Hoàng Cầm, Tên khai sinh: Bùi Tằng Việt, sinh ngày 22 tháng 2 năm 1922, tại Bắc Giang, quê gốc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Hiện sống ở Hà Nội. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1957), mất ngày 6.5.2010 tại Hà Nội.
Tác phẩm xuất bản: “Hận ngày xanh” (phóng tác theo Lamartine 1940); “Bông sen trắng” (phóng tác theo Andersen 1940); “Cây đèn thần” (phóng tác theo “Nghìn lẻ một đêm”, 1941); “Tỉnh giấc mơ vua” (phóng tác theo “Nghìn lẻ một đêm”, 1942); “Thoi mộng” (truyện vừa, 1941); “Hận Nam Quan” (kịch thơ, 1944, 1942); Bốn truyện ngắn (đăng tiểu thuyết thứ bảy từ 1930 đến 1943);
“Ông cụ Liên” (kịch nói, 1952); “Đêm Lào Cai” (kịch nói 3 hồi, 1957); “Tiếng hát quan họ” (trường ca, in chung trong tập Cửa Biển, 1956);
“Những niềm tin” (thơ dịch của Bonalan Kanfa - Algérie, 1965); “Men đá vàng” (truyện thơ, 1989); “Tương lai” (kịch thơ, 1995); “Kiều Loan” (kịch thơ 3 hồi, 1992); “Mưa Thuận Thành” (tập thơ, 1991); “Lá diêu bông” (tập thơ, 1993); “Bên kia sông Đuống” (tập thơ chọn lọc, 1993); “Về Kinh Bắc” (tập thơ, 1994); “99 tình khúc” (tập thơ tình, 1995) và một số tập thơ, văn khác.
Mưa Thuận Thành
Nhớ mưa Thuận Thành
Long lanh mắt ướt
Là mưa ái phi
Tơ tằm óng chuốt
Ngón tay trắng nuột
Nâng bồng Thiên Thai
Mưa chạm ngõ ngoài
Chùm cau tóc xoã
Miệng cười kẽ lá
Mưa nhoà gương soi
Phủ Chúa mưa lơi
Cung Vua mưa chơi
Lên ngôi Hoàng hậu
Cứ mưa Thuận Thành
Giọt mưa chưa đậu
Vai trần Ỷ lan
Mưa còn khép nép
Nhẹ rung tơ đàn
Lách qua cửa hẹp
Mưa càng chứa chan
Ngoài bến Luy Lâu
Tóc mưa nghiêng đầu
Vành khăn lỏng lẻo
Hạt mưa chèo bẻo
Nhạt nắng xiên khoai
Hạt mưa hoa nhài
Tàn đêm kỹ nữ
Hạt mưa sành sứ
Vỡ gạch Bát Tràng
Hai mảnh đa mang
Chiều khô lá ngải
Mưa gái thương chồng
Ướt đầm nắng quái
Sang đò cạn sông
Mưa chuông chùa lặn
Về bến trai tơ
Chùa Dâu ni cô
Sao còn thẩn thơ
Sao còn ngơ ngẩn
Không về kinh đô
Mưa ngồi cổng vắng
Mưa nằm lẳng lặng
Hỏi gì xin thưa
Nhớ lụa mưa lùa
Sồi non yếm tơ
Thuận Thành đang mưa...
+++
Bên kia sông Đuống
(Trích)
Em ơi! Buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ
Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay
Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
..........
Ai về bên kia sông Đuống
Cho ta gửi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên
Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai
Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu
Những nàng môi cắn chỉ quết trầu
Những cụ già phơ phơ tóc trắng
Những em xột xoạt quần nâu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?
Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu toả nắng
Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen
Bãi Tràm chỉ người dăng tơ nghẽn lối
Những nàng dệt sợi
Đi bán lụa màu
Những người thợ nhuộm
Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?
..........
Đêm đi sâu quá lòng sông Đuống
Bộ đội bên sông đã trở về
Con bắt đầu xuất kích
Trại giặc bắt đầu run trong sương
………
Bao giờ về bên kia sông Đuống
Anh lại tìm em
Em mặc yếm thắm
Em thắt lụa hồng
Em đi trảy hội non sông
Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh
Việt Bắc tháng 4.1948
+++
Cuộc lưu đày vương giả
(Nhớ chuyện Công chúa Huyền Trân, đời nhà Trần)
Một đi biền biệt về Nam
Như rơi một đoá hoa vàng giữa xuân
Ý hoàng gia dám ngại ngần
Một vì nghiệp đế trăm lần dân thương
Lên xe có kịp mẹ ôm?
