đau.

Không! Tôi không tin Hoàng Cầm đã yên nghỉ. Ở đâu đó, cũng có thể là bên kia sông Đuống, ông đang bắt đầu một cuộc tìm kiếm mới và tôi tin lắm lắm cuộc kiếm tìm này chỉ có hạnh phúc chứ không có khổ đau.

Vâng, Hoàng Cầm đó, “… cầm chiếc lá/ đi đầu non cuối bể/ Gió quê vi vút gọi/ Diêu Bông hỡi!../ - Ơi Diêu Bông!”.

__________________________________________

Thứ Năm, 6 tháng 5, 2010

Thi sĩ "Lá diêu bông" về trời

- 9h sáng ngày 6/5/2010, thi sĩ Hoàng Cầm đã qua đời tại bệnh viện Việt Xô, hưởng thọ 88 tuổi - Nhà văn Nguyễn Quang Lập thông tin với phóng viên Bee.

Thi sĩ Hoàng Cầm có tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh ngày 22/2/1922, tại xã Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; quê gốc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Ông xuất thân trong gia đình nhà nho lâu đời. Thân sinh ông thi không đỗ, về dạy chữ Hán và làm thuốc bắc ở Bắc Giang. Tên ông được đặt ghép từ địa danh quê hương: Phúc Tằng và Việt Yên.

Ông nổi tiếng với vở kịch thơ Hận Nam Quan, Kiều Loan và các bài thơ Lá diêu bông, Bên kia sông Đuống. Bài thơ Bên kia sông Đuống được chọn vào giảng dạy trong giáo trình trung học phổ thông.

Đầu năm 2007, ông được nhà nước Việt Nam tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật do Chủ tịch nước ký quyết định tặng riêng.

Bee xin đăng lại bài thơ "Lá diêu bông" của thi sĩ Hoàng Cầm như một nén tâm nhang tưởng nhớ tới ông hoàng thơ tình của xứ Kinh bắc:

Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thơ đi tìm
Đồng chiều
Cuống rạ

Chị bảo
Đứa nào tìm được Lá Diêu bông
Từ nay ta gọi là chồng

Hai ngày Em tìm thấy Lá
Chị chau mày
Đâu phải Lá Diêu bông

Mùa đông sau Em tìm thấy Lá
Chị lắc đầu
trông nắng vãn bên sông

Ngày cưới Chị
Em tìm thấy Lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim

Chị ba con
Em tìm thấy Lá
Xòe tay phủ mặt Chị không nhìn

Từ thuở ấy
Em cầm chiếc Lá
đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu bông hời...
...ới Diêu bông...!



PV
_________________________________________

"Người đàn bà đẹp" đẩy chiếc xe thơ Hoàng Cầm

Hà Thế Lực

- “Ngày hai bữa cơm nghèo, mấy tấm áo quần đã sờn rách, một lũ con nhỏ dại lau nhau đi học, chơi đùa, đau ốm, tất cả tôi trao gánh nặng cuộc đời ấy cho người vợ”.
Đó là những dòng Hoàng Cầm viết về người vợ cuối cùng của ông, bà Lê Hoàng Yến, khi nhớ lại những ngày gian nan thử thách thi nhân.


LTS: Vậy là thi sĩ Hoàng Cầm đã ra đi lúc 9h sáng 6/5/2010 tại Bệnh viện Việt Xô, Hà Nội. 88 năm sống yêu thương và được yêu thương, giờ Hoàng Cầm sắp được sum họp với bà Hoàng Yến, người vợ tần tảo đã cùng nhà thơ bước trong những ngày sóng gió. Bee xin đăng lại bài viết như một nén hương, cầu cho linh hồn ông an lạc chốn Thiên Thai.

“Em đâu? Ai xé hồn muôn mảnh”

Năm 1985, sau cuộc hành trình suốt 30 năm đằng đẵng trên cõi tạm với nhà thơ, bà Hoàng Yến tạm biệt ông để đi vào cõi vĩnh hằng. Khi ấy, bà mới ngoài sáu mươi tuổi, nhà thơ vẫn chưa được “phục hồi” và vẫn sống trong cảnh “vô cùng nghèo đói, phải chạy ăn từng bữa một, từng dúm gạo một” cho cái gia đình có đến hơn chục miệng ăn, như chính Hoàng Cầm kể lại.

Như chàng Ăng tê phải rời mặt đất, khi bà ra đi, Hoàng Cầm rơi vào những tháng ngày hoảng loạn và trầm cảm, như một thứ bệnh tâm thần. Nhà thơ kể lại: “Nghe một tiếng còi ôtô rít lên ở ngoài, đang ở trong nhà, thì tự nhiên tôi co rúm lại, chui xuống gầm giường. Thậm chí, nghe tiếng giày lộp cộp cũng thấy sợ”. Mãi đến năm 87, nhờ nhiều người bạn, ông mới dần dần hồi phục lại được sức khoẻ.

