Hoàng Cầm, Tên khai sinh: Bùi Tằng Việt, sinh ngày 22 tháng 2 năm 1922, tại Bắc Giang, quê gốc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Hiện sống ở Hà Nội. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1957), mất ngày 6.5.2010 tại Hà Nội.
Tác phẩm xuất bản: “Hận ngày xanh” (phóng tác theo Lamartine 1940); “Bông sen trắng” (phóng tác theo Andersen 1940); “Cây đèn thần” (phóng tác theo “Nghìn lẻ một đêm”, 1941); “Tỉnh giấc mơ vua” (phóng tác theo “Nghìn lẻ một đêm”, 1942); “Thoi mộng” (truyện vừa, 1941); “Hận Nam Quan” (kịch thơ, 1944, 1942); Bốn truyện ngắn (đăng tiểu thuyết thứ bảy từ 1930 đến 1943);
“Ông cụ Liên” (kịch nói, 1952); “Đêm Lào Cai” (kịch nói 3 hồi, 1957); “Tiếng hát quan họ” (trường ca, in chung trong tập Cửa Biển, 1956);
“Những niềm tin” (thơ dịch của Bonalan Kanfa - Algérie, 1965); “Men đá vàng” (truyện thơ, 1989); “Tương lai” (kịch thơ, 1995); “Kiều Loan” (kịch thơ 3 hồi, 1992); “Mưa Thuận Thành” (tập thơ, 1991); “Lá diêu bông” (tập thơ, 1993); “Bên kia sông Đuống” (tập thơ chọn lọc, 1993); “Về Kinh Bắc” (tập thơ, 1994); “99 tình khúc” (tập thơ tình, 1995) và một số tập thơ, văn khác.
Mưa Thuận Thành
Nhớ mưa Thuận Thành
Long lanh mắt ướt
Là mưa ái phi
Tơ tằm óng chuốt
Ngón tay trắng nuột
Nâng bồng Thiên Thai
Mưa chạm ngõ ngoài
Chùm cau tóc xoã
Miệng cười kẽ lá
Mưa nhoà gương soi
Phủ Chúa mưa lơi
Cung Vua mưa chơi
Lên ngôi Hoàng hậu
Cứ mưa Thuận Thành
Giọt mưa chưa đậu
Vai trần Ỷ lan
Mưa còn khép nép
Nhẹ rung tơ đàn
Lách qua cửa hẹp
Mưa càng chứa chan
Ngoài bến Luy Lâu
Tóc mưa nghiêng đầu
Vành khăn lỏng lẻo
Hạt mưa chèo bẻo
Nhạt nắng xiên khoai
Hạt mưa hoa nhài
Tàn đêm kỹ nữ
Hạt mưa sành sứ
Vỡ gạch Bát Tràng
Hai mảnh đa mang
Chiều khô lá ngải
Mưa gái thương chồng
Ướt đầm nắng quái
Sang đò cạn sông
Mưa chuông chùa lặn
Về bến trai tơ
Chùa Dâu ni cô
Sao còn thẩn thơ
Sao còn ngơ ngẩn
Không về kinh đô
Mưa ngồi cổng vắng
Mưa nằm lẳng lặng
Hỏi gì xin thưa
Nhớ lụa mưa lùa
Sồi non yếm tơ
Thuận Thành đang mưa...
+++
Bên kia sông Đuống
(Trích)
Em ơi! Buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ
Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay
Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
..........
Ai về bên kia sông Đuống
Cho ta gửi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên
Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai
Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu
Những nàng môi cắn chỉ quết trầu
Những cụ già phơ phơ tóc trắng
Những em xột xoạt quần nâu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?
Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu toả nắng
Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen
Bãi Tràm chỉ người dăng tơ nghẽn lối
Những nàng dệt sợi
Đi bán lụa màu
Những người thợ nhuộm
Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?
..........
Đêm đi sâu quá lòng sông Đuống
Bộ đội bên sông đã trở về
Con bắt đầu xuất kích
Trại giặc bắt đầu run trong sương
………
Bao giờ về bên kia sông Đuống
Anh lại tìm em
Em mặc yếm thắm
Em thắt lụa hồng
Em đi trảy hội non sông
Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh
Việt Bắc tháng 4.1948
+++
Cuộc lưu đày vương giả
(Nhớ chuyện Công chúa Huyền Trân, đời nhà Trần)
Một đi biền biệt về Nam
Như rơi một đoá hoa vàng giữa xuân
Ý hoàng gia dám ngại ngần
Một vì nghiệp đế trăm lần dân thương
Lên xe có kịp mẹ ôm?
Người yêu có kịp lệ buồn chia xa?
Một thân thui thủi quan hà
Bốn phương mây trắng nắng nhoà quê hương
Khóc sao dềnh sóng đại dương?
Hận sao nghi ngút Trường Sơn nghìn trùng?
Đi bao giờ tới cõi không?
Đồ Bàn đâu biết tận cùng hư vô?
Hai châu Ô Lý hoang sơ
Nâng chân Công chúa sạt bờ chiến chinh
Biên cương rộng mơ thanh bình
Hỏi sao hoàng hậu Chiêm Thành hoá câm?
Tên phố giờ cũng xa xăm
Còn ai sẻ nỗi đau thầm nghìn xưa?
Mùa lạnh 2005
++
Theo đuổi
Em ơi thử đếm mấy giêng hai
Đêm hội Lim về
đê quai rảo bước
Đuổi tà lụa nhạt
ánh trăng đầm thấm đường sương
Ấy bởi thương em
vườn khô bỏ ngỏ
Gió vào ra bưởi trụi hồng thui
Ấy bởi thương em
mái nhà um cỏ
Chim vào ra vách đứng cột ngồi
Em về đồng chiêm đất rạn chân chim
Em đi mưa ngâu nước ngập đồi chè
Hồ nghe đêm hội ới a
Lại xót mắt em mi trường khép bóng
Lòng tay êm mái rừng tơ xa
Lại xót tay anh đêm trường ru võng
Rừng chân mây chưa động sấm quê nhà
Chân em dài đi không biết mỏi
Má em hồng em lại nổi
đồng mùa nước lụt mênh mông
Lưng thon thon cắm sào em đợi
Đào giếng sâu rồi
đừng lấp vội đầu xanh
Lý lý ơi khát khô cả giọng
Tình tình ơi chớ động mành thưa
Chìa vôi quệt gió hững hờ
Bờ ao sáo tắm bây giờ…
… hở em.