Người yêu có kịp lệ buồn chia xa?
Một thân thui thủi quan hà
Bốn phương mây trắng nắng nhoà quê hương
Khóc sao dềnh sóng đại dương?
Hận sao nghi ngút Trường Sơn nghìn trùng?
Đi bao giờ tới cõi không?
Đồ Bàn đâu biết tận cùng hư vô?
Hai châu Ô Lý hoang sơ
Nâng chân Công chúa sạt bờ chiến chinh
Biên cương rộng mơ thanh bình
Hỏi sao hoàng hậu Chiêm Thành hoá câm?
Tên phố giờ cũng xa xăm
Còn ai sẻ nỗi đau thầm nghìn xưa?
Mùa lạnh 2005
++
Theo đuổi
Em ơi thử đếm mấy giêng hai
Đêm hội Lim về
đê quai rảo bước
Đuổi tà lụa nhạt
ánh trăng đầm thấm đường sương
Ấy bởi thương em
vườn khô bỏ ngỏ
Gió vào ra bưởi trụi hồng thui
Ấy bởi thương em
mái nhà um cỏ
Chim vào ra vách đứng cột ngồi
Em về đồng chiêm đất rạn chân chim
Em đi mưa ngâu nước ngập đồi chè
Hồ nghe đêm hội ới a
Lại xót mắt em mi trường khép bóng
Lòng tay êm mái rừng tơ xa
Lại xót tay anh đêm trường ru võng
Rừng chân mây chưa động sấm quê nhà
Chân em dài đi không biết mỏi
Má em hồng em lại nổi
đồng mùa nước lụt mênh mông
Lưng thon thon cắm sào em đợi
Đào giếng sâu rồi
đừng lấp vội đầu xanh
Lý lý ơi khát khô cả giọng
Tình tình ơi chớ động mành thưa
Chìa vôi quệt gió hững hờ
Bờ ao sáo tắm bây giờ…
… hở em.
Quả vườn ổi
Nằm trên bãi cát thư tâm
Sông nước sinh thuyền Em đẩy tới
Có gió có buồm có dòng có lái
Trách gì ai xô giạt đến bờ hoang
Em mười hai tuổi tìm theo Chị
Qua cầu bà Sấm bến cô Mưa
Đi…
ngày tháng lui
tìm không thấy
Giải yếm lòng chai mải phất cờ
Cách nhà ba bước vào vườn ổi
chị xoạc cành ngang
em gốc cây
- Xin Chị một quả chín!
- Quả chín quá tầm tay
- Xin Chị một quả ương!
- Quả ương chim khoét thủng
Lẽo đẽo Em đi vườn mai sau
Cúi nhặt chiều mưa dăm quả rụng.
+++
Về với ta
Ta con bê vàng lạc dáng chiều xanh
đi mãi tìm sim chẳng chín
Ta lên đồi thông nằm miếu Hai Cô
gặm cỏ mưa phùn
Dóng dả gọi về đồng sương
đôi ba người lận đận
Đêm nay mẹ chẳng về chuồng
Ta con chào mào khát nước
Về vườn xưa hạt nhãn đã đâm mầm
Cây ổi giơ xương
chống đỡ mùa đông
xập về đánh úp
Ô này tám đỏ ra hoa
Ta con chim cu
về gù rặng tre
đưa nắng ấu thơ
về sân đất trắng
đưa mây lành những phương trời lạ
về tụ nóc cây rơm
Ta ru em
Lớn lên em đừng tìm mẹ
phía cơn mưa
Ta con phù du ao trời chật chội
đứng cánh bèo đo gió lặng tìm sao
Uống nước mắt con vành khuyên nhớ tổ
vừa rụng chiều nay
dềnh mặt nước hương sen
Ta soi
chỉ còn ta đạp lùi tinh tú
Ngủ say rồi
đôi cá đòng đong
+++
Ngủ vỉa hè
Thường đêm đày đoạ tấm thân
Để trong đói khát được gần em hơn
Dưới hiên mê chập ngủ chờn
Nghe anh xẩm nối giọng đờn đứt dây
Sương khuya mèo rú mái tây
Thôi Oanh Oanh rẽ lối này được không?