Bài thơ "Xa" ông viết khi bà mất rất cảm động:

Chim gì lảnh lót dãy tường rêu
Bấy nhiêu lá úa rơi ngơ ngác…
Em đâu? Ai xé hồn muôn mảnh
Tiếng mối tường bên xé tiếng mưa...
Đêm đêm hương khói, ngày không nói
Trang giấy vùng âm đắp ẩm êm


Tín đồ thơ và nàng thơ của Hoàng Cầm

Đầu ấp tay gối cùng nhà thơ suốt 30 năm, bà Lê Hoàng Yến đương nhiên là một tín đồ của thơ tình Hoàng Cầm. Bao nhiêu bản thảo của thơ ông, bà giữ hết. Các con bà vẫn nhớ những đêm mưa gió, nhà cửa hồi ấy lụp xụp, dột nát, bà lại lọ mọ chạy những bản thảo thơ ấy vào chỗ khô ráo.

Là tín đồ, đồng thời cũng là nàng thơ của Hoàng Cầm suốt mấy mươi năm, như nhà thơ tự nhận, ông viết về bà là nhiều nhất trong ba bà vợ. Đến lượt mình, bà lại ru hai đứa con trai bà sinh cho ông bằng những vần thơ bất hủ: “Bên kia sông Đuống”, “Lá diêu bông”, “Mưa Thuận Thành”…

Từng là một diễn viên, mê thơ Hoàng Cầm từ ngày còn trẻ, nhưng khi về ở với nhà thơ, bà Yến đã là một góa phụ. Thật ra, bà Yến và người vợ hai, của nhà thơ, bà Tuyết Khanh, cũng từng có những ghen tỵ từ trước đó: Yến và bà Tuyết Khanh đã cạnh tranh nhau để đóng vai nàng Kiều Loan trong vở kịch thơ cùng tên nổi tiếng của Hoàng Cầm.

Được chọn cho vai diễn ấy, nhưng rồi, chính bà Khanh lại bỏ nhà thơ để ra đi, và suốt mấy mươi năm sau đó, bà Yến đã cùng nhà thơ đi giữa sân khấu cuộc đời cho đến ngày từ giã cuộc sống. Đời làm vợ của bà có thể gói gọn lại trong một câu thơ của chính Hoàng Cầm: “Tôi có người vợ nghèo, đời vất vả gieo neo…”

“Nhiều người nói tôi lấy bà Yến chỉ vì bà đẹp quá”

Bà Hoàng Yến là người cuối cùng đến với Hoàng Cầm trong số ba người vợ chính thức. Thân sinh bà Yến vốn là một lang thuốc ở đất Hải Dương. Có lẽ, tính cách hiền thục và nhân hậu của bà Yến sau này, như mọi người quen biết kể lại, có ảnh hưởng nhiều từ cha mình.

Bà, trước khi lấy Hoàng Cầm, đã là một thiếu phụ lúc mới 31 tuổi. Năm 1940, lúc vừa mười tám, bà kết tóc se tơ cùng một thầy giáo hay làm từ thiện, ông Đào Thiện Phỏng. Ông Phỏng nhà khá giả, có hẳn một khu nhà ở đối diện Nhà Đấu xảo (Cũng văn hóa Việt Xô bây giờ), trong nhà có người giúp việc, nên người vợ 18 tuổi thậm chí còn “không bao giờ phải vào bếp” như một người con kể lại và hay theo chồng đi làm từ thiện.

Nhà có nhiều học sinh của ông Phỏng trọ học, nên về sau cho thuê hẳn và chuyển sang phố Lý Quốc Sư, cho đến khi ông Phỏng mất đột ngột vì nhồi máu cơ tim.

Lấy Hoàng Yến năm 1956, Hoàng Cầm, khi ấy là Trưởng đoàn Văn công Tổng cục Chính trị, vừa trở về từ chiến khu Việt Bắc sau kháng Pháp, với hành trang hôn nhân nặng gánh là hai đời vợ. Bà thứ nhất, Hoàng Thị Hoàn, được gia đình cưới cho nhà thơ, trước khi qua đời vì quá nhớ thương người chồng biền biệt những ngày chống Pháp, đã kịp sinh cho cho ông hai người con.

Còn bà thứ hai, Tuyết Khanh, lọt vào mắt xanh của nhà thơ khi bà vào vai Kiều Loan trong vở kịch thơ cùng tên của ông một cách xuất sắc đến mức Nguyễn Huy Tưởng và Vũ Hoàng Chương phải khen “nắc nỏm”. Sinh cho nhà thơ cô con gái Kiều Loan, bà bị ốm nặng, phải “rời chiến khu về thành” chữa bệnh, rồi cuộc đời xô đẩy, bà đi lấy chồng khác. Năm 1954, bà ôm con, theo chồng vào Nam, rồi tới năm 1975, sang Mỹ.

Bà Yến là Y tá của Bệnh viện Yersin (nay là Bệnh viện Việt Đức) trong thời kỳ kháng Pháp, lại xinh đẹp tới mức vẫn được mệnh danh là hoa khôi của bệnh viện dù đã 5 con với chồng cũ, cho nên, khi Hoàng Cầm xách balô về ở với bà, rất nhiều người nói là nhà thơ "bị lừa".

Còn theo như ông cựu Trưởng đoàn Văn công kể lại, thì ngay từ lúc đó, rất nhiều người là cấp trên đã không ưa cuộc hôn nhân này, vì bà Yến được xếp vào loại công chức cũ và họ nghĩ, nhà thơ lấy bà chỉ vì mê sắc đẹp. Và điều này, theo nhà thơ, chưa chắc đã không liên quan gì đến vụ Nhân văn – Giai phẩm sau này…

(Còn tiếp)
_____________________________________________