Quả vườn ổi
Nằm trên bãi cát thư tâm
Sông nước sinh thuyền Em đẩy tới
Có gió có buồm có dòng có lái
Trách gì ai xô giạt đến bờ hoang
Em mười hai tuổi tìm theo Chị
Qua cầu bà Sấm bến cô Mưa
Đi…
ngày tháng lui
tìm không thấy
Giải yếm lòng chai mải phất cờ
Cách nhà ba bước vào vườn ổi
chị xoạc cành ngang
em gốc cây
- Xin Chị một quả chín!
- Quả chín quá tầm tay
- Xin Chị một quả ương!
- Quả ương chim khoét thủng
Lẽo đẽo Em đi vườn mai sau
Cúi nhặt chiều mưa dăm quả rụng.
+++
Về với ta
Ta con bê vàng lạc dáng chiều xanh
đi mãi tìm sim chẳng chín
Ta lên đồi thông nằm miếu Hai Cô
gặm cỏ mưa phùn
Dóng dả gọi về đồng sương
đôi ba người lận đận
Đêm nay mẹ chẳng về chuồng
Ta con chào mào khát nước
Về vườn xưa hạt nhãn đã đâm mầm
Cây ổi giơ xương
chống đỡ mùa đông
xập về đánh úp
Ô này tám đỏ ra hoa
Ta con chim cu
về gù rặng tre
đưa nắng ấu thơ
về sân đất trắng
đưa mây lành những phương trời lạ
về tụ nóc cây rơm
Ta ru em
Lớn lên em đừng tìm mẹ
phía cơn mưa
Ta con phù du ao trời chật chội
đứng cánh bèo đo gió lặng tìm sao
Uống nước mắt con vành khuyên nhớ tổ
vừa rụng chiều nay
dềnh mặt nước hương sen
Ta soi
chỉ còn ta đạp lùi tinh tú
Ngủ say rồi
đôi cá đòng đong
+++
Ngủ vỉa hè
Thường đêm đày đoạ tấm thân
Để trong đói khát được gần em hơn
Dưới hiên mê chập ngủ chờn
Nghe anh xẩm nối giọng đờn đứt dây
Sương khuya mèo rú mái tây
Thôi Oanh Oanh rẽ lối này được không?
Bỗng dưng nước mắt ròng ròng
Hoá ra em trói chặt vòng tay anh
Đêm đi chậm quá không đành
Xích lô máy lạnh tung hoành…cơn đau…
Nhà em đâu? Anh ngủ đâu?
Ổ gà hạnh phúc giục mau gập ghềnh
Xe đời bẹp bánh chông chênh
- Vá cho tôi!
- Nắn lại vành mê si
__________________________________________________
_____________________________________________________________
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà thơ Hoàng Cầm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà thơ Hoàng Cầm. Hiển thị tất cả bài đăng
Chủ Nhật, 30 tháng 5, 2010
Thứ Bảy, 8 tháng 5, 2010
Thi sĩ Hoàng Cầm - Nghĩ lúc nằm im
Nguyễn Thị Ngọc Hải
trò chuyện với
Nguyễn Thị Ngọc Hải
Hoàng Cầm – người thơ mang vị thuốc đắng ấy bây giờ lúc ngồi lúc nằm. Nếu không, phải chống tay thế này. Ngã gãy mất xương đùi trái. Đã 86 tuổi, bây giờ chàng thi sĩ đa tình và tài hoa xứ Kinh Bắc nằm yên một chỗ. Nhưng hễ có bạn bè lên thì vẫn nụ cười “ như mùa thu toả nắng”.
Bây giờ chắc ông khó mà đưa em nào buồn về bên kia sông Đuống như ngày xưa nữa rồi?
(Cười) Gãy chân đã 5 năm. Bác sĩ bảo mổ. Không. Thôi, què thế cũng được rồi. 24/24 giờ xoay xỏa mãi một kiểu nằm ở cái giường. Đám Thuỵ Kha, Trọng Tạo bảo thơ nó vận vào đó. Suốt đời “nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ” như sông Đuống. Vậy mà tôi vừa về quê năm ngoái đấy.
Đi đứng thế nào ạ?
Ngồi xe lăn. Ô tô thuê. Về làng Lạc Thổ - Đông Hồ, còn một ông anh con bác ruột. Vài người bạn cũng thành cụ cả rồi. Yếu. Gặp nhau mừng lắm. Tôi về cùng các con dự giỗ tổ họ Bùi.
Bên kia sông Đuống vẫn xanh bãi mía bờ dâu, những cô hàng xén, những nàng dệt sợi đi bán lụa màu, những em sột soạt quần nâu.. giờ thay đổi nhiều lắm phải không ạ? Có còn “dấu vết” gì không?
Làng ấy nửa buôn bán nửa nông nghiệp, xưa nay vẫn thế. Đi chợ này chợ khác, không hẳn thuần tuý là cái làng Việt Nam. Tranh Đông Hồ thì xóm bên cạnh Tết vẫn làm. Vẫn con lợn con gà, đám cưới chuột.
Vậy làng còn đẹp như trong thơ không?
Nó đẹp hay không tự mình. Lúc nào tôi cũng thấy nó đẹp. Nhưng bến đò không còn cảm giác quê hương. Hai bên bờ đã khác. Văn minh hơn. Bến đò nay xây cầu sắt hẳn hoi, tiện cho dân. Mất thơ mộng, chả có cảm xúc gì. Chỉ thấy văn minh.
Thưa, thấy văn minh là cảm xúc…
Trước bến đò không nhà tầng bên sông, chỉ đi bộ xuống. Bây giờ thông thống cả. Mất đi không khí quê cũ. Chỉ cần một ngôi nhà ngói chen vào là hỏng rồi. Mất cái gì không biết, chỉ thấy mất. Đã gọi là bến mà, phải chờ phải đậu. Xưa có quán tạm để người chờ vào đó uống nước. Bây giờ có cầu, tất nhiên bến đò mất đi không phải chờ, vào đó uống nước làm quái gì. Văn minh phá không khí. Trẻ không có kỷ niệm. Càng già kỷ niệm càng gay gắt.