Bỗng dưng nước mắt ròng ròng
Hoá ra em trói chặt vòng tay anh
Đêm đi chậm quá không đành
Xích lô máy lạnh tung hoành…cơn đau…
Nhà em đâu? Anh ngủ đâu?
Ổ gà hạnh phúc giục mau gập ghềnh
Xe đời bẹp bánh chông chênh
- Vá cho tôi!
- Nắn lại vành mê si
__________________________________________________
_____________________________________________________________
Hiển thị các bài đăng có nhãn Mưa Thuận Thành. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Mưa Thuận Thành. Hiển thị tất cả bài đăng
Chủ Nhật, 30 tháng 5, 2010
Thứ Năm, 6 tháng 5, 2010
"Người đàn bà đẹp" đẩy chiếc xe thơ Hoàng Cầm
Hà Thế Lực
- “Ngày hai bữa cơm nghèo, mấy tấm áo quần đã sờn rách, một lũ con nhỏ dại lau nhau đi học, chơi đùa, đau ốm, tất cả tôi trao gánh nặng cuộc đời ấy cho người vợ”.
Đó là những dòng Hoàng Cầm viết về người vợ cuối cùng của ông, bà Lê Hoàng Yến, khi nhớ lại những ngày gian nan thử thách thi nhân.
LTS: Vậy là thi sĩ Hoàng Cầm đã ra đi lúc 9h sáng 6/5/2010 tại Bệnh viện Việt Xô, Hà Nội. 88 năm sống yêu thương và được yêu thương, giờ Hoàng Cầm sắp được sum họp với bà Hoàng Yến, người vợ tần tảo đã cùng nhà thơ bước trong những ngày sóng gió. Bee xin đăng lại bài viết như một nén hương, cầu cho linh hồn ông an lạc chốn Thiên Thai.
“Em đâu? Ai xé hồn muôn mảnh”
Năm 1985, sau cuộc hành trình suốt 30 năm đằng đẵng trên cõi tạm với nhà thơ, bà Hoàng Yến tạm biệt ông để đi vào cõi vĩnh hằng. Khi ấy, bà mới ngoài sáu mươi tuổi, nhà thơ vẫn chưa được “phục hồi” và vẫn sống trong cảnh “vô cùng nghèo đói, phải chạy ăn từng bữa một, từng dúm gạo một” cho cái gia đình có đến hơn chục miệng ăn, như chính Hoàng Cầm kể lại.
Như chàng Ăng tê phải rời mặt đất, khi bà ra đi, Hoàng Cầm rơi vào những tháng ngày hoảng loạn và trầm cảm, như một thứ bệnh tâm thần. Nhà thơ kể lại: “Nghe một tiếng còi ôtô rít lên ở ngoài, đang ở trong nhà, thì tự nhiên tôi co rúm lại, chui xuống gầm giường. Thậm chí, nghe tiếng giày lộp cộp cũng thấy sợ”. Mãi đến năm 87, nhờ nhiều người bạn, ông mới dần dần hồi phục lại được sức khoẻ.
Bài thơ "Xa" ông viết khi bà mất rất cảm động:
Chim gì lảnh lót dãy tường rêu
Bấy nhiêu lá úa rơi ngơ ngác…
Em đâu? Ai xé hồn muôn mảnh
Tiếng mối tường bên xé tiếng mưa...
Đêm đêm hương khói, ngày không nói
Trang giấy vùng âm đắp ẩm êm
Tín đồ thơ và nàng thơ của Hoàng Cầm
Đầu ấp tay gối cùng nhà thơ suốt 30 năm, bà Lê Hoàng Yến đương nhiên là một tín đồ của thơ tình Hoàng Cầm. Bao nhiêu bản thảo của thơ ông, bà giữ hết. Các con bà vẫn nhớ những đêm mưa gió, nhà cửa hồi ấy lụp xụp, dột nát, bà lại lọ mọ chạy những bản thảo thơ ấy vào chỗ khô ráo.
Là tín đồ, đồng thời cũng là nàng thơ của Hoàng Cầm suốt mấy mươi năm, như nhà thơ tự nhận, ông viết về bà là nhiều nhất trong ba bà vợ. Đến lượt mình, bà lại ru hai đứa con trai bà sinh cho ông bằng những vần thơ bất hủ: “Bên kia sông Đuống”, “Lá diêu bông”, “Mưa Thuận Thành”…
Từng là một diễn viên, mê thơ Hoàng Cầm từ ngày còn trẻ, nhưng khi về ở với nhà thơ, bà Yến đã là một góa phụ. Thật ra, bà Yến và người vợ hai, của nhà thơ, bà Tuyết Khanh, cũng từng có những ghen tỵ từ trước đó: Yến và bà Tuyết Khanh đã cạnh tranh nhau để đóng vai nàng Kiều Loan trong vở kịch thơ cùng tên nổi tiếng của Hoàng Cầm.
Được chọn cho vai diễn ấy, nhưng rồi, chính bà Khanh lại bỏ nhà thơ để ra đi, và suốt mấy mươi năm sau đó, bà Yến đã cùng nhà thơ đi giữa sân khấu cuộc đời cho đến ngày từ giã cuộc sống. Đời làm vợ của bà có thể gói gọn lại trong một câu thơ của chính Hoàng Cầm: “Tôi có người vợ nghèo, đời vất vả gieo neo…”
“Nhiều người nói tôi lấy bà Yến chỉ vì bà đẹp quá”
Bà Hoàng Yến là người cuối cùng đến với Hoàng Cầm trong số ba người vợ chính thức. Thân sinh bà Yến vốn là một lang thuốc ở đất Hải Dương. Có lẽ, tính cách hiền thục và nhân hậu của bà Yến sau này, như mọi người quen biết kể lại, có ảnh hưởng nhiều từ cha mình.
Bà, trước khi lấy Hoàng Cầm, đã là một thiếu phụ lúc mới 31 tuổi. Năm 1940, lúc vừa mười tám, bà kết tóc se tơ cùng một thầy giáo hay làm từ thiện, ông Đào Thiện Phỏng. Ông Phỏng nhà khá giả, có hẳn một khu nhà ở đối diện Nhà Đấu xảo (Cũng văn hóa Việt Xô bây giờ), trong nhà có người giúp việc, nên người vợ 18 tuổi thậm chí còn “không bao giờ phải vào bếp” như một người con kể lại và hay theo chồng đi làm từ thiện.
Nhà có nhiều học sinh của ông Phỏng trọ học, nên về sau cho thuê hẳn và chuyển sang phố Lý Quốc Sư, cho đến khi ông Phỏng mất đột ngột vì nhồi máu cơ tim.
Lấy Hoàng Yến năm 1956, Hoàng Cầm, khi ấy là Trưởng đoàn Văn công Tổng cục Chính trị, vừa trở về từ chiến khu Việt Bắc sau kháng Pháp, với hành trang hôn nhân nặng gánh là hai đời vợ. Bà thứ nhất, Hoàng Thị Hoàn, được gia đình cưới cho nhà thơ, trước khi qua đời vì quá nhớ thương người chồng biền biệt những ngày chống Pháp, đã kịp sinh cho cho ông hai người con.
Còn bà thứ hai, Tuyết Khanh, lọt vào mắt xanh của nhà thơ khi bà vào vai Kiều Loan trong vở kịch thơ cùng tên của ông một cách xuất sắc đến mức Nguyễn Huy Tưởng và Vũ Hoàng Chương phải khen “nắc nỏm”. Sinh cho nhà thơ cô con gái Kiều Loan, bà bị ốm nặng, phải “rời chiến khu về thành” chữa bệnh, rồi cuộc đời xô đẩy, bà đi lấy chồng khác. Năm 1954, bà ôm con, theo chồng vào Nam, rồi tới năm 1975, sang Mỹ.
Bà Yến là Y tá của Bệnh viện Yersin (nay là Bệnh viện Việt Đức) trong thời kỳ kháng Pháp, lại xinh đẹp tới mức vẫn được mệnh danh là hoa khôi của bệnh viện dù đã 5 con với chồng cũ, cho nên, khi Hoàng Cầm xách balô về ở với bà, rất nhiều người nói là nhà thơ "bị lừa".