Trẻ lại có kỷ niệm khác chứ thưa ông. Nói họ không có kỷ niệm e là họ không đồng ý?
Kỷ niệm là cái đã qua, bao giờ cũng trôi về thuở ấu thơ ấy chứ. Bọn trẻ có kỷ niệm giống nhau hết cả. Thí dụ một anh 20 thì kỷ niệm của anh ta hồi 7-8 tuổi làm gì có nữa. Lúc đó bắt đầu đổi mới rồi. Không có thời gian, lấy đâu ra kỷ niệm. Mà họ giống nhau: Cùng được bố mẹ nuôi, sống ở thành phố,
Nhưng bây giờ tâm tưởng họ khác, phong phú nhiều bề, bận rộn, căng thẳng lắm chứ đâu có thong dong suy ngẫm kỷ niệm?
Cứ lấy thí dụ con cái thân thiết của gia đình mỗi nhà mà xem. Tâm tưởng thì chúng nó nghèo lắm đấy. Con tôi chẳng hạn, ngoan giỏi, yêu kính bố. Nhưng tập thơ tôi in ra. Sáng dậy nó còn ngủ. Tôi để cuốn thơ đầu giường, ngay mang tai nó, dậy nhất định thấy liền. Nó: Ờ, hay quá. Bố mới xuất bản ạ. Rồi giở lướt ra: In đẹp đấy nhỉ. Rồi để lại chỗ cũ, không cầm đi theo. Không có gì nó quý.
Vậy nó “quý” gì?
Bố có khách, nó quý người khách lắm. Họ nói chuyện thơ là nó thích, dù nó bận không nghe. Nó quý bạn thơ của bố mà chưa biết quý thơ. Đứa nào cũng phải tính làm ăn. Có tiền nuôi vợ con khá lên. Thời đại nó thế mất rồi. Giỗ vợ tôi mà đông khách khứa, bạn bè thăm bố, nó phấn khởi. Nhưng nghĩ ít. Hay là nó nghĩ gì không biết.
Con cháu có thuộc thơ ông không – cả nước phải học, vừa rồi cũng lại “Bên kia sông Đuống” là đề thi Văn mà?
Con cháu tôi đều đức độ, không phải loại vô học nhưng nó không quan tâm lắm dù cũng đã học qua rồi, bài của bố nó là tác giả. Nhưng đứa cháu lại thuộc, con chị học bên Hà Lan thì sưu tầm cẩn thận lắm.
Bài “Bên kia sông Đuống” dài lắm, đọc lên khi nào cũng nao lòng. Ông còn thuộc khômg?
Đây này, tôi sẽ đọc …(Ông đọc liền tới hơn 100 câu thì ngừng), như thế là mệt rồi. Giọng bây giờ nó cũng hỏng rồi. Hay gì. Trước sang sảng, nay có lúc khản hẳn.
Mặc dù có nhiều tác phẩm, ông có thể kể lại những cảm xúc nao lòng em oi buồn làm chi, anh đưa em về sông Đuống… làm rung động nhiều thế hệ?
Chuyện này nghiên cứu văn học có phân tích nhiều nhưng tôi vẫn sẽ nói thêm cái cảm giác của một đêm khuya năm 1948 ở khu 12 Phú Bình Thái Nguyên. Mấy anh cán bộ Nam sông Đuống lên báo cáo tình hình Pháp chiến. Tư lệnh Lê Quảng Ba mời tôi sang nghe.
Lúc đó tôi thành lập một đội văn công nhỏ. Tôi nghe họ báo cáo ở Thuận Thành, Lang Tài, La Lương, nó bắt bao người, bắt bao nhà. Đêm về nghe rõ ràng giọng chính mình vang lên mấy câu đầu “Em ơi buồn làm chi…” nó trào ra rất nhanh. Không phải nghĩ nữa. Âm điệu chữ nghĩa cứ tuôn ra. Thương quê mình quá.
Nghe nói hồi đó ông cứ phải ngồi đọc cho các cán bộ ở Côn Đảo, Phú Quốc, Campuchia về hội nghị ở Việt Bắc chép bài thơ đó. Sau nó được in ở báo Cứu Quốc. Ông còn giữ tờ báo đó không?
Chiến tranh loạn lạc, làm gì còn.
Theo ông, cái gì làm cho khung cảnh một làng quê ông sống mãi trong mọi tâm hồn?
Gắn lòng với dân tộc, thương quê. Cái gì nói lên được quê hương và những người quê hương sẽ trường tồn. Đó là một quy luật.
Nhưng có thời hình như nó bị cấm?
Lúc đó tôi nghĩ: cứ cấm đi, chỉ 10 năm nó sẽ sống lại… Ai không gì dìm cho nó “chết” được.
Ông sống rất lâu ở Hà Nội, nhưng lại không làm thơ về Hà Nội?
Tôi ở từ năm 1941-1942 khi diễn vở “Kiều Loan”. Lúc đó mới biết Hà Nội nó ở chỗ nào. Không biết thích gì ở Hà Nội. Vì nó ít kỷ niệm, hoặc kỷ niệm không đáng nhớ lắm. Cũng đi học, đi thi…
Bây giờ những tứ thơ còn đến với thi sĩ nữa không?
Thơ đầy bụng nhưng không viết được. Chỉ 3 phút là tư tưởng loãng, rối dần. Biết thôi hết rồi.
Thì ghi âm, hoặc gọi con cháu ghi giùm, không thì phí quá.
Phải nhớ, là rắc rối rồi.
Vậy phải nằm suốt ngày, nhà thơ nghĩ gì?
Không có một việc gì để làm cả. Nghĩ về dĩ vãng, công việc, vợ con, bạn bè. Chỉ thoáng thôi. Nhớ giờ không sâu nữa.
Kể cả nhiều mối tình đã từng say đắm, thi sĩ đa tình cũng quên hết sao?
13 người gia nhân – kể những người có “thành tích” tên tuổi. Linh tinh không dễ. Hầu như họ ở Sài Gòn hoặc tản mạn đi đâu hết.
Ông nằm trên tầng lầu cao nhất của ngôi nhà gần sát nhà thờ lớn. Hàng ngày nghe tiếng chuông có gợi nhiều buồn vui, dĩ vãng?