Còn theo như ông cựu Trưởng đoàn Văn công kể lại, thì ngay từ lúc đó, rất nhiều người là cấp trên đã không ưa cuộc hôn nhân này, vì bà Yến được xếp vào loại công chức cũ và họ nghĩ, nhà thơ lấy bà chỉ vì mê sắc đẹp. Và điều này, theo nhà thơ, chưa chắc đã không liên quan gì đến vụ Nhân văn – Giai phẩm sau này…
(Còn tiếp)
_____________________________________________
- “Ngày hai bữa cơm nghèo, mấy tấm áo quần đã sờn rách, một lũ con nhỏ dại lau nhau đi học, chơi đùa, đau ốm, tất cả tôi trao gánh nặng cuộc đời ấy cho người vợ”.
Đó là những dòng Hoàng Cầm viết về người vợ cuối cùng của ông, bà Lê Hoàng Yến, khi nhớ lại những ngày gian nan thử thách thi nhân.
LTS: Vậy là thi sĩ Hoàng Cầm đã ra đi lúc 9h sáng 6/5/2010 tại Bệnh viện Việt Xô, Hà Nội. 88 năm sống yêu thương và được yêu thương, giờ Hoàng Cầm sắp được sum họp với bà Hoàng Yến, người vợ tần tảo đã cùng nhà thơ bước trong những ngày sóng gió. Bee xin đăng lại bài viết như một nén hương, cầu cho linh hồn ông an lạc chốn Thiên Thai.
“Em đâu? Ai xé hồn muôn mảnh”
Năm 1985, sau cuộc hành trình suốt 30 năm đằng đẵng trên cõi tạm với nhà thơ, bà Hoàng Yến tạm biệt ông để đi vào cõi vĩnh hằng. Khi ấy, bà mới ngoài sáu mươi tuổi, nhà thơ vẫn chưa được “phục hồi” và vẫn sống trong cảnh “vô cùng nghèo đói, phải chạy ăn từng bữa một, từng dúm gạo một” cho cái gia đình có đến hơn chục miệng ăn, như chính Hoàng Cầm kể lại.
Như chàng Ăng tê phải rời mặt đất, khi bà ra đi, Hoàng Cầm rơi vào những tháng ngày hoảng loạn và trầm cảm, như một thứ bệnh tâm thần. Nhà thơ kể lại: “Nghe một tiếng còi ôtô rít lên ở ngoài, đang ở trong nhà, thì tự nhiên tôi co rúm lại, chui xuống gầm giường. Thậm chí, nghe tiếng giày lộp cộp cũng thấy sợ”. Mãi đến năm 87, nhờ nhiều người bạn, ông mới dần dần hồi phục lại được sức khoẻ.
Bài thơ "Xa" ông viết khi bà mất rất cảm động:
Chim gì lảnh lót dãy tường rêu
Bấy nhiêu lá úa rơi ngơ ngác…
Em đâu? Ai xé hồn muôn mảnh
Tiếng mối tường bên xé tiếng mưa...
Đêm đêm hương khói, ngày không nói
Trang giấy vùng âm đắp ẩm êm
Tín đồ thơ và nàng thơ của Hoàng Cầm
Đầu ấp tay gối cùng nhà thơ suốt 30 năm, bà Lê Hoàng Yến đương nhiên là một tín đồ của thơ tình Hoàng Cầm. Bao nhiêu bản thảo của thơ ông, bà giữ hết. Các con bà vẫn nhớ những đêm mưa gió, nhà cửa hồi ấy lụp xụp, dột nát, bà lại lọ mọ chạy những bản thảo thơ ấy vào chỗ khô ráo.
Là tín đồ, đồng thời cũng là nàng thơ của Hoàng Cầm suốt mấy mươi năm, như nhà thơ tự nhận, ông viết về bà là nhiều nhất trong ba bà vợ. Đến lượt mình, bà lại ru hai đứa con trai bà sinh cho ông bằng những vần thơ bất hủ: “Bên kia sông Đuống”, “Lá diêu bông”, “Mưa Thuận Thành”…
Từng là một diễn viên, mê thơ Hoàng Cầm từ ngày còn trẻ, nhưng khi về ở với nhà thơ, bà Yến đã là một góa phụ. Thật ra, bà Yến và người vợ hai, của nhà thơ, bà Tuyết Khanh, cũng từng có những ghen tỵ từ trước đó: Yến và bà Tuyết Khanh đã cạnh tranh nhau để đóng vai nàng Kiều Loan trong vở kịch thơ cùng tên nổi tiếng của Hoàng Cầm.