Chuông nhà thờ ở thàmh phố không thể nào sánh với chuông chùa vùng quê. Xâm xẩm chiều buông, tiếng chuông chùa quê Việt Nam nó ghê lắm. Từng tiếng một, tắt hẳn dư âm mới tiếp tiếng khác, chìm dần, đưa vào cõi không. Vời vợi rồi chìm hết. Nghe tiếng chuông chùa ở nhà quê mới hay. Chùa Quán Sứ cũng có, nhưng nó ở thành phố, không thực không khí Việt Nam. Muốn hưởng cái hay phải ở nhà quê yên tĩnh. Mà phải nghèo.
Sao vậy ạ?
Nghèo – cảm thấy hư vô không còn gì cả. Tiếng chuông chùa lên là thôi, tan dần, mới thật là Phật. Chuông nhà thờ buồn chiều một tí, nhưng chuông chùa ở nhà quê đưa người ta hiểu đúng thế nào là hư vô.
Nằm “trên trời” thế này ông có theo thời sự không ạ?
Đọc báo. Xem TV cả ngày phát chán. Giá lên. Có cảm giác nhân loại này TV Việt Nam nói nhiều nhất thế giới. Thấy nói thừa nhiều quá. Mà các ông đi thăm chỗ này chỗ kia, chả thấy nói ông ấy làm gì, bàn gì không biết.
Cuộc sống sinh hoạt hiện nay của ông thế nào ạ?
Ăn cháo với thịt băm. Củ cải dầm ăn được. Còn thuốc lào thì không kể được. Anh Nguyễn Đình Toán còn nhớ đấy. Năm 1993 vào Huế, ông Hải Bằng về nhà chặt tre làm điếu đem đến không kịp. Chúng tôi ra đến Quảng Trị nhờ trẻ con đi mua điếu không có. Một lần ra sân bay, Toán uống bia xong đục cái vỏ lon bia làm điếu.
Hút vậy hại sức khoẻ lắm.
Câu ấy ai cũng nói. Nhưng nó theo cả đời rồi. Mình phải cầm đóm lấy mới ngon, Để người châm hộ không ngon.
Thật ra sống đủ rồi, không muốn sống đau ốm, thế nên cho trách giời một tí.
_____________________________________________
trò chuyện với
Nguyễn Thị Ngọc Hải
Hoàng Cầm – người thơ mang vị thuốc đắng ấy bây giờ lúc ngồi lúc nằm. Nếu không, phải chống tay thế này. Ngã gãy mất xương đùi trái. Đã 86 tuổi, bây giờ chàng thi sĩ đa tình và tài hoa xứ Kinh Bắc nằm yên một chỗ. Nhưng hễ có bạn bè lên thì vẫn nụ cười “ như mùa thu toả nắng”.
Bây giờ chắc ông khó mà đưa em nào buồn về bên kia sông Đuống như ngày xưa nữa rồi?
(Cười) Gãy chân đã 5 năm. Bác sĩ bảo mổ. Không. Thôi, què thế cũng được rồi. 24/24 giờ xoay xỏa mãi một kiểu nằm ở cái giường. Đám Thuỵ Kha, Trọng Tạo bảo thơ nó vận vào đó. Suốt đời “nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ” như sông Đuống. Vậy mà tôi vừa về quê năm ngoái đấy.
Đi đứng thế nào ạ?
Ngồi xe lăn. Ô tô thuê. Về làng Lạc Thổ - Đông Hồ, còn một ông anh con bác ruột. Vài người bạn cũng thành cụ cả rồi. Yếu. Gặp nhau mừng lắm. Tôi về cùng các con dự giỗ tổ họ Bùi.
Bên kia sông Đuống vẫn xanh bãi mía bờ dâu, những cô hàng xén, những nàng dệt sợi đi bán lụa màu, những em sột soạt quần nâu.. giờ thay đổi nhiều lắm phải không ạ? Có còn “dấu vết” gì không?
Làng ấy nửa buôn bán nửa nông nghiệp, xưa nay vẫn thế. Đi chợ này chợ khác, không hẳn thuần tuý là cái làng Việt Nam. Tranh Đông Hồ thì xóm bên cạnh Tết vẫn làm. Vẫn con lợn con gà, đám cưới chuột.
Vậy làng còn đẹp như trong thơ không?
Nó đẹp hay không tự mình. Lúc nào tôi cũng thấy nó đẹp. Nhưng bến đò không còn cảm giác quê hương. Hai bên bờ đã khác. Văn minh hơn. Bến đò nay xây cầu sắt hẳn hoi, tiện cho dân. Mất thơ mộng, chả có cảm xúc gì. Chỉ thấy văn minh.
Thưa, thấy văn minh là cảm xúc…
Trước bến đò không nhà tầng bên sông, chỉ đi bộ xuống. Bây giờ thông thống cả. Mất đi không khí quê cũ. Chỉ cần một ngôi nhà ngói chen vào là hỏng rồi. Mất cái gì không biết, chỉ thấy mất. Đã gọi là bến mà, phải chờ phải đậu. Xưa có quán tạm để người chờ vào đó uống nước. Bây giờ có cầu, tất nhiên bến đò mất đi không phải chờ, vào đó uống nước làm quái gì. Văn minh phá không khí. Trẻ không có kỷ niệm. Càng già kỷ niệm càng gay gắt.
Trẻ lại có kỷ niệm khác chứ thưa ông. Nói họ không có kỷ niệm e là họ không đồng ý?
Kỷ niệm là cái đã qua, bao giờ cũng trôi về thuở ấu thơ ấy chứ. Bọn trẻ có kỷ niệm giống nhau hết cả. Thí dụ một anh 20 thì kỷ niệm của anh ta hồi 7-8 tuổi làm gì có nữa. Lúc đó bắt đầu đổi mới rồi. Không có thời gian, lấy đâu ra kỷ niệm. Mà họ giống nhau: Cùng được bố mẹ nuôi, sống ở thành phố,
Nhưng bây giờ tâm tưởng họ khác, phong phú nhiều bề, bận rộn, căng thẳng lắm chứ đâu có thong dong suy ngẫm kỷ niệm?
Cứ lấy thí dụ con cái thân thiết của gia đình mỗi nhà mà xem. Tâm tưởng thì chúng nó nghèo lắm đấy. Con tôi chẳng hạn, ngoan giỏi, yêu kính bố. Nhưng tập thơ tôi in ra. Sáng dậy nó còn ngủ. Tôi để cuốn thơ đầu giường, ngay mang tai nó, dậy nhất định thấy liền. Nó: Ờ, hay quá. Bố mới xuất bản ạ. Rồi giở lướt ra: In đẹp đấy nhỉ. Rồi để lại chỗ cũ, không cầm đi theo. Không có gì nó quý.
Vậy nó “quý” gì?
Bố có khách, nó quý người khách lắm. Họ nói chuyện thơ là nó thích, dù nó bận không nghe. Nó quý bạn thơ của bố mà chưa biết quý thơ. Đứa nào cũng phải tính làm ăn. Có tiền nuôi vợ con khá lên. Thời đại nó thế mất rồi. Giỗ vợ tôi mà đông khách khứa, bạn bè thăm bố, nó phấn khởi. Nhưng nghĩ ít. Hay là nó nghĩ gì không biết.
Con cháu có thuộc thơ ông không – cả nước phải học, vừa rồi cũng lại “Bên kia sông Đuống” là đề thi Văn mà?
Con cháu tôi đều đức độ, không phải loại vô học nhưng nó không quan tâm lắm dù cũng đã học qua rồi, bài của bố nó là tác giả. Nhưng đứa cháu lại thuộc, con chị học bên Hà Lan thì sưu tầm cẩn thận lắm.
Bài “Bên kia sông Đuống” dài lắm, đọc lên khi nào cũng nao lòng. Ông còn thuộc khômg?
Đây này, tôi sẽ đọc …(Ông đọc liền tới hơn 100 câu thì ngừng), như thế là mệt rồi. Giọng bây giờ nó cũng hỏng rồi. Hay gì. Trước sang sảng, nay có lúc khản hẳn.
Mặc dù có nhiều tác phẩm, ông có thể kể lại những cảm xúc nao lòng em oi buồn làm chi, anh đưa em về sông Đuống… làm rung động nhiều thế hệ?
Chuyện này nghiên cứu văn học có phân tích nhiều nhưng tôi vẫn sẽ nói thêm cái cảm giác của một đêm khuya năm 1948 ở khu 12 Phú Bình Thái Nguyên. Mấy anh cán bộ Nam sông Đuống lên báo cáo tình hình Pháp chiến. Tư lệnh Lê Quảng Ba mời tôi sang nghe.
Lúc đó tôi thành lập một đội văn công nhỏ. Tôi nghe họ báo cáo ở Thuận Thành, Lang Tài, La Lương, nó bắt bao người, bắt bao nhà. Đêm về nghe rõ ràng giọng chính mình vang lên mấy câu đầu “Em ơi buồn làm chi…” nó trào ra rất nhanh. Không phải nghĩ nữa. Âm điệu chữ nghĩa cứ tuôn ra. Thương quê mình quá.
Nghe nói hồi đó ông cứ phải ngồi đọc cho các cán bộ ở Côn Đảo, Phú Quốc, Campuchia về hội nghị ở Việt Bắc chép bài thơ đó. Sau nó được in ở báo Cứu Quốc. Ông còn giữ tờ báo đó không?
Chiến tranh loạn lạc, làm gì còn.
Theo ông, cái gì làm cho khung cảnh một làng quê ông sống mãi trong mọi tâm hồn?
Gắn lòng với dân tộc, thương quê. Cái gì nói lên được quê hương và những người quê hương sẽ trường tồn. Đó là một quy luật.
Nhưng có thời hình như nó bị cấm?
Lúc đó tôi nghĩ: cứ cấm đi, chỉ 10 năm nó sẽ sống lại… Ai không gì dìm cho nó “chết” được.
Ông sống rất lâu ở Hà Nội, nhưng lại không làm thơ về Hà Nội?
Tôi ở từ năm 1941-1942 khi diễn vở “Kiều Loan”. Lúc đó mới biết Hà Nội nó ở chỗ nào. Không biết thích gì ở Hà Nội. Vì nó ít kỷ niệm, hoặc kỷ niệm không đáng nhớ lắm. Cũng đi học, đi thi…
Bây giờ những tứ thơ còn đến với thi sĩ nữa không?
Thơ đầy bụng nhưng không viết được. Chỉ 3 phút là tư tưởng loãng, rối dần. Biết thôi hết rồi.
Thì ghi âm, hoặc gọi con cháu ghi giùm, không thì phí quá.
Phải nhớ, là rắc rối rồi.
Vậy phải nằm suốt ngày, nhà thơ nghĩ gì?
Không có một việc gì để làm cả. Nghĩ về dĩ vãng, công việc, vợ con, bạn bè. Chỉ thoáng thôi. Nhớ giờ không sâu nữa.
Kể cả nhiều mối tình đã từng say đắm, thi sĩ đa tình cũng quên hết sao?
13 người gia nhân – kể những người có “thành tích” tên tuổi. Linh tinh không dễ. Hầu như họ ở Sài Gòn hoặc tản mạn đi đâu hết.
Ông nằm trên tầng lầu cao nhất của ngôi nhà gần sát nhà thờ lớn. Hàng ngày nghe tiếng chuông có gợi nhiều buồn vui, dĩ vãng?
Chuông nhà thờ ở thàmh phố không thể nào sánh với chuông chùa vùng quê. Xâm xẩm chiều buông, tiếng chuông chùa quê Việt Nam nó ghê lắm. Từng tiếng một, tắt hẳn dư âm mới tiếp tiếng khác, chìm dần, đưa vào cõi không. Vời vợi rồi chìm hết. Nghe tiếng chuông chùa ở nhà quê mới hay. Chùa Quán Sứ cũng có, nhưng nó ở thành phố, không thực không khí Việt Nam. Muốn hưởng cái hay phải ở nhà quê yên tĩnh. Mà phải nghèo.
Sao vậy ạ?
Nghèo – cảm thấy hư vô không còn gì cả. Tiếng chuông chùa lên là thôi, tan dần, mới thật là Phật. Chuông nhà thờ buồn chiều một tí, nhưng chuông chùa ở nhà quê đưa người ta hiểu đúng thế nào là hư vô.
Nằm “trên trời” thế này ông có theo thời sự không ạ?
Đọc báo. Xem TV cả ngày phát chán. Giá lên. Có cảm giác nhân loại này TV Việt Nam nói nhiều nhất thế giới. Thấy nói thừa nhiều quá. Mà các ông đi thăm chỗ này chỗ kia, chả thấy nói ông ấy làm gì, bàn gì không biết.