Được chọn cho vai diễn ấy, nhưng rồi, chính bà Khanh lại bỏ nhà thơ để ra đi, và suốt mấy mươi năm sau đó, bà Yến đã cùng nhà thơ đi giữa sân khấu cuộc đời cho đến ngày từ giã cuộc sống. Đời làm vợ của bà có thể gói gọn lại trong một câu thơ của chính Hoàng Cầm: “Tôi có người vợ nghèo, đời vất vả gieo neo…”
“Nhiều người nói tôi lấy bà Yến chỉ vì bà đẹp quá”
Bà Hoàng Yến là người cuối cùng đến với Hoàng Cầm trong số ba người vợ chính thức. Thân sinh bà Yến vốn là một lang thuốc ở đất Hải Dương. Có lẽ, tính cách hiền thục và nhân hậu của bà Yến sau này, như mọi người quen biết kể lại, có ảnh hưởng nhiều từ cha mình.
Bà, trước khi lấy Hoàng Cầm, đã là một thiếu phụ lúc mới 31 tuổi. Năm 1940, lúc vừa mười tám, bà kết tóc se tơ cùng một thầy giáo hay làm từ thiện, ông Đào Thiện Phỏng. Ông Phỏng nhà khá giả, có hẳn một khu nhà ở đối diện Nhà Đấu xảo (Cũng văn hóa Việt Xô bây giờ), trong nhà có người giúp việc, nên người vợ 18 tuổi thậm chí còn “không bao giờ phải vào bếp” như một người con kể lại và hay theo chồng đi làm từ thiện.
Nhà có nhiều học sinh của ông Phỏng trọ học, nên về sau cho thuê hẳn và chuyển sang phố Lý Quốc Sư, cho đến khi ông Phỏng mất đột ngột vì nhồi máu cơ tim.
Lấy Hoàng Yến năm 1956, Hoàng Cầm, khi ấy là Trưởng đoàn Văn công Tổng cục Chính trị, vừa trở về từ chiến khu Việt Bắc sau kháng Pháp, với hành trang hôn nhân nặng gánh là hai đời vợ. Bà thứ nhất, Hoàng Thị Hoàn, được gia đình cưới cho nhà thơ, trước khi qua đời vì quá nhớ thương người chồng biền biệt những ngày chống Pháp, đã kịp sinh cho cho ông hai người con.
Còn bà thứ hai, Tuyết Khanh, lọt vào mắt xanh của nhà thơ khi bà vào vai Kiều Loan trong vở kịch thơ cùng tên của ông một cách xuất sắc đến mức Nguyễn Huy Tưởng và Vũ Hoàng Chương phải khen “nắc nỏm”. Sinh cho nhà thơ cô con gái Kiều Loan, bà bị ốm nặng, phải “rời chiến khu về thành” chữa bệnh, rồi cuộc đời xô đẩy, bà đi lấy chồng khác. Năm 1954, bà ôm con, theo chồng vào Nam, rồi tới năm 1975, sang Mỹ.
Bà Yến là Y tá của Bệnh viện Yersin (nay là Bệnh viện Việt Đức) trong thời kỳ kháng Pháp, lại xinh đẹp tới mức vẫn được mệnh danh là hoa khôi của bệnh viện dù đã 5 con với chồng cũ, cho nên, khi Hoàng Cầm xách balô về ở với bà, rất nhiều người nói là nhà thơ "bị lừa".
Còn theo như ông cựu Trưởng đoàn Văn công kể lại, thì ngay từ lúc đó, rất nhiều người là cấp trên đã không ưa cuộc hôn nhân này, vì bà Yến được xếp vào loại công chức cũ và họ nghĩ, nhà thơ lấy bà chỉ vì mê sắc đẹp. Và điều này, theo nhà thơ, chưa chắc đã không liên quan gì đến vụ Nhân văn – Giai phẩm sau này…
(Còn tiếp)
_____________________________________________
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)