Cuộc sống sinh hoạt hiện nay của ông thế nào ạ?
Ăn cháo với thịt băm. Củ cải dầm ăn được. Còn thuốc lào thì không kể được. Anh Nguyễn Đình Toán còn nhớ đấy. Năm 1993 vào Huế, ông Hải Bằng về nhà chặt tre làm điếu đem đến không kịp. Chúng tôi ra đến Quảng Trị nhờ trẻ con đi mua điếu không có. Một lần ra sân bay, Toán uống bia xong đục cái vỏ lon bia làm điếu.
Hút vậy hại sức khoẻ lắm.
Câu ấy ai cũng nói. Nhưng nó theo cả đời rồi. Mình phải cầm đóm lấy mới ngon, Để người châm hộ không ngon.
Thật ra sống đủ rồi, không muốn sống đau ốm, thế nên cho trách giời một tí.
_____________________________________________
Thứ Sáu, 7 tháng 5, 2010
Thi sĩ Hoàng Cầm quay về lãng đãng bến sông xa
LÊ THIẾU NHƠN
Nghe tin đồng nghiệp báo thi sĩ Hoàng Cầm vừa trút hơi thở cuối cùng vào lúc 9 giờ sáng ngày 6-5-2010, trong tôi nhen lên chút cảm giác nghèn nghẹn. Không phải sự ngạc nhiên, cũng không phải sự nuối tiếc, mà giống sự đắng đót rối bời. Cách đây 5 năm, tôi ghé thăm đã thấy sức khỏe ông rất yếu. Hình ảnh tác giả của những bài thơ lừng lẫy nằm co ro trong tấm chăn mỏng nơi một căn gác nhỏ, khiến tôi không khỏi xót xa.
Đành rằng, trời cho sống thêm một ngày là phúc đức thêm một ngày, nhưng cuộc chống chọi giữa Hoàng Cầm và không gian cô độc vắng lặng xung quanh có lẽ đã quá sức chịu đựng của ông. Gặp khách tri âm, Hoàng Cầm gắng gượng ngồi dậy đọc thơ, đôi mắt ươn ướt thỉnh thoảng ứa lệ và chất giọng ngọt mềm đứt quãng của ông cứ ám ảnh tôi về buổi hoàng hôn tài hoa sầu muộn.
Hôm tao ngộ ấy, Hoàng Cầm lặp đi lặp lại câu nói “Bây giờ một ngày dài quá!” vẫn làm tôi xao xác mỗi lần nhớ lại. Và từ đó đến nay, cũng chính câu nói gần như nỗi tuyệt vọng kia đã ngăn bàn chân tôi mỗi khi có dịp ra Hà Nội dự định ghé qua số 43 Lý Quốc Sư tìm ông. Thực sự tôi ái ngại nếu thoáng gặp nét mặt nửa mê nửa tỉnh của ông trong chập chờn câu thơ “sao xót xa như rụng bàn tay” mà ông đã viết từ năm 1948!
Năm 26 tuổi, bài thơ “Bên kia sông Đuống” đã đưa chàng trai Bùi Tằng Việt, có bút danh Hoàng Cầm, lên hàng thi sĩ tiêu biểu nhất trong kháng chiến chống Pháp. 62 năm trôi qua, bao thế hệ người Việt đã được nâng niu, được sưởi ấm bằng những lời thơ nồng nàn: “Ai về bên kia sông Đuống/ Cho ta gửi tấm the đen/ Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên… Ai về bên kia sông Đuống/ Có nhớ từng khuôn mặt búp sen/ Những cô hàng xén răng đen/ Cười như mùa thu tỏa nắng… Chưa bán được một đồng/ Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong/ Bước cao thấp trên bờ tre hun hút/ Có con cò trắng bay vùn vụt/ Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu?/Mẹ ta lòng đói dạ sầu/ Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ”. Và công chúng có quyền tin rằng, bài thơ “Bên kia sông Đuống” sẽ tiếp tục thay mặt Hoàng Cầm ở lại với nhân gian.
Không chỉ kiến tạo sông Đuống “một dòng lấp lánh, nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ”, Hoàng Cầm còn sáng tác ra một thứ lá không có trên đời, mà ngày nay đã trở thành biểu tượng tình yêu: Lá Diêu Bông! Nhạc sĩ Trần Tiến mượn chiếc lá độc đáo này để kêu gọi kế hoạch hóa gia đình “lấy chồng sớm làm gì, để lời ru thêm buồn”, còn thần thái “Lá Diêu Bông” của Hoàng Cầm tiệm cận một thứ tình yêu khác, mê hoặc hơn, quyến rũ hơn, huyền ảo hơn: “Từ thuở ấy/ Em cầm chiếc lá/ đi đầu non cuối bể/ Gió quê vi vút gọi/ Diêu bông hời…ới diêu bông…!”.
Hoàng Cầm luôn tin thơ đến từ một xứ sở mầu nhiệm. Ông không ngần ngại thổ lộ rằng, những bài thơ thành công nhất của ông đều nhờ ghi chép lại từng câu, từng chữ như vọng về từ một giọng đọc bí ẩn. Phương pháp làm thơ kỳ diệu của Hoàng Cầm có lẽ tôi và nhiều người không thể cắt nghĩa được rõ ràng. Tuy nhiên, đọc chính thơ ông, chúng ta dễ dàng nhận ra những mối tình đeo đẳng suốt cuộc đời nhà thơ.
Phía sau mỗi bài thơ của Hoàng Cầm đều mờ tỏ bóng hình một người phụ nữ nết na, cam chịu. Mối tình chị - em không chỉ xuất hiện trong “Lá Diêu Bông” mà vẫn “dan díu” trong nhiều bài thơ khác của Hoàng Cầm.
Thật lạ, mối tình chị - em luôn bật ra những câu thơ đẹp ngơ ngác và buồn day dứt thường trực tự tấm lòng si mê của Hoàng Cầm, khi níu kéo khoảnh khắc “Chị em xanh” nức nở: “Vậy thì Em ngắt quãng tân hôn/ Theo Chị lùa mưa đuổi nắng buồn/ Hai đứa lung linh lơi yếm áo/ Thuyền trăng dềnh sã cánh cô đơn”, khi ngoảnh lại trò chơi “Cây tam cúc” thảng thốt: “Nghé cây bài tìm hơi tóc ấm/ Em đừng lớn nữa Chị đừng đi/ Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa/ Ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì”.
Với vóc dáng mảnh mai và mái tóc bạc trắng, Hoàng Cầm nhẹ nhàng bước qua 89 tuổi đời, nhiều vinh hiển mà cũng lắm thiệt thòi. Mỗi người có một cách nhìn về ông, nhưng ai cũng phải thừa nhận số phận lãng du và phiêu bồng của ông đã góp cho hành trang tinh thần chúng ta những câu thơ đắm đuối.
Lúc xa vắng “Về với ta”, Hoàng Cầm tự nhủ: “Ta con phù du ao trời chật chội/ đứng cánh bèo đo gió lặng tìm sao”. Nhưng trái tim ngây ngất của ông chưa bao giờ dửng dưng với cõi người bằng thái độ “Nếu anh còn trẻ” giăng mắc duyên nợ: “Nếu có ngày mai anh trở gót/ Quay về lãng đãng bến sông xa/ Thì em còn đấy hay đâu mất?/Cuối xóm buồn teo một tiếng gà…”.
Sinh ra và lớn lên ở miền quê quan họ, Hoàng Cầm đã đi cùng dân tộc suốt chiều dài “Bên kia sông Đuống”, và biết đâu hôm nay bước sang một thế giới khác ông sẽ tìm được “Lá Diêu Bông” mà ông hằng mường tượng? Bởi lẽ, với Hoàng Cầm, sự sống luôn “Nguyên hình ảo vọng” chấp chới hiện thực và huyễn mộng: “Khi lửa khói tàn đêm, dòng sông êm ái/ Tôi lại gặp em, tưởng tháng năm dài chững lại/ Em vẫn thế… thon cây mềm trái/ Tóc hong chiều còn óng tuổi mơ xanh”.
___________________________________________
Nghe tin đồng nghiệp báo thi sĩ Hoàng Cầm vừa trút hơi thở cuối cùng vào lúc 9 giờ sáng ngày 6-5-2010, trong tôi nhen lên chút cảm giác nghèn nghẹn. Không phải sự ngạc nhiên, cũng không phải sự nuối tiếc, mà giống sự đắng đót rối bời. Cách đây 5 năm, tôi ghé thăm đã thấy sức khỏe ông rất yếu. Hình ảnh tác giả của những bài thơ lừng lẫy nằm co ro trong tấm chăn mỏng nơi một căn gác nhỏ, khiến tôi không khỏi xót xa.
Đành rằng, trời cho sống thêm một ngày là phúc đức thêm một ngày, nhưng cuộc chống chọi giữa Hoàng Cầm và không gian cô độc vắng lặng xung quanh có lẽ đã quá sức chịu đựng của ông. Gặp khách tri âm, Hoàng Cầm gắng gượng ngồi dậy đọc thơ, đôi mắt ươn ướt thỉnh thoảng ứa lệ và chất giọng ngọt mềm đứt quãng của ông cứ ám ảnh tôi về buổi hoàng hôn tài hoa sầu muộn.
Hôm tao ngộ ấy, Hoàng Cầm lặp đi lặp lại câu nói “Bây giờ một ngày dài quá!” vẫn làm tôi xao xác mỗi lần nhớ lại. Và từ đó đến nay, cũng chính câu nói gần như nỗi tuyệt vọng kia đã ngăn bàn chân tôi mỗi khi có dịp ra Hà Nội dự định ghé qua số 43 Lý Quốc Sư tìm ông. Thực sự tôi ái ngại nếu thoáng gặp nét mặt nửa mê nửa tỉnh của ông trong chập chờn câu thơ “sao xót xa như rụng bàn tay” mà ông đã viết từ năm 1948!
Năm 26 tuổi, bài thơ “Bên kia sông Đuống” đã đưa chàng trai Bùi Tằng Việt, có bút danh Hoàng Cầm, lên hàng thi sĩ tiêu biểu nhất trong kháng chiến chống Pháp. 62 năm trôi qua, bao thế hệ người Việt đã được nâng niu, được sưởi ấm bằng những lời thơ nồng nàn: “Ai về bên kia sông Đuống/ Cho ta gửi tấm the đen/ Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên… Ai về bên kia sông Đuống/ Có nhớ từng khuôn mặt búp sen/ Những cô hàng xén răng đen/ Cười như mùa thu tỏa nắng… Chưa bán được một đồng/ Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong/ Bước cao thấp trên bờ tre hun hút/ Có con cò trắng bay vùn vụt/ Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu?/Mẹ ta lòng đói dạ sầu/ Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ”. Và công chúng có quyền tin rằng, bài thơ “Bên kia sông Đuống” sẽ tiếp tục thay mặt Hoàng Cầm ở lại với nhân gian.
Không chỉ kiến tạo sông Đuống “một dòng lấp lánh, nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ”, Hoàng Cầm còn sáng tác ra một thứ lá không có trên đời, mà ngày nay đã trở thành biểu tượng tình yêu: Lá Diêu Bông! Nhạc sĩ Trần Tiến mượn chiếc lá độc đáo này để kêu gọi kế hoạch hóa gia đình “lấy chồng sớm làm gì, để lời ru thêm buồn”, còn thần thái “Lá Diêu Bông” của Hoàng Cầm tiệm cận một thứ tình yêu khác, mê hoặc hơn, quyến rũ hơn, huyền ảo hơn: “Từ thuở ấy/ Em cầm chiếc lá/ đi đầu non cuối bể/ Gió quê vi vút gọi/ Diêu bông hời…ới diêu bông…!”.
Hoàng Cầm luôn tin thơ đến từ một xứ sở mầu nhiệm. Ông không ngần ngại thổ lộ rằng, những bài thơ thành công nhất của ông đều nhờ ghi chép lại từng câu, từng chữ như vọng về từ một giọng đọc bí ẩn. Phương pháp làm thơ kỳ diệu của Hoàng Cầm có lẽ tôi và nhiều người không thể cắt nghĩa được rõ ràng. Tuy nhiên, đọc chính thơ ông, chúng ta dễ dàng nhận ra những mối tình đeo đẳng suốt cuộc đời nhà thơ.
Phía sau mỗi bài thơ của Hoàng Cầm đều mờ tỏ bóng hình một người phụ nữ nết na, cam chịu. Mối tình chị - em không chỉ xuất hiện trong “Lá Diêu Bông” mà vẫn “dan díu” trong nhiều bài thơ khác của Hoàng Cầm.
Thật lạ, mối tình chị - em luôn bật ra những câu thơ đẹp ngơ ngác và buồn day dứt thường trực tự tấm lòng si mê của Hoàng Cầm, khi níu kéo khoảnh khắc “Chị em xanh” nức nở: “Vậy thì Em ngắt quãng tân hôn/ Theo Chị lùa mưa đuổi nắng buồn/ Hai đứa lung linh lơi yếm áo/ Thuyền trăng dềnh sã cánh cô đơn”, khi ngoảnh lại trò chơi “Cây tam cúc” thảng thốt: “Nghé cây bài tìm hơi tóc ấm/ Em đừng lớn nữa Chị đừng đi/ Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa/ Ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì”.
Với vóc dáng mảnh mai và mái tóc bạc trắng, Hoàng Cầm nhẹ nhàng bước qua 89 tuổi đời, nhiều vinh hiển mà cũng lắm thiệt thòi. Mỗi người có một cách nhìn về ông, nhưng ai cũng phải thừa nhận số phận lãng du và phiêu bồng của ông đã góp cho hành trang tinh thần chúng ta những câu thơ đắm đuối.
Lúc xa vắng “Về với ta”, Hoàng Cầm tự nhủ: “Ta con phù du ao trời chật chội/ đứng cánh bèo đo gió lặng tìm sao”. Nhưng trái tim ngây ngất của ông chưa bao giờ dửng dưng với cõi người bằng thái độ “Nếu anh còn trẻ” giăng mắc duyên nợ: “Nếu có ngày mai anh trở gót/ Quay về lãng đãng bến sông xa/ Thì em còn đấy hay đâu mất?/Cuối xóm buồn teo một tiếng gà…”.
Sinh ra và lớn lên ở miền quê quan họ, Hoàng Cầm đã đi cùng dân tộc suốt chiều dài “Bên kia sông Đuống”, và biết đâu hôm nay bước sang một thế giới khác ông sẽ tìm được “Lá Diêu Bông” mà ông hằng mường tượng? Bởi lẽ, với Hoàng Cầm, sự sống luôn “Nguyên hình ảo vọng” chấp chới hiện thực và huyễn mộng: “Khi lửa khói tàn đêm, dòng sông êm ái/ Tôi lại gặp em, tưởng tháng năm dài chững lại/ Em vẫn thế… thon cây mềm trái/ Tóc hong chiều còn óng tuổi mơ xanh”.
___________________________________________
Thứ Năm, 6 tháng 5, 2010
Thi sĩ "Lá diêu bông" về trời
- 9h sáng ngày 6/5/2010, thi sĩ Hoàng Cầm đã qua đời tại bệnh viện Việt Xô, hưởng thọ 88 tuổi - Nhà văn Nguyễn Quang Lập thông tin với phóng viên Bee.
Thi sĩ Hoàng Cầm có tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh ngày 22/2/1922, tại xã Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; quê gốc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Ông xuất thân trong gia đình nhà nho lâu đời. Thân sinh ông thi không đỗ, về dạy chữ Hán và làm thuốc bắc ở Bắc Giang. Tên ông được đặt ghép từ địa danh quê hương: Phúc Tằng và Việt Yên.
Ông nổi tiếng với vở kịch thơ Hận Nam Quan, Kiều Loan và các bài thơ Lá diêu bông, Bên kia sông Đuống. Bài thơ Bên kia sông Đuống được chọn vào giảng dạy trong giáo trình trung học phổ thông.
Đầu năm 2007, ông được nhà nước Việt Nam tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật do Chủ tịch nước ký quyết định tặng riêng.
Bee xin đăng lại bài thơ "Lá diêu bông" của thi sĩ Hoàng Cầm như một nén tâm nhang tưởng nhớ tới ông hoàng thơ tình của xứ Kinh bắc:
Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thơ đi tìm
Đồng chiều
Cuống rạ
Chị bảo
Đứa nào tìm được Lá Diêu bông
Từ nay ta gọi là chồng
Hai ngày Em tìm thấy Lá
Chị chau mày
Đâu phải Lá Diêu bông
Mùa đông sau Em tìm thấy Lá
Chị lắc đầu
trông nắng vãn bên sông
Ngày cưới Chị
Em tìm thấy Lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim
Chị ba con
Em tìm thấy Lá
Xòe tay phủ mặt Chị không nhìn
Từ thuở ấy
Em cầm chiếc Lá
đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu bông hời...
...ới Diêu bông...!
PV
_________________________________________
Thi sĩ Hoàng Cầm có tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh ngày 22/2/1922, tại xã Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; quê gốc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Ông xuất thân trong gia đình nhà nho lâu đời. Thân sinh ông thi không đỗ, về dạy chữ Hán và làm thuốc bắc ở Bắc Giang. Tên ông được đặt ghép từ địa danh quê hương: Phúc Tằng và Việt Yên.
Ông nổi tiếng với vở kịch thơ Hận Nam Quan, Kiều Loan và các bài thơ Lá diêu bông, Bên kia sông Đuống. Bài thơ Bên kia sông Đuống được chọn vào giảng dạy trong giáo trình trung học phổ thông.
Đầu năm 2007, ông được nhà nước Việt Nam tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật do Chủ tịch nước ký quyết định tặng riêng.
Bee xin đăng lại bài thơ "Lá diêu bông" của thi sĩ Hoàng Cầm như một nén tâm nhang tưởng nhớ tới ông hoàng thơ tình của xứ Kinh bắc:
Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thơ đi tìm
Đồng chiều
Cuống rạ
Chị bảo
Đứa nào tìm được Lá Diêu bông
Từ nay ta gọi là chồng
Hai ngày Em tìm thấy Lá
Chị chau mày
Đâu phải Lá Diêu bông
Mùa đông sau Em tìm thấy Lá
Chị lắc đầu
trông nắng vãn bên sông
Ngày cưới Chị
Em tìm thấy Lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim
Chị ba con
Em tìm thấy Lá
Xòe tay phủ mặt Chị không nhìn
Từ thuở ấy
Em cầm chiếc Lá
đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu bông hời...
...ới Diêu bông...!
PV
_________________________________________
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)